Hiển thị các bài đăng có nhãn NETWORK. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NETWORK. Hiển thị tất cả bài đăng

26 thg 4, 2008

Mail & Relay

Bài viết sau mình diễn tả quá trình gửi mail đến được đích như thế nào.
Để mail đến được đích sẽ thông qua 2 bước sau:
B1 : Xác định một thứ gọi là MX Record của mail server đích ( nói cách khác là xác định dns name và IP của SMTP server của domain đích )
B2 : server nguồn kết nối với server đích trên port 25. Dùng SMTP command gửi thư.

* Chi tiết thực hiện
B1 : Xác định thông số MX record, IP và DNS name của server
Run – cmd - Lệnh nslookup
Set type=mx
Yahoo.com ( gõ Tên domain đích ở đây )
Kết quả của 2 lệnh trên chúng ta sẽ xác định được MX record, IP và Name server của domain đích.
B2 : chúng ta dùng command để gửi message đến server đích

- Các Lệnh dưới đây phải gõ chính xác tên và khoảng trống. Nếu gõ sai thì không được nhấn nút lùi rồi gõ lại. Gõ lại nó sẽ không thực thi. Gõ sai nhấn enter để kết thúc lệnh, sau đó gõ lại đúng lệnh đó.
Các lệnh sau là các lệnh telnet vì vậy phải mở chương trình telnet và port đi kèm để có thể thực hiện lệnh.
Telnet
Set localecho
Open destIP 25 (thiết lập kết nối đến server đích)
220 ( return code ) : 220 là mã xác nhận rằng ta đã kết nối thành công ( Nếu mã trả về khác 220 nghĩa là thất bại -> gõ lại lệnh trên đến khi nào kết nối. Nếu thử nhiều lần mà thất bại có nghĩa là port 25 đã bị khóa)
Helo têndomainđích
250 (giá trị trả về thành công : số khác là thất bại -> kết nối lại lệnh Helo này tiếp đến khi thành công)
Mail from:250 (code trả về)
Rcpt to: vd : cuti@microsoft.com
250
Data (lệnh này có nghĩa là chúng ta nói với server đích rằng chúng ta bắt đầu gõ nội dung của thử bao gồm thư gửi cho ai, từ ai gửi đến, chủ đề thư và nội dung bức thư)
354 (code trả về)
To : Tí (tí là tên người nhận thư)
From : Tèo (tèo là người gửi thư)
Subject : Thư của Teo gửi cho Ti

Đây là nội dung bức thư : Vd : E khỏe không cu. Trời nóng quá ra hồ con Rùa bơi đi.
.

250 (code trả về)
- Chú ý : Giữa subject và nội dung bức thử phải có một dòng trống. Nếu viết liền thì nó sẽ hiểu đó là subject của bức thư chứ không thuộc về nội dung của bức thư.
Dấu . cuối bức thư nói với server đích rằng : nội dung thư của tôi cần gửi đã kết thúc rồi. Không có sai xót gì thi hãy trả về cho tôi code 250 để báo cho tôi biết là thư gửi thành công.

- Trong các dòng lệnh trên có những thông tin đi kèm không đòi hỏi phải chính xác 100%. Ví dụ :
1: Nội dung bức thư ta có thể chế biến
2: địa chỉ email người gửi là mình ->mình có thể bịa ra cái domain giả thế nào chả được vì mục đích ở đây ta đang nói việc gửi mail chứ không nhận mail -> thông tin trên không quan trọng. Đây là lí do tại sao mà mạng nội bộ hay ngồi ngoài phòng net ta có thể gửi cho địa chỉ mail yahoo, gmail của mình. Yahoo mail sẽ kiểm tra Ipwan của bức thư. Nếu IP này không nằm trong blacklist nó sẽ cho vào bulk (điều này là hiển nhiên – IP động mà lị). Còn nếu nằm trong bộ lọc của nó hoặc trong blacklist nó sẽ drop bức thư.

- Với các bước trên là chúng ta có thể gửi thư được rồi. Nhưng không lẽ chúng ta bắt người dùng phải nhớ từng ấy thứ để gửi một bức thư. Cái họ cần là một công cụ tích hợp sẵn các lệnh trên, đi kèm là một giao diện sáng sủa và đẹp mắt để họ soạn thư và gửi dễ dàng chỉ bằng cách nhấn nút SEND. Công cụ đó chính là các trình duyệt mail (Outlookup Express, Microsoft Outlook …). Mình s/d OE để minh họa.
Bật OE :
+ Menu tool – account – tab mail – nút add – chọn mail
Display name : Tên này chúng ta có thể bịa tùy ý ví dụ : Teo – next

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


Email address : địa chỉ email của người gửi (như đã nói ở trên bạn muốn gõ gì cũng được) Vd: cuteo@tenmienbia.com – next

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


Hộp thoại Email server name xuất hiện 2 thành phần
Incoming mail và outgoing mail : 2 thành phần này có nghĩa gì ?
Trong 1 server mail vậy lý sẽ tồn tại 2 server luận lý :

1/ Incoming Mail Server (POP3, IMAP4, HTTP server):
- Nhiệm vụ là đối nộ : điều phối mail trong Lan. Các user khi mở trình duyệt mail thì trình duyệt mail này sẽ đi check mail trong incoming mail server . Nói cách khác là pop3 trục trặc bạn sẽ không check được mail. IMAP4, HTTP ít người dùng và Không được hỗ trợ bằng POP3 (s/d port 110 và 995)

2/ Outgoing Mail Server (SMTP )
- Nhiệm vụ là đối ngoại : Gửi và nhận mail với domain bên ngoài -> nếu SMTP (port:25) trục trặc thì bạn sẽ không thể nhận cũng như gửi thư ra domain bên ngoài

Incoming mail :Ở đây chúng ta không quan tâm đến việc nhận mail nên gõ IP gì cũng được. Nếu ở đây bạn khai báo một số IP bịa nào đó thì khi bạn bật OE lên thì OE lập tức đi tìm POP3 server (tức là IP bạn khai ở phần Incoming mail) để check mail. Khi bật OE lên chú ý góc dưới bên trái có từ connect - nhấp vào nó chọn stop vì đây là con số IP bịa nên nó không có hiệu lực, nó connect một hồi báo không tìm thấy -> phải cancel thôi)

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


Outgoing Mail : gõ địa chỉ IP của yahoo.com 66.218.71.63 (đang giả định gửi cho yahoo)

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


Để có IP của yahoo người dùng phải thực hiện như B1: phân giải để có IP, mx record, name server. -> Next

Hộp thoại internet mail logon :
Thông tin ở đây chính là thông tin cần check mail – next luôn – finish.

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


- Nhấn nút create mail để gửi thư bằng giao diện đồ họa giống webmail.
- Hình bên dưới mô tả 2 bước thực hiện gửi mail đến dest server. Gửi trực tiếp từ User và Mail browser đến dest Server không thông qua trung gian.

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 1024x768


- User vẫn chưa vừa lòng với các bước hướng dẫn trên. Vì mỗi lần gửi đến 1 Dest Server khác thì User phải cấu hình lại 2 bước với IP khác trong Outgoing mail . Phức tạp quá. Họ muốn rằng chỉ phải nhớ 1 con số IP nào đó thôi (con số này phải cố định). Lúc này ta phải xậy dựng 1 chú SMTP server1 trung gian để mọi user gửi thư đến. Sau đó SMTP Server này sẽ chuyển thư của mọi user đến Dest server

Quá trình mà Mail Browser gửi thư đến SMTP Server 1 và nhờ gửi đi đến Dest Server gọi là RELAY (hay Relay mail)
Còn những server mà nhận và gửi mail dùm cho mọi user, dù user đó ở trong cùng domain hay ở ngoài domain, dù xa lạ hay quen biết thì Server đó được gọi là OPEN RELAY (có nghĩa là relay mọi thư gửi đến không cần biết đối tượng nhờ gửi là ai). Trạng thái Open Relay quá nguy hiểm. Vài năm trước đây có thể search ra được các server Open Relay. Còn hiện tại mọi mail server đều khóa tính năng này lại. Chỉ khi nào cần thử nghiệm vấn đề gì hoặc cho phép 1 số IP nhất định được phép relay qua server thì mới bật lên.
Trên diễn đàn X_boy và NN có cho mượn account relay trong vài ngày để test và vọc mail server. Không thương mại.
http://nhatnghe.com/forum/showthread.php?t=12556

Cấu hình relay trong OE :
Các bước giống như ở trên. Riêng phần Outgoing mail ta gõ IP của SMTP Server1.. Finish.

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


Sau đó gửi mail ra yahoo.

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


Bạn nhận thông báo lỗi : trong đám rừng đó có một từ khóa unable to relay for dangduya147@yahoo.com. Như đã nói ở trên mail server khóa chức năng open relay. Server mail đó nói rằng anh muốn relay mail qua tôi ư: ít ra anh phải chứng minh được anh có họ hàng bà con với tôi. Còn không ư : quên đi cưng.
Nói cho dễ hiểu thì là như vầy:
Bạn có cậu em tên Tèo. Lúc bé thì nó rất khờ, ai sai gì nó cũng làm. Bạn nhờ nó gửi dùm thư – OK gửi thì gửi. Anh hàng xóm thấy nó khờ quá nên lợi dụng sai nó làm đủ việc – Ok làm thì làm (Lúc này Cu Tèo đang ở tình trạng OPEN RELAY – ai sai nhờ gì nó cũng làm mà lị). Lớn lên nó bắt đầu khôn ra, anh hàng xóm nhờ nó làm – OK được thôi nhưng lúc này nó yêu cầu anh ta phải chứng minh rằng anh có quan hệ bà con với nó trước đã. Chứng mình bằng cách nào : nó bắt hàng xóm liệt kê ra một đống thông tin đại loại : anh phải sống chung nhà, phải có cùng họ …. Tất nhiên là anh ta kô thể chứng minh hoặc chứng minh không chính xác. Nó Drop cái yêu cầu của anh ngay lập tức. Đến phiên bạn nhờ nó. Nó giở chiêu cũ bắt bạn cung cấp thông tin ( đề phóng luôn với người nhà – quá chắc ăn. Tốt) -> thế là bạn khai với nó các thông tin

+ Khai báo thông tin họ hàng bà con với server trong OE:
Menu tool – account – tab mail – chọn account – chọn properties – tab general :bắt đầu khai báo đây.
1/ Sửa lại email address giống domain server
VD : của mình phải sửa lại là cuteo@dda147.com thay cho cuteo@tenmienbia.com (domain của mình là dda147.com)

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


2/ Tab server : check vào My server require authentication

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


– Chọn nút setting kế bên, khai báo tài khoản và pass tồn tại trong domain (tất nhiên ở chung nhà là phải có thông tin này).

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 800x600


Sau khi khai báo xong thông tin bạn quay lại OE bạn nhấn nút send all trong nút SendReceive . Thư đi ngon lành. Vậy là xong vụ relay qua SMTP server1.

+ Lúc này phát sinh thêm một tình huống mới.
Một ngày đẹp trời các user thông báo với bạn rằng sao mail của tôi không thể gửi cho yahoo. Chỉ sau vài phút thử nghiệm bạn thấy đúng là không thể gửi mail cho yahoo. Gửi thử mail cho gmail, hotmail … Bật công cụ theo dõi mail lên thì thấy mail gửi đi ngọt sớt, không gặp bất kì trục trặc nào (công ty mới mua IP tĩnh chơi lease line cực kỳ hoành tráng mà lị). Gọi điện cho mấy thằng bạn hỏi thăm tình hình thì tụi nó báo không có trục trặc gì cả. Sao chỉ có một mình mình dính chưởng. Thế là lên mạng lục tung các diễn đàn mới phát hiện ra vụ IP blacklist. Kiểm tra thì IP đang nằm trong sổ đen của các tổ chức spam -> hèn gì thằng yahoo nó chặn mail lại (thằng yahoo này có trong tay danh sách IP balcklist). Liên hệ với tổ chức này thì họ remove IP. Thở phào nhẹ nhóm vì user thông báo là họ gửi được rồi. Qua vài ngày sau đến lượt gmail drop mail user của bạn. Lên NN hỏi thăm đủ người thì được TonyHien cho biết : IP của vietnam toàn cùi bắp -> dễ dàng bị lọt vào tổ chức chống spam. TonyHien khuyên nên relay mail qua một SMTP server2 có uy tín (tốt nhất là của nước ngoài) để nó chuyển đi dùm cho (tất nhiên là tốn phí cho nó tùy số lượng mail Relay hàng tháng).

Với hình vẽ trên bạn đã cấu hình relay mail từ SMTP SERVER 1 (mail server công ty bạn) qua SMTP server 2 (nhờ nó relay mail dùm). Lúc này SMTP server 1 trở thành RELAYER (tức người chuyển tiếp relay mail). Còn SMTP server2 bây giời là SMART HOST (cung cấp tính năng relay mail cho những domain có nhu cầu). Khái niệm về Relay mail coi như giải quyết xong.

http://www.nhatnghe.com/forum/showthread.php?t=18914

21 thg 4, 2008

Khắc phục nhanh khi kết nối Internet bị 'đứt'

Khi đang duyệt web mà thấy thông báo "The page cannot be displayed" (trang không hiển thị được) thì có thể kết nối mạng của đã hỏng. Những cách sau đây sẽ giúp phục hồi lại.

1. Khởi động lại kết nối

Cách đơn giản nhất là bấm chuột phải vào biểu tượng Local Area Connection trên khay hệ thống (hoặc vào bằng cách bấm chuột phải ở icon My Network Places > chọn Properties > Disable. Sau đó, bấm Enable lại.

Nếu cách này không được, người dùng có thể thử các biện pháp liên quan đến địa chỉ IP:

2. Lấy lại địa chỉ IP

Nếu thuê bao DSL hay cáp, bạn có thể đang dùng địa chỉ IP động - có nghĩa là địa chỉ kết nối PC với Internet sẽ thay đổi mỗi lần đăng nhập. Địa chỉ này được chỉ định nhờ giao thức DHCP. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, DHPC có thể không cấp địa chỉ mới khi máy khởi động và bạn sẽ "kẹt" với địa chỉ IP cũ và không kết nối được Internet.

Dù hệ thống kết nối trực tiếp qua modem hay router, bước đầu tiên bạn phải làm là lấy một địa chỉ IP được chỉ định bằng cách nhấn chuột phải vào biểu tượng kết nối mạng trên khay hệ thống, chọn Repair. Windows sẽ tự động loại bỏ địa chỉ cũ và yêu cầu địa chỉ mới từ router hoặc nhà cung cấp dịch vụ (phụ thuộc vào cách PC được kết nối). Phần lớn các trường hợp, cách này khá hiệu quả. Nhưng nếu không khắc phục được, bạn phải giải quyết bằng tay.

Nhấn vào menu Start > Run > gõ cmd. (Trong Windows Vista, chỉ cần gõ cmd vào hộp thoại Start Search). Ở dấu nhắc đợi lệnh trên màn hình DOS, gõ ipconfig để xem địa chỉ IP hiện tại, subnet mask và gateway mặc định cho tất cả các adapter. Các adapter khác có thể bao gồm card Wi-Fi và Bluetooth, mặc dù chúng sẽ xuất hiện trong trạng thái không kết nối.

Bản thân câu lệnh này chỉ hiển thị thông tin chứ không làm được gì. Muốn lấy một địa chỉ IP khác, hãy gõ thêm tham số /release và /renew sau chữ ipconfig và một dấu cách. ipconfig /release sẽ điều khiển máy chủ DHCP xóa địa chỉ IP hiện có của tất cả các adapter, dù là mạng Ethernet hay không dây. Sau đó, lệnh ipconfig /renew nếu thành công thì một địa chỉ IP mới, một subnet mask mới và một gateway mặc định mới sẽ xuất hiện.

3. Kiểm tra cache DNS

Khi bạn vẫn kết nối được Internet nhưng không thể vào một trang nào đó, có thể trục trặc ở cache máy khách DNS gây ra điều này. DNS đã dịch tên văn bản tên miền Internet thành số IP. Ví dụ Amazon.com trở thành 207.171.171.132. Cache lưu một hồ sơ về các trang bạn đã ghé qua để lần sau, khi vào tiếp, sẽ tải nhanh hơn. Đôi khi, một phần của file bị hỏng và khiến PC không thể tìm lại nơi lưu trữ. Xóa cache chính là cách giải quyết vấn đề này.

Gõ dòng lệnh ipconfig /displaydns để xem danh sách các tranh đã ghé qua. Nếu không có tên trang web mà bạn cần vào thì gõ tiếp ipconfig /flushdns để xóa danh sách này. Sau đó, gõ lại địa chỉ web trên trình duyệt.

4. Dùng thêm các tham số khác của ipconfig


Các tham số của lệnh ipconfig.

Ipconfig có nhiều tham số khác dành cho việc xử lý rắc rối ở cấp độ cao hơn, và nếu bạn may mắn thì sẽ không bao giờ cần đến chúng. Gõ ipconfig /? để nghiên cứu thêm.

5. Ping địa chỉ IP

Cũng trong cửa sổ DOS, lệnh ping làm vai trò xác định kết nối mạng của máy tính. Việc ping này sẽ gửi gói dữ liệu tới host, có thể ví von giống như tàu ngầm truyền sóng âm tới một vật thể dưới nước để xác định khoảng cách, lệnh ping ước lượng thời gian đi hai chiều của gói tin, đưa nó về và hiển thị bất kỳ tình trạng mất gói tin nào.

Trước hết, nhìn lại địa chỉ IP của máy tính (ví dụ 127.0.0.1) và gõ ping 127.0.0.1 ở dấu nhắc đợi lệnh, đợi vài giây chờ phản hồi. Windows sẽ cố gắng ping đến card mạng của hệ thống xem thiết bị có hoạt động không. Nếu bạn nhận lại được gói tin nghĩa là adapter mạng hoạt động ổn. Giờ ping đến một địa chỉ ngoài bằng cách gõ vào đó, ví dụ ping google.com. Nếu có gói tin trả lại, kết nối mạng của bạn đã được thiết lập.

Tuy nhiên, nếu không nhận được gói tin này, bạn hãy thử ping địa chỉ IP của gateway mặc định. Nếu cách này cũng không được, phần cứng (modem, router, dây nối) của bạn có vấn đề và phải kiểm tra lại.

6. Kiểm tra phần cứng

Nếu máy tính nối trực tiếp với modem DSL, hãy kiểm tra các dây nối được gắn chặt với các điểm nối, đèn modem phải sáng. Kiểm tra lại cổng Ethernet trên PC xem đèn có sáng không. Nếu đèn tắt trong khi cáp được nối vào máy tính (bật điện) thì có nghĩa là phải thay cổng Ethernet.

Nếu đèn sáng mà vẫn không có kết nối, hãy tắt các thiết bị mạng của bạn và đợi một lát rồi bật lại. Cần làm theo các trình tự sau đây.

- Tắt PC, rút dây điện của modem. Nếu đang dùng router thì tháo dây điện củarouter.

- Sau đó khởi động lại modem. Sau khi nó đã khởi động xong và có đèn báo kết nối, hãy bật router và đợi router khởi động lại.

- Khi hoàn thành việc này, bật PC, mở trình duyệt để kiểm tra kết nối.

Nếu tất cả các thao tác trên đều thất bại thì đã đến lúc bạn phải gọi hỗ trợ từ nhà cung cấp dịch vụ. Hãy cho họ biết bạn đã làm những thao tác trên để họ không phải làm lại, mất thời gian. Có thể nguyên nhân là một lỗi nào đó trong hệ thống hay trên đường dây kéo từ ngoài vào nhà bạn.

http://kythuatmang.com/ktm/viewthread.php?tid=422&extra=page%3D1

Làm thế nào để xác định một địa chỉ IP

Địa chỉ IP (Internet Protocol) là một địa chỉ duy nhất mà các thiết bị điện tử sử dụng để nhận biết và giao tiếp lẫn nhau trên mạng máy tính. Địa chỉ này được xác định bằng cách sử dụng chuẩn IP (Internet Protocol). Định nghĩa một cách đơn giản hơn thì địa chỉ IP là địa chỉ máy tính sử dụng trên Internet. Do vậy mà địa chỉ IP là duy nhất đối với mỗi thiết bị.

Ngoài máy tính, những thiết bị khác có thể có địa chỉ IP duy nhất bao gồm router, switch, các máy chủ cơ sở hạ tầng, máy in, máy fax Internet và thậm chí là một số máy điện thoại.

Địa chỉ IP đươc gán và quản lý bởi IANA (Internet Assigned Numbers Authority). IANA chỉ định các khối địa chỉ IP tới bất kỳ 4 khu vực đăng ký Internet (ARIN, RIPE NCC, APNIC và LACNIC), những nơi này sau đó sẽ gán các khối địa chỉ IP nhỏ hơn tới các nhà cung cấp dịch vụ Internet và doanh nghiệp.

Một địa chỉ IP thông thường gồm có 32 bit hoặc 4 byte địa chỉ thường được hiển thị bởi 4 chữ số (mỗi số giới hạn từ 0 đến 255) và cách nhau bởi dấu chấm. Ta có một ví dụ về địa chỉ IP như sau: '192.135.67.201'. Phạm vi của các số trong khoảng từ 0 tới 255 thường được hiển thị bởi 8 bit, hay còn gọi là một ‘Octet’.

Tuy nhiên, hạn chế của phiên bản địa chỉ IP này là số lượng địa chỉ IP bị giới hạn đối với 4, 294, 967, 296. Vì thế một phương pháp gán địa chỉ IP mới có tên là CIDR đã thay thế cho phương pháp trên. Phương pháp CIRD cũng được áp dụng vào phiên bản tiếp theo (IPv6) của địa chỉ IP.

Phiên bản mới của địa chỉ IP là 128 bit hoặc 16 byte chiều rộng, phiên bản này sẽ cho phép một khối lượng lớn địa chỉ IP trở nên sẵn có cho các máy tính trên Internet.

Phân loại địa chỉ IP

Có hai loại địa chỉ IP: IP tĩnh và IP động. Khi địa chỉ IP của máy tính là như nhau mỗi lần máy tính kết nối vào mạng thì đó được gọi là địa chỉ IP tĩnh. Tuy nhiên, khi địa chỉ IP của máy tính thay đổi khác nhau mỗi lần máy tính kết nối mạng thì đó là địa chỉ IP động.

Địa chỉ IP máy bạn là gì?

Cho đến bây giờ chắc hẳn bạn vẫn đang thắc mắc "Địa chỉ IP của tôi là gì?" và "Làm thế nào để tôi có thể xác định được địa chỉ IP của tôi".
Không khó để bạn có thể xác định địa chỉ IP. Tuy nhiên các phương pháp sẽ khác nhau qua các tình huống khác nhau. Dưới đây sẽ là một số phương pháp đơn giản để xác định địa chỉ IP của máy tính khi đang kết nối Internet, khi bạn sử dụng máy tính Macintosh hay khi sử dụng máy tính Windows, và thậm chí cả cách nhận diện địa chỉ IP của người gửi thư điện tử.

Khi kết nối Internet

Trên Internet có rất nhiều trang web có thể dò tìm địa chỉ IP khi máy tính được kết nối qua Internet. Tuy nhiên, nếu như bạn đang trên một mạng LAN hay một mạng tại nhà, thì các trang web đó có thể sẽ dò tìm địa chỉ IP của router mạng.

Khi sử dụng máy tính Macintosh

Trên máy Mac, địa chỉ IP được tìm thấy tại bảng điều khiển TCP/IP, khi máy tính là Mac OS X thì địa chỉ IP được tìm thấy tại System Preferences trong mục ‘Internet and Network’ .

Khi sử dụng máy tính Windows

Nếu bạn muốn dò tìm địa chỉ IP của máy tính (trường hợp đang sử dụng Windows) thì quá trình hoàn dò tìm rất đơn giản:

*
Kích vào 'Start' trên thanh tác vụ Windows.
*
Chọn 'Run'.
*
Nhập ‘cmd’ tại hộp nhập text. Lệnh này sẽ chuyển tới trình đơn dấu nhắc lệnh.
*
Tại trình đơn này, nhập ‘ipconfig/all’.

Bạn sẽ tìm thấy địa chỉ IP của máy tính tại trường địa chỉ IP.

Dò tìm địa chỉ IP của thư điện tử nhận được

Nếu bạn muốn dò tìm địa chỉ IP của máy tính đã gửi thư cho bạn thì có thể tìm thấy tại đầu mục (header) thư điện tử. Thông thường, thông tin này sẽ được ẩn đi. Nếu kích vào 'Show Headers' trong khi đọc thư điện tử trên Internet, thì địa chỉ IP của máy tính từ nơi gửi thư sẽ được hiển thị.

Một số giá trị của địa chỉ IP

Địa chỉ IP rất hữu ích cho việc dò tìm và giải quyết các vấn đề về xâm nhập cũng như các mối nguy hiểm từ Internet. Những địa chỉ IP này đồng thời cũng giúp giảm spam thư điện tử hoặc khi bạn nhận được những bức thư với những lời đe dọa hay các loại virut nguy hiểm có thể xâm nhập thông qua thư điện tử.

Theo Buzzle

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/1/34919.html

Nghệ thuật NAT - Phần 2: Dành cho người dùng bình dân

ADSL ngày càng mạnh và lan tỏa thì nhu cầu chia sẻ dữ liệu thông qua mạng cũng rất lớn, cũng như nhu cầu giải trí thông qua Game Online đang rất thịnh hành. Thông thường, các máy tính khi sử dụng mạng ADSL tại Việt Nam thường dùng thông qua một Router nhất định thông qua cơ chế NAT.

Chính vì thế, để cấu hình một cách tự động cơ chế chuyển Port trong Router để có thể kết nối cùng nhau nhiều máy vi tính là điều mà nhiều bạn quan tâm. Cách này được xem là khá hữu ích cho những dân ghiền Game là có thể chơi Online trên cơ sở Offline, và muốn tự tạo Server riêng để các người bạn có thể cùng nhau chơi game trên đường truyền Interner tương tự như khi chơi qua LAN. Với PFConfig là những gì bạn cần trong trường hợp này.

Chương trình sẽ tự động chuyển Port thông qua NAT một cách tự động trên khá nhiều Router và Modem. Ngoài ra, PFConfig còn hỗ trợ khá nhiều ứng dụng cho phép bạn thoải mái hơn khi dùng chung với nhiều máy khác thông qua môi trường ADSL, đặc biệt là các ứng dụng chia sẻ ngang hàng và các ứng dụng Game Offline.

PFConfig là phiên bản có phí. Tuy nhiên, bạn có thể dùng miễn phí nếu chỉ dùng chuyển port tự động mà không muốn lập trình phần cứng trên Router. Bạn có thể tải PFConfig phiên bản mới nhất 1.0.187 tại http://www.portforward.com/store/PFCSetup1.0.187.exe. Dung lượng của PFConfig là 2.38MB. Tương thích mọi phiên bản Windows.

Sau khi tải và cài đặt thành công, bạn cần khởi động lại máy để có thể sử dụng chương trình.

Ngay lần khởi động đầu tiên, bạn chọn Cancel, sau đó nhấn tiếp OK để bắt đầu sử dụng chương trình.

Tại khung chính của chương trình, bạn chọn Tools > Select Router để hiển thị hộp thoại chọn thiết bị phần cứng tương ứng.





Khi hộp thoại Select Your Router hiển thị, bạn nhấn chọn vào Update List để hiển thị toàn bộ danh sách thiết bị mới nhất từ trang chủ nhà sản xuất. Sau khi hoàn tất, bạn chọn vào mục Router tương ứng. Theo thống kê có khoảng hơn 40 nhà sản xuất góp mặt trong chương trình. Sau khi chọn xong nhà sản xuất, danh mục Router sẽ hiển thị ở khung tương ứng bên phải. Bạn nên chú ý vào dòng sản phẩm trên kết nối của mình để có lựa chọn đúng đắn. Thông thường đường truyền FPT thường sử dụng loại Router ZyXel 4 Port hiệu Prestige600. Bạn nhấn Next để qua bước tiếp theo.

Tại phần Router Settings cho bạn chọn thông số IP của Router. Các thông số này thường được PFConfig tự động thiết lập. Bạn chỉ nên điền User và mật khẩu tương ứng để hoàn tất. Thông thường User và mật khẩu mật định tương ứng là Administrator và 1234 hoặc xem thông số manual trên Router. Nhấn Finish để hoàn tất.





Bây giờ mọi công việc của bạn đã hoàn tất. Bạn quay lại khung chính của chương trình.





Trong phần Applications, bạn sẽ thấy hai phần nhỏ và Default Applications và Custom Application. ở phần Default cho bạn lựa chọn các chương trình cần PFConfig tự động chuyển port cho ứng dụng. Đa phần các ứng dụng từ mục Default đều dành cho các Game thủ khi muốn chơi Online và cho một số Game Offline hay và tiêu biểu. Một số ít ứng dụng nhỏ dành cho chia sẻ ngang hàng như Chat, chia sẻ file, Webcam...Bạn chỉ cần chọn ứng dụng, sau đó, nhấn chọn Forward this App.





Phần Select Target hiển thị cho bạn chọn dạng máy chủ thông qua IP. Bạn có thể tự động chọn máy chủ của mình thông qua This Computer (Default Option) hoặc chọn một Server khác sau khi đã gán IP thong qua tùy chọn Another Computers on my Network. Nhấn Finish. Bây giờ, bạn sẽ có một IP dành riêng có dạng xxx.xxx.xxx.xxx: số Port dành cho Game hoặc ứng dụng cần chia sẻ . Bạn chỉ việc Share IP này cho người bạn cùng chơi game và để họ thiết lập trong phần TCP/IP là có thể kết nối để cùng chơi game hay chia sẻ ngang hàng.

Nếu ứng dụng bạn sử dụng không có trong danh mục (thường rất ít khi xảy ra), bạn có thể chọn vào mục Custom Application, sau đó chọn New. Sau đó nhập tên của ứng dụng vào khung tương ứng. Nhấn Next. Nhập nội dung cổng TCP (thông thường là 80). Sau đó nhấn Finish và thao tác như với mục Default Application. Rất nhanh và thuận lợi.

Các Game Offline được nhiều người chơi cũng đều được chương trình hỗ trợ như: FIFA, Age Of Empires, Age Of Empires II, Age Of Empires III, Age Of Mythology, Battle Realms, Red Alert, Need For Speed, StarCraft, The Lord Of The Rings...Các ứng dụng chia sẻ ngang hàng như Emule,Webcam...


Theo xhtt

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/3/37846.html

Nghệ thuật NAT - Phần 1: Các yếu tố kỹ thuật cho người dùng cấp cao

Nếu như cân bằng tải (Load Balancing) là linh hồn của các trung tâm xử lý dữ liệu lớn hiện nay thì dịch địa chỉ mạng (Network Address Translation - NAT) là trái tim của "load balancing". Kỹ thuật NAT được sử dụng khá phổ biến, nhưng khi vận dụng vào Load Balancing ta mới thấy hết sự đa dạng và tài tình như thế nào.

NAT là kỹ thuật thay đổi các địa chỉ mạng (Network Address) trong một gói tin (packet) để gây ảnh hưởng trong quá trình định hướng đi của packet cho một mục đích cụ thể. Địa chỉ mạng ở đây muốn nói đến địa chỉ IP (Internet Protocol) ở layer 3, ngoài ra còn có thể thay đổi số port ở layer 4 theo mô hình phân lớp OSI. Bên cạnh đó địa chỉ mạng còn được phân biệt địa chỉ nguồn (source) và địa chỉ đích (destination). Tùy theo mục đích dùng NAT mà ta thay đổi một số hoặc tất cả các loại địa chỉ trên trên cùng một packet.

Xét mô hình load balancing như sau





Chúng ta sẽ xem các kỹ thuật NAT sử dụng trong load balancing như thế nào.

Destination NAT

Đây là loại hình NAT phổ biến nhất, ta còn hay gọi là "NAT xuôi", hay "NAT vào". NAT theo kiểu này chỉ thay đổi địa chỉ IP đích của gói tin mà không đụng đến các thành phần khác. Đây cũng là kiểu được sử dụng mặc định trong load balancing theo cách sau:

- Khi client gửi packet request R tới bộ cân bằng tải (load balancer), R sẽ có dest IP là VIP của load balancer (141.149.65.3), source IP là IP của client (188.1.1.10). Do load balancer đại diện cho tất cả những server thực đằng sau nên IP của load balancer cũng là địa chỉ đại diện, client sẽ chỉ liên hệ với load balancer mà không biết được địa chỉ thật của các server là gì. Địa chỉ IP đại diện của load balancer còn được gọi là địa chỉ IP ảo (Virtual IP - VIP)

- Load balancer sẽ gửi R đến server 2 để xử lý nên nó thực hiện thay dest IP trong R thành IP của server 2 (10.10.10.20), source IP vẫn giữ nguyên (188.1.1.10). Thao tác này gọi là Destination NAT.

- Nhờ có dest IP là IP của server 2 nên R sẽ được định tuyến tiếp đến server 2 xử lý.

- Khi server 2 trả lời, packet reply sẽ đi qua lại load balancer. Tại đây packet được un-NAT, nghĩa là thay lại địa chỉ IP của server 2 (lúc này trở thành source IP) bằng VIP của load balaner.

Reverse NAT

Trong cơ chế load balancing, các server thật chỉ được cấp địa chỉ IP private (vì nhiều lý do, trong đó có sự hạn chế về số lượng IP public và tính bảo mật), nghĩa là không thể đi ra Internet được. Load balancer thường được public ra Internet để nhận request cho các server bên trong nên nó thường có một địa chỉ IP public để các client kết nối từ bên ngoài vào, và địa chỉ này cũng là VIP. Khi client muốn sử dụng dịch vụ của server bên trong, load balancer thực hiện việc chuyển đổi địa chỉ dest IP từ public sang private để đến được server, đó là kiểu NAT ta xét ở trên. Trong trường hợp ngược lại, khi server bên trong muốn khởi tạo kết nối với bên ngoài Internet, load balancer phải thực hiện việc chuyển địa chỉ source IP của packet đi ra từ private sang public để có thể lưu thông trên Internet. Do cách hoạt động như vậy nên kiểu NAT này còn được gọi là SourceNAT, "NAT ngược", hay "NAT ra".

Port-Address Translation (PAT)

Hai trường hợp trên ta đã xem xét hai kiểu thay đổi địa chỉ IP, trường hợp thứ ba này còn được gọi là "NAT port", nghĩa là số port TCP/UDP ở trong packet sẽ bị thay đổi (ở đây ta không xét đến các protocol khác cũng có dùng port). PAT cũng là một phần tất yếu của load balancing. Cách hoạt động của nó cũng rất đơn giản: Khi ta liên kết (bind) port 80 của VIP trên load balancer đến port 1000 trên server thật, load balancer sẽ thực hiện việc chuyển đổi và đẩy toàn bộ yêu cầu port 80 (dest port) đến port 1000 trên server.

Những lợi ích khi ta thực hiện PAT:

- Bảo mật là ích lợi đầu tiên mà ta thấy ngay. Bằng cách không mở những cổng mặc định trên server, ta có thể gây khó khăn hơn cho việc tấn công ác ý. Chẳng hạn, ta có thể chạy một Web server trên port 4000, và liên kết port 80 của VIP trên load balancer đến port 4000 của server thật. Lúc bấy giờ, kẻ tấn công không thể khai thác trực tiếp lên port 80 của server thật được, vì nó không được mở.
- Khả năng co dãn (scalability) PAT cho phép ta chạy cùng một ứng dụng trên nhiều port. Tùy theo cách thiết kế ứng dụng, có thể việc chạy nhiều bản sao của nó sẽ làm tăng hiệu suất phục vụ lên. Chẳng hạn ta có thể chạy máy chủ web IIS trên các port 80, 81, 82 của mỗi server thật. Sau đó chỉ cần liên kết port 80 của VIP với mỗi port chạy IIS của server thật. Load balancer sẽ phân bổ lưu thông không chỉ cho các server mà còn giữa các port trên từng server.
- Khả năng quản trị (manageability) chẳng hạn khi host nhiều website trên một bộ các server thật, ta có thể chỉ cần dùng một VIP để đại diện cho tất cả các domain của các website. Lúc này load balancer sẽ nhận tất cả các request đến port 80 ở cùng một VIP. Web server của ta có thể chạy mỗi domain trên một port khác nhau, chẳng hạn www.abc.com trên port 81, www.xyz.com trên port 82. load balancer có thể gửi lưu thông đến port phù hợp dựa trên domain trong URL của mỗi HTTP request.

Full NAT

Như vậy ta đã xét kỹ thuật NAT thay đổi lần lượt địa chỉ đích, địa chỉ nguồn, rồi thay đổi port khi cân bằng tải. Mỗi sự thay đổi là một loại hình NAT có ứng dụng trong từng trường hợp riêng. Kết hợp các kiểu thay đổi này lại, ta có một kiểu NAT khác phức tạp hơn là Full NAT. Kiểu NAT này có tên gọi như vậy vì nó bao gồm các thay đổi sau đây trên gói tin request:
- Địa chỉ IP nguồn (source IP)
- Địa chỉ IP đích (dest IP)
- Port nguồn (source port)

Lưu ý source port ở đây là port của client, còn dest port là port được request trên server, chẳng hạn port 80 ở ví dụ trên.

Xem mô hình như sau:





Mô hình load balancing này khác với mô hình trong những kiểu NAT trên ở chỗ, packet từ server reply có thể bỏ qua load balancer mà đi thẳng đến client ở ngoài Internet. Vấn đề ở chỗ địa chỉ IP của server vẫn là private IP, do đó đương nhiên packet reply mang "biển số tỉnh" sẽ chẳng bao giờ đến được client.

Vậy thì bằng cách nào để buộc server phải trả lời thông qua load balancer để được NAT địa chỉ IP đi ra Internet? Cách đơn giản nhất là ta có thể khai báo cho load balancer là default gateway của các server. Nhưng cách này yêu cầu load balancer phải ở cùng subnet với các server (cùng Layer 2 broadcast domain). Nếu không thể nằm cùng subnet thì sao? Đây là chỗ Full

NAT được sử dụng.

Khi được thiết lập để thực hiện Full NAT, load balancer sẽ thay source IP của tất cả các request packet bằng một địa chỉ được khai báo trên load balancer, xem như là source IP, rồi thay dest IP (lúc này đang là VIP) thành IP của server (10.10.10.20), trước khi gửi đến server 2. Source IP này có thể giống hoặc khác VIP, tùy vào từng sản phẩm load balancer. Như vậy tương tự như proxy, lúc này server thật sẽ xem load balancer như là client yêu cầu mình, và không quan tâm đến client thực sự nữa. Vì thế server sẽ reply lại cho load balancer và load balancer sẽ đổi lại dest IP thành IP của client thực sự (188.1.1.100) để gửi đi.

Như vậy source port được thay đổi ở chỗ nào? Mỗi lần thay đổi một source IP của client thành source IP của load balancer, gọi là một session, thì load balancer thực hiện lưu lại những thông tin của client trong session đó bằng cách đổi source port trong cùng packet (lúc này đang là source port của client).

Source port lúc này có ý nghĩa như là một session ID không hơn không kém. Khi server reply về cho load balancer, source port cũng được gửi trả về theo packet reply. Dựa vào source port này, load balancer xác định được session của client trong bảng lưu để thay lại source IP, source port của client như cũ.

Ưu điểm của kiểu NAT này là cho phép bạn thực hiện việc thay đổi địa chỉ thông qua load balancer trên mọi topology mạng. Nhược điểm là không lấy được các thông tin về IP, port từ phía client. Những ứng dụng như Web có sử dụng thông tin từ source IP của client thì không nên dùng mô hình này. Một số sản phẩm load balancing còn cung cấp chức năng log và report source IP của các request.

Enhanced NAT

Những kỹ thuật NAT vừa trình bày ở trên đều xoay quanh việc thay đổi địa chỉ IP, cũng như port trong packet header. Tuy nhiên có những protocol đặc biệt chứa thông tin địa chỉ hay port nhúng trong packet payload, cũng cần phải được thay đổi cùng với packet header.

Điều này đòi hỏi load balancer phải hiểu biết theo từng protocol cụ thể. Khái niệm enhanced NAT nói đến kiểu NAT phức tạp được BLer thực hiện với những hiểu biết theo từng protocol cụ thể để làm cho những protocol đó hoạt động được với việc cân bằng tải.

Trong số các protocol đặc biệt đó, thông dụng nhất là các protocol streaming media (ví dụ RTSP - Real Time Streaming Protocol). Đây cũng là các protocol sử dụng cân bằng tải phổ biến nhất, vì chúng cực kì ngốn tài nguyên mạng và tính toán khi phải phục vụ đồng thời cho hàng trăm đến hàng ngàn người sử dụng.

Các protocol streaming thường gồm có hai kết nối, một kết nối điều khiển xây dựng trên TCP và một kết nối dữ liệu dựa trên UDP. Để khởi đầu, client khởi tạo một kênh điều khiển đến một well-known port trên server. Client và server sẽ thoả thuận các điều khoản cho kênh điều khiển. Sự thoả thuận gồm có IP của server và số port của server mà client sẽ gửi dữ liệu đến trên kết nối dữ liệu.

Nếu các server có địa chỉ IP private, load balancer sẽ thực hiện Destination NAT cho kết nối điều khiển. Nhưng đồng thời load balancer cũng phải xem các thông tin thoả thuận và thay đổi mọi thông tin về địa chỉ IP hay port mà server và client trao đổi sao cho client sẽ gửi dữ liệu đến VIP public chứ không phải IP private của server (những thông tin này nằm trong payload của packet).

Hơn nữa, dest port được chọn trong quá trình thoả thuận lại không biết trước được nên BLer phải xử lý request ngay cả khi port chưa được liên kết đến bất kỳ server nào.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp lại có những chính sách bảo mật trên tường lửa làm cho những kết nối dữ liệu trên nền tảng UDP có thể không thành công. Do đó nhiều hệ thống streaming media cho phép stream trên nền HTTP, nghĩa là toàn bộ dòng dữ liệu sẽ được gửi đi bằng kết nối được thiết lập bởi giao tiếp HTTP. Điều này làm cho việc NAT trở nên nhẹ nhàng hơn.

Direct Server Return (DSR)

Lại xét mô hình cân bằng tải thứ hai. Với mô hình này ta đã xem hai cách xử lý cùng với các ưu nhược điểm của chúng là gán BLer làm default gateway hay dùng kỹ thuật Full NAT để ép các reply của server phải đi qua load balancer.

Nhưng trường hợp ta muốn server trả lời trực tiếp cho client mà không thông qua BLer thì sao? Đây không phải là câu hỏi vô lý, vì trong trường hợp năng lực xử lý của BLer bị giới hạn, thì việc tách dòng lưu thông reply đi trực tiếp mà không qua BLer sẽ giúp load balancer tập trung vào xử lý các lưu thông request hiệu quả hơn, tránh tắc nghẽn, nâng cao hiệu suất.

Nhưng với địa chỉ IP private, các server làm sao trả lời trực tiếp qua Internet đến client được? Chỉ với một chút phù phép xoay quanh các địa chỉ IP là vấn đề sẽ được giải quyết: khi được thiết lập để thực hiện DSR, load balancer không chuyển dest IP thành IP của server mà vẫn giữ nguyên là VIP (public IP). load balancer chỉ đổi dest MAC thành MAC của server để packet có thể đến được server. Như vậy giới hạn của DSR là load balancer và các server phải nằm cùng subnet.

Vấn đề còn lại là làm sao để khi server nhận request packet từ load balancer chuyển đến sẽ không từ chối, vì dest IP không phải là IP của server, mà là VIP! Một cách đơn giản, ta cấu hình để VIP là địa chỉ của loopback interface trên mỗi server. Load balancing dùng cách này vì lợi dụng những tính chất thú vị sau đây của loopback interface:

- Có thể gán bất kỳ địa chỉ IP nào, không bắt buộc phải bắt đầu bằng 127.

- Vì loopback interface không phải là một thiết bị thật, nó không có địa chỉ MAC, nên hệ thống sẽ không trả lời cho các request ARP. Do đó sẽ không có hệ thống bên ngoài nào biết được địa chỉ IP của loop back interface. Tuy nhiên, hệ thống vẫn nhận request đến IP của loop back interface và trả lời như là các interface khác.

Ta có thể thiết lập một địa chỉ IP public cho loop back interface trên Linux như sau:

ifconfig lo 141.149.65.3 netmask 255.255.255.0 up

Như vậy, bằng một chút thủ thuật với các địa chỉ, server thật không cần địa chỉ IP public vẫn có thể nhận request và trả lời trực tiếp cho client.

DSR rất hữu ích cho những ứng dụng tốn băng thông như FTP, streaming media, khi mà kích thước packet reply là rất lớn so với kích thước packet request. Kỹ thuật này cũng được ứng dụng cho những protocol đòi hỏi phức tạp khi thực hiện NAT hay không được load balancer hỗ trợ.

Chẳng hạn những giao thức streaming media như trong phần Enhanced có đề cập, thì ta có thể dùng DSR thay vì NAT. Người ta cũng cân nhắc DSR khi triển khai load balancing trên mô hình mạng như mô hình 2, khi mà lưu thông reply từ server không đảm bảo là sẽ đi qua lại load balancer.

Kết luận

NAT tạo nên nền tảng của load balancing. NAT trong load balancing rất đa dạng, tùy thuộc vào từng tình huống mà ta áp dụng. Càng đi sâu, ta càng thấy cái hay trong việc xử lý thông tin của các packet, những đối tượng luận lý để giải quyết các vấn đề vật lý thú vị như thế nào. Nắm vững các kỹ thuật NAT giúp ta có thể triển khai các hệ thống cân bằng tải một cách an toàn và hiệu quả nhất.

Theo xhtt

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/3/37715.html

Thiết kế một mạng nhỏ bằng router băng thông rộng (Phần 1)

Các router băng thông rộng chính là cách đơn giản nhất giúp bạn thiết kế một mạng cho riêng mình. Sử dụng router này, bạn hoàn toàn có thể tự động chia sẻ kết nối Internet băng thông rộng với nhiều máy tính khác trong mạng, cũng như các file và máy in.

Do chúng làm việc như một tường lửa bằng phần cứng nên nó cũng là cách an toàn nhất để kết nối với Internet ngày nay. Việc cài đặt cũng thực sự rất đơn giản và bạn có thể xây dựng một mạng cho mình mà chỉ tốn một chút thời gian. Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ giới thiệu cách thiết lập một mạng như vậy bằng router băng thông rộng.



Hình 1: Một router băng thông rộng điển hình

Vậy router băng thông rộng là gì? Mặc cho tên của nó là gì đi nữa thì nó cũng là một thiết bị tích hợp một số tính năng:

• Broadband router – Bộ định tuyến băng thông rộng: Tự động chia sẻ kết nối Internet băng thông rộng giữa các máy tính đã kết nối với nó. Bạn cũng có thể cấu hình nó để hạn chế sự truy cập dựa trên một số tiêu chuẩn (ví dụ như thời gian trong ngày – bạn có thể muốn các nhân viên của mình chỉ truy cập Internet trong thời gian buổi trưa hoặc sau khi làm việc).

• Hardware firewall – Tường lửa phần cứng: Nhằm ngăn chặn một số tấn công vào máy tính của bạn, nó cũng bảo vệ các thư mục và máy in được chia sẻ trên mạng nội bộ không bị truy cập bởi máy tính bên ngoài nhà hoặc văn phòng.

• Switch: Hầu hết các router băng thông rộng đều tích hợp một switch (thông thường là 4-port switch), cho phép bạn có thể kết nối các máy tính trực tiếp trên router. Bạn cũng có thể mở rộng số cổng bằng cách cài đặt thêm switch mở rộng với router. Với một mạng nhỏ chỉ kết nối đến 4 máy tính thì có lẽ bạn cũng hài lòng và không cần bất kỳ phần cứng mở rộng nào nữa.

• DHCP server: Tính năng này tập trung các tùy chọn cấu hình mạng trên router, chính vì vậy bạn không cần thực hiện bất kỳ kiểu cấu hình nào (nên thiết lập chúng với cấu hình tự động) trên các máy tính khách. Đơn giản, chúng cho phép bạn kết nối bất kỳ máy tính nào đến router và nó sẽ có khả năng truy cập ngay tức khắc vào Internet cũng như đến các thư mục và máy in chia sẻ nằm trong mạng mà không cần bất kỳ cấu hình nào khác.

• Wireless: Các router băng thông rộng gần đây đều có tính năng không dây, tính năng này cho phép bạn có thể kết nối các máy tính mà không cần chạy dây. Tuy vậy, chúng cần đến card mạng không dây và việc cài đặt card không dây đối với mỗi máy tính trong mạng của bạn có thể khá tốn kém. Nhưng đây là một giải pháp tuyệt vời đối với gia đình hoặc các văn phòng nhỏ, nơi có một hoặc hai laptop có khả năng truy cập mạng không dây; chỉ cần bật chúng và bạn sẽ online. Nhiều ưu điểm và tiện lợi như vây song tính năng này cũng có một số rủi ro về góc độ bảo mật và các tùy chọn cấu hình ưu việt cho sử dụng an toàn.

• Print server: Một số router có khả năng cung cấp một cổng song song hoặc một cổng USB để bạn có thể kết nối máy in trực tiếp với router. Đây là điều hết sức thú vị vì bất kỳ máy tính nào trong mạng của bạn cũng đều có thể sử dụng máy in mà không cần phải cấu hình đặc biệt nào. Nếu bạn cần chia sẻ một máy tin với nhiều máy tính khác và router đang có lại không có tính năng này thì máy tính có cắm máy in đó phải luôn được bật để có thể in. Đây thực sự là điều phiền phức, vì nếu máy in được kết nối với một máy tính của ai đó không có trong văn phòng, lúc này máy tính lại bị tắt và người sở hữu máy tính này đã đặt mật khẩu cho máy. Tuy nhiên bằng cách sử dụng router băng thông rộng với tính năng máy chủ in ấn này bạn hoàn toàn có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền vì không cần bắt buộc phải bật máy tính như trường hợp trên. Nếu chọn mua một router với tính năng này, bạn cần mua kiểu kết nối tương tự với máy in của mình, song song hoặc USB.


Hình 2: Cổng song song trên một router với tính năng print server

Cài đặt

Tất cả những gì bạn cần để thiết lập mạng của mình bằng router băng thông rộng là phải có một router (điều này hết sức hiển nhiên), giá thành của một router ngày nay cũng thực sự dẻ (cỡ khoảng 35 đến 50 USD, giá thành còn phụ thuộc vào nhiều tính năng mở rộng khác), một cáp mạng pin-to-pin cho mỗi máy tính mà bạn muốn kết nối mạng (xem hình bên dưới).


Hình 3: Cáp mạng điển hình

Modem băng thông rộng của bạn (cáp hoặc ADSL) sẽ được kết nối đến cổng có nhãn “WAN” trên router, còn các máy tính sẽ được kết nối đến các cổng khác, thông thường thì chúng có nhãn “LAN”. Nếu muốn có thêm nhiều cổng thì bạn cần phải mua một switch bên ngoài và kết nối nó đến một trong các cổng “LAN” này. Bạn cần kết nối đầu kia của cáp đến card LAN (NIC) trên mỗi máy tính. Ngày nay, tất cả các máy tính đều được tích hợp cổng LAN trên bo mạch chủ, nếu bạn sở hữu một máy tính cũ không có tính năng này thì cần phải mua và cài đặt một card mạng (thường là 10/100 Network Card hoặc NIC, Network Interface Card) thêm vào đó.


Hình 4: Cách kết nối router băng thông rộng

Nút Uplink phải được vô hiệu hóa. Nút này được dùng khi bạn sử dụng kiểu cáp khác, kiểu cáp này có tên gọi là cáp đấu chéo (tham khảo kiểu cáp này trong bài trước). Nút reset cũng rất hữu dụng trong một số tình huống khắc phục sự cố. Như những gì có thể quan sát được trên hình, bạn cần kết nối router với cả nguồn cấp điện.


Hình 5: Ví dụ về cổng LAN trên một máy tính


Hình 6: Ví dụ về cổng LAN trên laptop

Bạn không cần phải lo lắng về việc cắm cáp mạng sai giắc: giắc cắm mạng RJ-45 chỉ cắm vừa duy nhất với card mạng trên máy tính.

Sau khi đã kết nối xong mọi thứ, bạn có thể bật modem băng thông rộngvà router, sau đó bật một trong các máy tính để truy cập vào panel cấu hình router. Bạn cần thực hiện một số cấu hình cơ bản – ví dụ như chọn kiểu kết nối mà bạn có, cáp hoặc ADSL.

Cấu hình các máy tính

Tất cả các máy tính trên mạng phải được cấu hình để có thể nhận cấu hình mạng tự động từ một DHCP server (chính là router của bạn). Đây là cấu hình Windows mặc định, nhưng bạn cũng luôn nên kiểm tra xem các máy tính đã được cấu hình đúng chưa.

Để cấu hình máy tính, kích vào Start > Settings > Network Connections, màn hình thể hiện trong hình 7 sẽ xuất hiện. Lúc này bạn kích đúp vào card mạng đã được kết nối với router.


Hình 7: Các kết nối mạng

Trên màn hình hiển thị, bạn kích vào Properties. Màn hình như trong hình 9 sẽ xuất hiện. Lúc này bạn kích đúp vào Internet Protocol (TCP/IP) và hình 10 dưới đây sẽ xuất hiện.


Hình 8: Trạng thái của kết nối. Bạn cần kích vào Properties.


Hình 9: Các thuộc tính của card mạng


Hình 10: Cấu hình TCP/IP

Trên màn hình này bạn cần chọn “Obtain an IP address automatically” và “Obtain DNS server address automatically”. Hay tùy chọn này để bảo đảm cho máy tính yêu cầu router sẽ sử dụng các cấu hình đó. Đừng quên kích OK để cập nhật sự thay đổi.

Lúc này, các máy tính đã được cấu hình một cách đúng đắn chỉ cần cấu hình router chính xác và bảo mật nữa là bạn có một mạng an toàn. Mời bạn đón đọc phần sau để xem xét về cách cấu hình router cho phù hợp.

Theo Hardwaresecrets

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/4/38305.html

Xây dựng mạng không dây bằng router băng thông rộng - Phần 3: Kết nối các máy tính không dây vào mạng

Thông qua hai phần trước của loạt bài này thì lúc này tất cả các máy tính đã được kết nối trực tiếp vào router bằng cáp thông thường đều có thể truy cập Internet.

Kết nối các máy tính không dây vào mạng

Thông qua hai phần trước của loạt bài này thì lúc này tất cả các máy tính đã được kết nối trực tiếp vào router bằng cáp thông thường đều có thể truy cập Internet.

Bước tiếp theo là cho phép các máy tính sử dụng kết nối không dây có thể truy cập mạng và truy cập Internet.

Mạng không dây của bạn sẽ được liệt kê trong danh sách các mạng hiện có trên các máy tính có card mạng không dây bên trong phạm vi router băng thông rộng.

Vì vậy tất cả những gì cần thực hiện trong bước này là kích vào biểu tượng mạng không dây có sẵn trên task bar hoặc kích đúp vào kết nối không dây trong Network Connections (Start > Control Panel) để xem danh sách các mạng không dây có trong đó. Như những gì thể hiện trong hình 18, chúng ta có một số mạng (từ mạng nhà hàng xóm hay mạng ngoài…, như vậy việc mã hóa là một vấn đề rất quan trọng). Tất cả những gì cần thực hiện ở đây là kích đúp vào mạng cần kết nối (trong ví dụ này là MyHome).


Hình 18: Các mạng không dây có sẵn

Sau khi kích đúp vào mạng của mình, Windows sẽ hỏi bạn về khóa mã hóa (chuỗi 26 ký tự mà bạn đã ghi ra), xem trong hình 19. Bạn cần phải nhập lại nó ở đây.


Hình 19: Nhập khóa mã hóa (password) để truy cập vào mạng

Sau khi kích OK, trạng thái mạng của bạn sẽ được hiển thị với dòng chữ “Acquiring Network Address” sau đó nó sẽ thay đổi thành “Connected”, xem trong hình 20.


Hình 20: Đã kết nối được vào mạng

Nếu bạn đưa chuột qua biểu tượng không dây trong task bar của Windows thì sẽ thấy chữ “Connected” và cường độ tín hiệu, xem hình 21.


Hình 21: Laptop đã kết nối vào mạng không dây

Mạng không dây lúc này hoạt động 100% và được bảo vệ. Đến đây bạn có thể đọc thêm bài hướng dẫn của chúng tôi về cách chia sẻ các thư mục và máy in trong mạng để biết được cách chia sẻ tài nguyên dùng chung trong mạng. Đừng e ngại vấn đề riêng tư vì tính năng mã hóa đã được kích hoạt và không có ai ở bên ngoài mạng có thể truy cập để lấy mất dữ liệu của bạn.

Các cấu hình nâng cao

Mỗi router đều có một số các cấu hình nâng cao khác nhau. Vì vậy không thể giới thiệu được toàn bộ các tùy chọn có trong tất cả router hiện có trên thị trường. Chính vì vậy chúng tôi sẽ chỉ liệt kê một trong những tùy chọn thú vị nhất có trong phần lớn các router băng thông rộng không dây có trên thị trường với một số ví dụ về trường hợp sử dụng. Trong các ví dụ tiếp theo này, chúng tôi sẽ tiếp tục sử dụng router D-Link DI-524 ở trên.

• Khóa truy cập Internet theo thời gian và ngày trong tuần: Đây là một cấu hình rất thú vị cho cả những người dùng ở nhà và văn phòng. Những người dùng ở nhà có thể cho phép trẻ nhỏ trong nhà họ chỉ truy cập Internet trong khoảng thời gian nào đó (ví dụ như từ 4 đến 6 giờ chiều chẳng hạn) và truy cập Internet thoải mãi trong cả hai ngày nghỉ cuối tuần. Đối với người dùng văn phòng có thể muốn khóa không cho các nhân viên của họ sử dụng Internet trong một số thời điểm nào đó với nhiều lý do. Trên router của ví dụ, cấu hình này được thực hiện bằng cách kích vào Advanced > Filters, chọn “IP Filters”. Sau đó cần cấu hình địa chỉ IP cho các máy tính muốn khóa (nhập vào * sẽ khóa tất cả các máy tính) và dải các cổng (nghĩa là các kiểu dịch vụ như web, email, FTP, nhập * cho tất cả các dịch vụ). Sau đó chọn “From” và thiết lập ngày trong tuần và khoảng giờ Internet sẽ bị vô hiệu hóa với các máy tính mà chúng ta đã liệt kê.


Hình 22: Khóa truy cập Internet theo thời gian và ngày trong tuần

• Khóa truy cập với một số website nào đó: Bạn có thể khóa không cho trẻ nhỏ trong nhà hay các nhân viên có thể truy cập vào một số website nào đó. Trong ví dụ, điều này được thực hiện trên cùng một màn hình ở trên nhưng bạn phải chọn “domain blocking”. Thêm vào nữa, router của ví dụ này còn có tính năng khóa các website nào đó dựa trên từ khóa (ví dụ những từ như “sex” chẳng hạn). Tính năng này cũng được cấu hình trên cùng màn hình trên nhưng chọn “URL blocking”. Bạn cũng có thể cấu hình ngược lại với những gì chúng tôi vừa nói, nghĩa là cho phép người dùng chỉ truy cập vào các website đã cấu hình và khóa tất cả các website khác.

• Cấu hình các game trực tuyến và ứng dụng có thể truy cập thông qua các cổng không mặc định (non-standard): tường lửa của router sẽ khóa bất kỳ một kết nối nào đến các cổng non-standard. Một số chương trình, đặc biệt là các game chơi trực tuyến, các chương trình chia sẻ file ngang hàng và thoại IP sử dụng các cổng non-standard sẽ không làm việc vì router sẽ khóa chúng. Những gì bạn cần thực hiện ở đây là “mở” các cổng đã được sử dụng trên từng chương trình này. Bạn cần biết các cổng đã được sử dụng bởi các giao thức TCP và UDP để từ đó cấu hình chúng. Các thông tin này được liệt kê trong hướng dẫn sử dụng của mỗi game hoặc tài liệu chương trình. Trong router của của ví dụ, tính năng này được cấu hình ở Advanced > Application, xem trong hình 23. Để các bạn có thêm những kiến thức về vấn đề tạo các chương trình ngang hàng làm việc trên mạng bằng router băng thông rộng, chúng tôi đã quyết định sẽ giới thiệu cho các bạn về vấn đề này trong bài báo sau mong các bạn đón đọc.


Hình 23: Cho phép các chương trình có thể truy cập đến các cổng non-standard

• Quản lý từ xa: Bạn có thể quản lý router để cho phép người bên ngoài mạng có thể truy cập vào panel điều khiển của router. Tùy chọn này nên cần phải vô hiệu hóa nhưng cũng có một số tình huống sử dụng tính năng này cũng rất thú vị: nếu bạn là một người chịu trách nhiệm về cấu hình mạng và muốn truy cập vào router từ bên ngoài mạng. Một số kỹ thuật viên sử dụng tính năng này để cấu hình mạng máy khách của họ mà không cần ngồi tại văn phòng. Để tăng tính bảo mật, bạn có thể cho phép quản lý từ xa chỉ với một địa chỉ IP nào đó, có thể là địa chỉ IP ở nhà bạn, vì vậy không ai khác có thể truy cập vào panel điều khiển. Trong router của chúng tôi, tính năng này được cấu hình ở Tools > Admin, dưới trường Remote Management. Nếu không sử dụng tính năng này thì bạn nên vô hiệu hóa nó để tránh các hacker có thể truy cập vào panel điều khiển từ router.


Hình 24: Quản lý từ xa

Ngoài ra còn một số tính năng khác có thể rất thú vị với tình huống của riêng mỗi người, chúng tôi chỉ liệt kê những thứ chung nhất mà một người dùng thông thường có thể cần đến. Đừng e ngại khi khai thác khám phá panel điều khiển router của bạn để học được tất cả các tùy chọn này. Có thể bạn sẽ tìm thấy những tùy chọn thú vị và hữu dụng cho tình huống riêng của mình.


Theo Hardwaresecrets

Xây dựng mạng không dây bằng router băng thông rộng - Phần 2: Cấu hình

Hiện nay đang có ngày càng nhiều người sẵn lòng xây dựng một mạng không dây riêng cho mình. Mạng không dây có thể thiết lập tại nhà hoặc văn phòng của bạn, từ đó bạn có thể chia sẻ file, sử dụng máy in và truy cập Internet mà không cần đến việc phải chạy dây cáp mạng loằng ngoằng vào các máy tính trong mạng.

Đây là một trong những thứ tuyệt vời nhất là trong trường hợp bạn có các máy tính nằm trong các địa điểm khó có thể thiết lập hệ thống cáp mạng chạy dây hoặc trong trường hợp bạn muốn tự do truy cập mạng của mình và Internet bằng laptop của bạn ở bất cứ chỗ nào bên trong văn phòng hoặc nhà bạn: bạn có thể mang laptop từ giường ngủ hoặc văn phòng vào phòng khách mà nó vẫn liên tục được kết nối với mạng.

Cách tốt nhất để thiết lập một mạng riêng là sử dụng một router băng thông rộng. Thiết bị này sẽ kết nối tất cả các máy tính trong mạng của bạn và cũng tự động chia sẻ kết nối Internet băng thông rộng. Bạn có thể chia sẻ file và máy in giữa các máy tính với nhau. Thiết bị này có thể có tính năng không dây, chính vì vậy nó có thể cho phép bạn kết nối các máy tính mà không cần đến cáp mạng.

Trong phần 1 của loạt bài này, chúng tôi đã nêu ra một số thiết bị cần thiết để thiết lập một mạng không dây bằng router băng thông rộng, phần này sẽ tiếp tục với phần cấu hình các máy tính và router cơ bản.

Cấu hình các máy tính

Tất cả các máy tính trên mạng của bạn phải được cấu hình để có thể nhận các cấu hình mạng một cách tự động từ một DHCP server (chính là router). Đây là cấu hình Windows mặc định, nhưng bạn cũng nên luôn kiểm tra xem các máy tính đã được cấu hình đúng chưa.

Để cấu hình các máy tính, kích vào Start > Settings > Network Connections, màn hình thể hiện trong hình 9 sẽ xuất hiện. Lúc này bạn kích đúp vào card mạng đã được kết nối với router. Nếu máy tính này được kết nối với router bằng một cáp mạng thông thường thì card mạng là card đã được kết nối với router; nếu máy tính này được kết nối với router không dây thì card mạng là card mạng không dây.


Hình 1: Các kết nối mạng

Trên màn hình hiển thị, bạn kích vào Properties. Màn hình như trong hình 9 sẽ xuất hiện. Lúc này bạn kích đúp vào Internet Protocol (TCP/IP) và hình như hình 10 dưới đây sẽ xuất hiện.


Hình 2: Thuộc tính của card mạng


Hình 3: Cấu hình TCP/IP

Trên màn hình này bạn cần chọn “Obtain an IP address automatically” và “Obtain DNS server address automatically”. Hay tùy chọn này để bảo đảm cho máy tính sẽ yêu cầu router sử dụng cấu hình đó. Đừng quên kích OK nếu bạn cần thay đổi bất cứ thứ gì trên màn hình.

Lúc này, các máy tính đã được cấu hình một cách đúng đắn, bạn cần chuyển sang cấu hình router.

Cấu hình router một cách cơ bản

Như chúng ta đã đề cập đến vấn đề này từ trước, vấn đề chính với các router băng thổng rộng không dây là khả năng truy cập không dây của nó sẽ làm việc mà không có bất kỳ sự mã hóa nào. Chính vì vậy sau khi bật router thì bất kỳ người nào với card mạng không dây cũng đều có thể truy cập vào mạng của bạn. Rõ ràng chúng ta cần thay đổi điều này ngay lập tức!

Thứ đầu tiên cần biết là địa chỉ IP của panel cấu hình cho router của mình. Thông tin này sẽ được ghi trên hướng dẫn sử dụng của router. Nó thường là 192.168.0.1, 192.168.1.1 hoặc 10.0.0.1. Khởi chạy trình duyệt web và nhận vào đó http://[địa chỉ IP]. Router đã sử dụng trong ví dụ của chúng ta sử dụng địa chỉ 192.168.1.1, chính vì vậy chúng ta cần nhập vào http://192.168.1.1.

Địa chỉ này sẽ làm việc một cách tự động trên các máy tính được kết nối đến router thông qua một cáp mạng thông thường. Trên các máy tính có kết nối không dây với router, trước tiên bạn cần kết nối nó vào mạng của mình, vấn đề này chúng tôi sẽ nói đến ở bên dưới. Đây là một trong những lý do mà chúng tôi khuyên bạn thực hiện cài đặt router ban đầu bằng một máy tính có kết nối đến router bằng cáp mạng thông thường.

Tất cả các tùy chọn cấu hình sẽ khác tuỳ theo model của router. Chính vì vậy bạn sẽ không có các tên tùy chọn chính xác nhưmô tả dưới đây, tuy nhiên chúng sẽ tồn tại, vì chúng là các tùy chọn cơ bản.

Thông thường, màn hình cấu hình đầu tiên sẽ yêu cầu bạn chọn giữa hai tùy chọn cài đặt nhanh (hoặc cài đặt theo các bước có sẵn) và cài đặt nâng cao. Cài đặt cơ bản cũng đủ cho đại đa số người dùng xây dựng một mạng nhỏ. Sau khi thực hiện qua cài đặt cơ bản này, mạng không dây của bạn sẽ có thể hoạt động. Tuy nhiên bạn có thể khai thác các tính năng của cài đặt nâng cao mà router có, như khóa truy cập Internet tại một thời điểm nào đó trong ngày, khóa các website được xem,… Bạn có thể tìm thấy các tùy chọn rất thú vị ở đây để áp dụng thích hợp cho mạng.

Dẫu sao, chúng ta cũng hãy nói một chút về cài đặt cơ bản. Một số router yêu cầu một mật khẩu khi truy cập vào panel điều khiển lần đầu tiên. Nếu gặp phải trường hợp này, bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng xem user và password nào phải sử dụng (trong router D-Link DI-524 của ví dụ này, user là “admin” và password vẫn còn để trắng).


Hình 4: Màn hình đầu tiên trên panel cấu hình router

Chúng ta chọn “Run Wizard” và đi lần lượt qua một loạt màn hình. Màn hình đầu tiên là thiết lập một password quản trị mới. Điều này rất quan trọng vì nó phòng khi có ai đó thay đổi cấu hình mạng của bạn. Sau khi thiết lập mật khẩu mới, kích Next.


Hình 5: Thiết lập password quản trị

Trong trường hợp ví dụ này, cấu hình tiếp theo là vùng thời gian. Cấu hình này tuỳ theo thời gian vùng của bạn. Kích Next.


Hình 6: Cấu hình vùng thời gian

Màn hình tiếp theo (hình 15) hiện một cấu hình tùy chọn không được yêu cầu bởi hầu hết các kết nối băng thông rộng. Nó cho phép bạn chỉ định tên máy chủ hoặc nhập vào một địa chỉ MAC nào đó để sử dụng bởi router băng thông rộng. Hãy giữ nguyên và kích Next.


Hình 7: Cấu hình địa chỉ MAC được sử dụng

Màn hình kế tiếp là màn hình quan trọng nhất. Ở màn hình này bạn sẽ cấu hình tên của mạng (SSID) và kích hoạt tính năng mã hóa. Tên của mạng là cách các máy tính sẽ gọi mạng của bạn như thế nào. Trong trường hợp ví dụ này, chúng tôi đặt tên mạng là “MyHome” (bạn có thể thấy rõ trong hình 16). Hãy kích hoạt tính năng mã hóa WEP và chọn mức mã hóa là “128 bit”. Lúc này bạn cần tạo một khóa mã hóa (password) sẽ được sử dụng để mã hóa dữ liệu truyền tải trong mạng. Với mã hóa WEP 128-bit, khóa phải là một chuỗi 26 ký tự hexa, nghĩa là bao gồm các ký tự 0-9 và A đến F. Bạn có thể nhập vào các số một cách ngẫu nhiên. Bạn có thể xem ví dụ trong hình 16 (vì các lý do bảo mật bạn không nên sử dụng cùng số mà chúng tôi thể hiện ở đây). Điều quan trọng là ghi lại dải số này vào một mẩu giấy nào đó hoặc ghi nhớ nó vào một file được đặt mật khẩu. Bạn cần nhập số này vào tất cả các máy tính truy cập không dây trong mạng chính vì vậy đừng quên lưu lại dãy số này!


Hình 8: Cấu hình tên mạng và kích hoạt mã hóa


Hình 9: Tiện ích cài đặt kết thúc

Lúc này tiện ích cài đặt đã kết thúc và mạng không dây của bạn có thể hoạt động! Những gì bạn cần thực hiện lúc này là cấu hình khóa mã hóa trên mỗi máy tính truy cập không dây vào mạng. Chúng tôi sẽ giới thiệu cách thực hiện phần này ở bài sau. Mời các bạn đón đọc!


Theo Hardwaresecrets

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/4/38397.html

Xây dựng mạng không dây bằng router băng thông rộng - Phần 1: Chuẩn bị phần cứng

Hiện nay đang có ngày càng nhiều người sẵn lòng xây dựng một mạng không dây riêng cho mình. Mạng không dây có thể thiết lập tại nhà hoặc văn phòng của bạn, từ đó bạn có thể chia sẻ file, sử dụng máy in và truy cập Internet mà không cần đến việc phải chạy dây cáp mạng loằng ngoằng vào các máy tính trong mạng.

Đây là một trong những thứ tuyệt vời nhất là trong trường hợp bạn có các máy tính nằm trong các địa điểm khó có thể thiết lập hệ thống cáp mạng chạy dây hoặc trong trường hợp bạn muốn tự do truy cập mạng của mình và Internet bằng laptop của bạn ở bất cứ chỗ nào bên trong văn phòng hoặc nhà bạn: bạn có thể mang laptop từ giường ngủ hoặc văn phòng vào phòng khách mà nó vẫn liên tục được kết nối với mạng.

Cách tốt nhất để thiết lập một mạng riêng là sử dụng một router băng thông rộng. Thiết bị này sẽ kết nối tất cả các máy tính trong mạng của bạn và cũng tự động chia sẻ kết nối Internet băng thông rộng. Bạn có thể chia sẻ file và máy in giữa các máy tính với nhau. Thiết bị này có thể có tính năng không dây, chính vì vậy nó có thể cho phép bạn kết nối các máy tính mà không cần đến cáp mạng.

Chúng tôi nhớ là đã giới thiệu cho các bạn một số hướng dẫn về chủ đề này, bạn nên hiểu một cách cặn kẽ sự khác nhau giữa các bài kiểu chủ đề này:

• Xây dựng một mạng nhỏ bằng router băng thông rộng: Hướng dẫn này chúng tôi đã giới thiêu khá chi tiết về cách thiết lập một mạng cho riêng bạn bằng một router băng thông rộng nhưng không có khả năng không dây. Nếu bạn không muốn xây dựng một mạng không dây thì hãy tham khảo hướng dẫn này.

• Xây dựng một mạng không dây không cần đến router băng thông rộng không dây: Trong hướng dẫn này chúng tôi giải thích về cách xây dựng một mạng không dây cho riêng bạn mà không cần đến router băng thông rộng không dây, điều này cho phép bạn tiết kiệm được một chút kinh phí. Kiểu mạng này được gọi là ad-hoc, nó có một số nhược điểm mà chúng tôi đã giải thích trong bài. Nếu bạn không muốn những nhược điểm này có trong mạng của mình thì cần phải sử dụng một router băng thông rộng để xây dựng một mạng cho mình, đây chính là chủ đề mà chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn trong bài báo này.

• Chia sẻ các thư mục và máy in trong mạng của bạn: Sau khi xây dựng một mạng thì đây chính là hướng dẫn giới thiệu cho bạn cách chia sẻ các file, máy in giữa các máy tính trong mạng với nhau.

Để xây dựng một mạng không dây cho riêng mình, bạn cần có những thứ dưới đây:

*
Một kết nối Internet băng thông rộng
*
Một card mạng không dây được cài đặt trên mỗi máy tính mà bạn muốn kết nối đến mạng không dây
*
Router băng thông rộng không dây.

Chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu về router trước.

Router băng thông rộng không dây

Bạn có thể quan sát một router băng thông rộng không dây trong hình 1. Trước khi mua một router này, bạn cần biết một số vấn đề cơ bản về chuẩn và các tốc độ.


Hình 1: Một router băng thông rộng điển hình

Card mạng không dây cần phải tương thích với ít nhất một trong các giao thức IEEE 802.11. Có một số giao thức và kiểu chung nhất vẫn thường được sử dụng là IEEE 802.11b, 802.11g và 802.11a. Để đơn giản chúng tôi sẽ sử dụng các chữ cái b, g và a tương ứng với các giao thức này. Sự khác nhau chính giữa chúng là tốc độ: giao thức 802.11b có thể truyền tải dữ liệu 11MBps, còn g và a có thể truyền tải lên đến 54MBps (sự khác nhau giữa g và a chính là phổ tần số mà chúng hoạt động). Giao thức mới được phát hành là n, giao thức này sẽ có tốc độ truyền tải lớn nhất lên đến 540MBps.

Một số card mạng có tốc độ 108MBps, tuy nhiên trong thực tế các card 54MBps lại đang sử dụng kỹ thuật nén dữ liệu và để chúng đạt được tốc độ này thì router băng thông rộng và card mạng cài đặt trên máy tính cần phải có công nghệ này và phải được làm từ cùng một nhà máy sản xuất, ngược lại chúng sẽ không làm việc như card b, g và a thông thường. Công nghệ này cũng không làm việc trong các mạng ad-hoc, nghĩa là mạng không sử dụng router băng thông rộng.

Theo lý thuyết kịch bản tốt nhất là tất cả các máy tính đều sử dụng card 54MBps (hoặc 108MBps). Mặc dù vậy, bạn sẽ bị hạn chế bởi tốc độ kết nối mạng của mình. Chính vì vậy bạn không sử dụng mạng của mình cho việc truyền tải file giữa các máy tính, việc mua card 54MBps là không sáng suốt, đơn giản là vì tốc độ kết nối Internet của bạn sẽ thấp hơn rất nhiều. Ví dụ, nếu có một kết nối 1MBps thì bạn sẽ có một mạng có khả năng truyền tải dữ liệu nhanh gấp 54 lần so với kết nối Internet. Một mạng 11MBps sẽ làm việc tốt hơn trong trường hợp này (nó sẽ nhanh hơn đến khoảng 11 lần cho kết nối Internet). Chính vì vậy bạn có thể giảm được chi phí bằng cách mua card 11MBps – chúng làm việc tốt hơn với những người dùng trung bình. Cũng vậy, các mạng ad-hoc cũng đơn giản không đáng tốn nhiều tiền. Nếu bạn thực sự muốn có một kết nối 54MBps (hoặc 108Mbps) thì nên thiết kế một mạng không dây có sử dụng router.

Phân tích một chút cho các bạn dễ hiểu, nếu bạn có một kết nối Internet 1MBps hoặc 2MBps thì vẫn phải dừng lại ở tốc độ đó nếu có sử dụng card không dây 11MBps hay 54MBps đi chăng nữa. Mặc dù vậy, nếu bạn truyền tải file giữa các máy tính thì tốc độ được sử dụng sẽ bằng với tốc độ lớn nhất của mạng (11MBps, 54MBps hoặc 108MBps). Chính vì vậy việc chọn giữa các router 11 Mbps, 54 Mbps hay 108 Mbps cũng là một công việc cần làm để phù hợp với việc sử dụng của bạn trong việc truyền tải file giữa các máy tính hay không, tốc độ Internet sẽ giống nhau trên tất cả các chuẩn.

Nếu bạn đã quyết định mua một router 54 Mbps hay 108 Mbps và card mạng không dây trên các máy, hãy bảo đảm mua các sản phẩm có thể tương thích với chuẩn 802.11b (mục đích để router của bạn có thể truyền thông với các card chậm hơn) và sử dụng cùng một chuẩn 54MBps. Ví dụ, nếu bạn có một laptop với card mạng không dây 802.11g nhúng trong và bạn mua một router 802.11a không có khả năng tương thích 802.11g thì chúng có thể không truyền thông với nhau, vì các chuẩn được sử dụng ở đây là khác nhau – rõ ràng nếu cả hai đều chỉ tương thích với 802.11b thì chúng lại hoàn toàn có thể truyền thông với nhau ở tốc độ thấp hơn (11 Mbps). Ngày nay các router băng thông rộng và card mạng không dây đều có khả năng tương thích với một số chuẩn.

Lúc này chắc hẳn bạn đã có được ý tưởng về router băng thông rộng không dây mà bạn nên mua là gì.

Các router băng thông rộng không dây có một số tính năng cơ bản sau:

Card mạng không dây

Tất cả các máy tính ngày nay đều có ít nhất một cổng LAN chạy cáp 100 Mbps, tuy nhiên trong trường hợp này bạn cần bổ sung thêm một card mạng không dây cho mỗi máy tính. Trong các máy tính laptop ngày nay thì bạn không cần đến công việc này, vì chúng hầu như đều có card mạng không dây được tích hợp sẵn trong.

Nếu muốn tiết kiệm chi phí, bạn có thể kết nối các máy tính desktop đến router bằng cáp mạng chuẩn. Thậm chí nếu router băng thông rộng không dây có khả năng không dây nhưng bạn vẫn có thể kết nối các máy tính đến nó bằng cáp thông thường. Chúng ta sẽ nói thêm về chủ đề này sau.

Có hai kiểu card mạng không dây hiện có trên thị trường: USB và add-on. Thông thường card add-on chạy ổn định hơn. Card add-on cho các máy tính desktop được cung cấp cho slot PCI (có thể cho slot PCI Express x1 trong tương lai) và card add-on của các máy tính laptops được cung cấp cho slot PC Card (PCMCIA) hoặc slot Express Card. Nếu laptop của bạn không có card mạng không dây đi kèm thì cần phải kiểm tra xem nó có khe cắm mở rộng hay không (PC Card hoặc Express Card) và mua một card không dây add-on cho nó (PC Card có thể là một lựa chọn sáng suốt vì các slot của Express Card cũng chấp nhận các thiết bị này).

Trong hình 2 bạn có thể thấy một card mạng không dây loại PCI add-on cho các máy desktop, trong hình 3 là một card mạng không dây USB có thể sử dụng cho các máy desktop và laptop, còn trong hình 4 là một card mạng không dây PC Card add-on cho các máy laptop.


Hình 2: Card mạng không dây PCI add-on


Hình 3: Card mạng không dây USB


Hình 4: Card mạng không dây PC Card

Bạn nên mua một card có khả năng tương thích với cùng chuẩn không dây đã được sử dụng bởi router của bạn.

Việc cài đặt card này cần phải được thực hiện theo hướng dẫn sử dụng của card. Thông thường nó rất đơn giản: chỉ cần kết nối thiết bị với máy tính của bạn (nếu bạn cài đặt một PCI card trên máy desktop thì bạn cần bắt máy và mở case), bật máy trở lại và cài đặt driver của nó.

Với PCI card của chúng tôi như đã thể hiện trong hình 2 (D-Link DWL-G510), chúng ta cần phải cài đặt các driver trước khi lắp đặt card vào máy tính.

Cài đặt

Trong hình 5 bạn có thể quan sát thấy các connector trên một router băng thông rộng không dây điển hình.


Hình 5: Router băng thổng rộng không dây điển hình

Việc cài đặt vật lý ở đây rất đơn giản: cắm nguồn cấp vào cho router, kết nối cáp đến từ modem băng thông rộng đến cổng có nhãn “WAN”, cắm nguồn cấp vào ổ điện xoay chiều. Nếu bạn chỉ sử dụng kết nối không dây thì đây chính là tất cả những gì bạn cần thực hiện.

Hãy chú ý một trong những vấn đề chính trong việc thiết lập một mạng không dây là router sẽ làm việc ngay lập tức, điều đó có nghĩa là bất kỳ máy tính nào có khả năng kết nối mạng không dây đều có thể sử dụng tín hiệu mạng của bạn ngay lập tức – gồm có trong đó cả các hàng xóm nhà bạn. Chính vì vậy bạn cần kiên trì và đọc hướng dẫn này vì cần phải kích hoạt mã hóa WEP, tính năng không được thiết lập mặc định.

Nếu bạn sẽ kết nối các máy tính đến router bằng cáp mạng thông thường thì hãy đọc phần kết nối với cáp mạng thông thường dưới đây bằng không bạn có thể bỏ qua để chuyển nhanh sang phần khác. Chúng tôi khuyên bạn nên kết nối ít nhất một máy tính sử dụng cáp thông thường đến router băng thổng rộng không dây để tạo cấu hình ban đầu cho nó.

Với việc kết nối các máy tính đến router bằng cáp mạng thông thường, bạn đơn giản cần các cáp mạng chuẩn cho mỗi máy tính mà bạn muốn kết nối vào mạng.


Hình 6: Cáp mạng điển hình

Trên mặt router, mỗi cáp sẽ được cắm vào bất kỳ một cổng LAN nào đó (xem trong hình 5). Như chúng tôi đã đề cập đến từ trên, thông thường các router băng thổng rộng có 4 cổng LAN. Nếu bạn cần nhiều hơn số cổng thì có thể dùng một switch mở rộng và kết nối thiết bị này trên cổng LAN của router để mở rộng số cổng LAN có sẵn.

Đầu kia của cáp sẽ được kết nối đến mỗi máy tính mà bạn muốn kết nối vào router. Ngày nay tất cả các máy tính đều có ít nhất một cổng LAN 100 Mbps (card mạng nhúng trong), nếu bạn đang sử dụng một máy tính cũ không có tính năng này thì cần mua và cài đặt thêm một card mạng (10/100 Network Card or NIC, Network Interface Card). Trên hình 7 và 8 bạn sẽ thấy được cổng LAN trông như thế nào trên các máy tính desktop và laptop. Rõ ràng bạn có thể muốn kết nối tất cả các laptop vào mạng theo cách không dây, tuy nhiên nó cũng hoàn toàn có thể sử dụng kết nối chạy cáp thông thường.


Hình 7: Ví dụ về cổng LAN trên một desktop


Hình 8: Ví dụ về cổng LAN trên laptop

Bạn không cần lo lắng về việc cài đặt cáp mạng sai giắc: giắc mạng có tên RJ-45 sẽ hợp với card mạng.

Vậy là bạn đã có đầy đủ các thiết bị để thiết kế một mạng không dây (hay cả chạy dây nếu cần thiết và để tiết kiệm chi phí mua card mạng không dây) chúng ta sẽ tiến hành cấu hình để các máy có thể kết nối với nhau và vào mạng Internet.

Theo Hardwaresecrets

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/4/38598.html

Kiến thức cơ bản về mạng: Phần 17 – Mô hình OSI

Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu về một quá trình được sử dụng trong Windows (và các hệ điều hành mạng khác), quá trình này cho phép các ứng dụng của các hãng được phát triển mà không cần phải lo lắng nhiều về vấn đề tạo driver cho thành phần phần cứng cụ thể.

Mặc dù khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong tất cả các hệ điều hành Windows, nhưng nó đặc biệt quan trọng khi nói đến vấn đề kết nối mạng. Để biết tại sao điều này lại quan trọng đến vậy chúng ta hãy xem xét đến những gì mà chúng tôi đã giới thiệu trong phần trước có liên quan đến phần cứng.

Mục đích để một ứng dụng có thể truyền thông trên mạng. Một chuyên gia phát triển ứng dụng không xây dựng các driver mạng bên trong ứng dụng, mà họ chỉ viết một cách đơn thuần ứng dụng theo cách của họ để có thể cho phép ứng dụng này thực hiện các cuộc gọi đến hệ điều hành Windows. Chính các nhà máy sản xuất adapter mạng của máy tính mới cung cấp các driver có thể liên kết làm việc với Windows, và cũng như vậy, Windows thực hiện những công việc cần thiết còn lại để làm sao ứng dụng có thể truyền thông với adapter mạng.

Rõ ràng đó mới chỉ là những gì chung chung. Công việc cụ thể bên trong đó phức tạp hơn những gì mà chúng ta vừa nói ở trên. Tuy nhiên cũng phải nói rằng adapter mạng cũng chỉ là một thiết bị được thiết kế để gửi và nhận các gói dữ liệu. Bản thân Card mạng không hề biết về Windows, ứng dụng hoặc thậm chí cả các giao thức đang được sử dụng. Ví dụ mà chúng tôi vừa cung cấp nhằm cho các bạn biết rằng có đến ba lớp khi thực hiện công việc này đó là: ứng dụng, hệ điều hành và phần cứng vật lý.

Trước khi giải thích các lớp này là gì và chúng thực hiện những công việc gì, chúng tôi muốn giới thiệu một số khái niệm làm vấn đề dễ hiểu hơn. Thực tế, nếu bạn mở trang thuộc tính của Local Area Connection (như trong hình A), thì có thể thấy một kết nối mạng được thiết lập bằng một số thành phần khác nhau, như network client – máy khách của mạng, driver của adapter mạng, và giao thức - protocol. Mỗi một thành phần này lại tương ứng với một hoặc nhiều lớp khác nhau.


Hình A: Trang thuộc tính của Local Area Connection cho chúng ta một cái nhìn
về các lớp mạng khác nhau được dùng trong Windows.

Mô hình mạng mà Windows và hầu hết các hệ điều hành mạng khác sử dụng được gọi là mô hình OSI. Thuật ngữ OSI được viết tắt bởi cụm từ tiếng Anh Open System Interconnection Basic Reference. Mô hình này gồm có bảy lớp khác nhau. Mỗi một lớp trong mô hình này được thiết kế để có thể thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó và làm thuận tiện cho việc truyền thông giữa lớp trên và lớp dưới nó. Bạn có thể nhìn thấy những gì mà mô hình OSI thể hiện trong hình B bên dưới.


Hình B: Mô hình OSI

Lớp Application

Lớp trên cùng trong mô hình OSI là lớp Application. Thứ đầu tiên mà bạn cần hiểu về lớp này là nó không ám chỉ đến các ứng dụng mà người dùng đang chạy mà thay vào đó nó chỉ cung cấp nền tảng làm việc (framework) mà ứng dụng đó chạy bên trên.

Để hiểu lớp ứng dụng này thực hiện những gì, chúng ta hãy giả dụ rằng một người dùng nào đó muốn sử dụng Internet Explorer để mở một FTP session và truyền tải một file. Trong trường hợp cụ thể này, lớp ứng dụng sẽ định nghĩa một giao thức truyền tải. Giao thức này không thể truy cập trực tiếp đến người dùng cuối mà người dùng cuối này vẫn phải sử dụng ứng dụng được thiết kế để tương tác với giao thức truyền tải file. Trong trường hợp này, Internet Explorer sẽ làm ứng dụng đó.

Lớp Presentation

Lớp Presentation thực hiện một số công việc phức tạp hơn, tuy nhiên mọi thứ mà lớp này thực hiện có thể được tóm gọn lại trong một câu. Lớp này lấy dữ liệu đã được cung cấp bởi lớp ứng dụng, biến đổi chúng thành một định dạng chuẩn để lớp khác có thể hiểu được định dạng này. Tương tự như vậy lớp này cũng biến đổi dữ liệu mà nó nhận được từ lớp session (lớp dưới) thành dữ liệu mà lớp Application có thể hiểu được. Lý do lớp này cần thiết đến vậy là vì các ứng dụng khác nhau có dữ liệu khác nhau. Để việc truyền thông mạng được thực hiện đúng cách thì dữ liệu cần phải được cấu trúc theo một chuẩn nào đó.

Lớp Session

Khi dữ liệu đã được biến đổi thành định dạng chuẩn, máy gửi đi sẽ thiết lập một phiên – session với máy nhận. Đây chính là lớp sẽ đồng bộ hoá quá trình liên lạc của hai máy và quản lý việc trao đổi dữ liệu. Lớp phiên này chịu trách nhiệm cho việc thiết lập, bảo trì và kết thúc session với máy từ xa.

Một điểm thú vị về lớp session là nó có liên quan gần với lớp Application hơn với lớp Physical. Có thể một số người nghĩ răng việc kết nối session mạng như một chức năng phần cứng, nhưng trong thực tế session lại được thiết lập giữa các ứng dụng. Nếu người dùng đang chạy nhiều ứng dụng thì một số ứng dụng này có thể đã thiết lập session với các tài nguyên ở xa tại bất kỳ thời điểm nào.

Lớp Transport

Lớp Transport chịu trách nhiệm cho việc duy trì vấn đề điều khiển luồng. Hệ điều hành Windows cho phép người dùng có thể chạy nhiều ứng dụng một cách đồng thời, chính vì vậy mà nhiều ứng dụng, và bản thân hệ điều hành cần phải truyền thông trên mạng đồng thời. Lớp Transport lấy dữ liệu từ mỗi ứng dụng và tích hợp tất cả dữ liệu đó vào trong một luồng. Lớp này cũng chịu trách nhiệm cho việc cung cấp vấn đề kiểm tra lỗi và thực hiện khôi phục dữ liệu khi cần thiết. Bản chất mà nói, lớp Transport chịu trách nhiệm cho việc bảo đảm tất cả dữ liệu từ máy gửi đến máy nhận.

Lớp Network

Lớp mạng Network là lớp có trách nhiệm quyết định xem dữ liệu sẽ đến máy nhận như thế nào. Lớp này nắm những thành phần như việc định địa chỉ, định tuyến, và các giao thức logic. Do loạt bài này dành cho những người mới bắt đầu làm quen với các kiếm thức về mạng nên sẽ không đi chuyên sâu vào kỹ thuật, tuy nhiên chúng tôi nói qua rằng lớp mạng này tạo các đường logic được biết đến như các mạch ảo giữa máy nguồn và máy đích. Mạch ảo này cung cấp các gói dữ liệu riêng lẻ để chúng có thể đến được đích của chúng. Bên cạnh đó lớp mạng cũng chịu trách nhiệm cho việc quản lý lỗi của chính nó, cho việc điều khiển xếp chuỗi và điều khiển tắc nghẽn.

Việc sắp xếp các gói là rất cần thiết bởi mỗi một giao thức giới hạn kích thước tối đa của một gói. Số lượng dữ liệu phải được truyền đi thường vượt quá kích thước gói lớn nhất. Chính vì vậy mà dữ liệu được chia nhỏ thành nhiều gói nhỏ. Khi điều này xảy ra, lớp mạng sẽ gán vào mỗi gói nhỏ này một số thứ tự nhận dạng.

Khi dữ liệu này đến được máy tính người nhận thì lớp mạng lại kiểm tra số thứ nhận dạng của các gói và sử dụng chúng để sắp xếp dữ liệu đúng như những gì mà chúng được chia lúc trước từ phía người gửi, bên cạnh đó còn có nhiệm vụ chỉ ra gói nào bị thiếu trong quá trình gửi.

Nếu bạn chưa hiểu kỹ về khái niệm này, hãy hình dung rằng bạn cần gửi mail một tài liệu có dung lượng lớn đến một người bạn của mình, nhưng không có một phong bì đủ lớn. Để giải quyết vấn đề này thì bạn phải chia nhỏ một số trang vào các phong bì nhỏ, sau đó dán nhãn các phòng bì này lại để bạn của bạn có thể biết được thứ tự của các trang trong đó. Điều này cũng tương tự như những gì mà lớp mạng thực hiện.

Lớp Data Link

Lớp liên kết dữ liệu Data Link có thể được chia nhỏ thành hai lớp khác; Media Access Control (MAC) và Logical Link Control (LLC). MAC về cơ bản thiết lập sự nhận dạng của môi trường trên mạng thông qua địa chỉ MAC của nó. Địa chỉ MAC là địa chỉ được gán cho adapter mạng ở mức phần cứng. Đây là địa chỉ được sử dụng cuối cùng khi gửi và nhận các gói. Lớp LLC điều khiển sự đồng bộ khung và cung cấp một mức kiểm tra lỗi.

Lớp Physical

Lớp vật lý Physical của mô hình OSI ám chỉ đến các chi tiết kỹ thuật của phần cứng. Lớp vật lý định nghĩa các đặc điểm như định thời và điện áp. Lớp này cũng định nghĩa các chi tiết kỹ thuật phần cứng được sử dụng bởi các adapter mạng và bởi cáp mạng (thừa nhận rằng kết nối là kết nối dây). Để đơn giản hóa, lớp vật lý định nghĩa những gì để nó có thể truyền phát và nhận dữ liệu.

Làm việc hai chiều

Cho đến lúc này, chúng ta đã thảo luận về mô hình OSI dưới dạng một ứng dụng cần truyền tải dữ liệu trên mạng. Mô hình này cũng được sử dụng khi một máy tính nào đó nhận dữ liệu. Khi dữ liệu được nhận, dữ liệu đó đi ngược trở lên từ lớp vật lý. Các lớp còn lại làm việc để tách bỏ những gì đã được đóng gói bên phía gửi và biến đổi dữ liệu về định dạng mà lớp ứng dụng có thể sử dụng được.

Kết luận

Trong phần này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về cách Windows sử dụng mô hình OSI như thế nào để thực hiện việc kết nối mạng. Bạn cũng nên hiểu rằng mô hình OSI chỉ là một hướng dẫn với tư cách để vấn đề kết nối mạng được thực hiện như thế nào. Còn trong thế giới thực, các ngăn xếp giao thức đôi khi kết hợp nhiều lớp vào một thành phần nào đó. Về vấn đề đó, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn trong phần tiếp theo của loạt bài này.


Theo Windows Networking

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/4/38612.html

Kiến thức cơ bản về mạng - Phần 16: Kết nối mạng hệ điều hành Windows

Thời gian vừa qua chúng tôi nhận được một số email của độc giả muốn biết tại sao hầu hết các bài trong loạt bài này chỉ tập trung vào Windows. Thực sự mà nói với mỗi cá nhân, có thể có những người thích Linux hơn Microsoft hoặc một hệ điều hành nào đó khác chẳng hạn, nhưng vẫn phân vân tại sao Windows lại cần thiết đến vậy.

Điều này hoàn toàn là sự thực, vì việc kết nối mạng đã được nghiên cứu và thực hiện ngay từ trước khi có Windows. Chính vì vậy tôi muốn giới thiệu đến các bạn về role mà Windows giữ vai trò trong việc kết nối mạng.

Có một điều cần nói với các bạn, đó là mọi hệ điều hành đều thực hiện việc kết nối mạng theo cùng một cách đơn giản. Mặc dù hệ điều hành này có thể hiệu quả hơn hệ điều hành kia, nhưng kết quả cuối cùng cơ bản là giống nhau. Windows, Macintosh, Linux và UNIX tất cả đều có thể truyền thông trên cùng một mạng Internet bằng các giao thức giống nhau.

Chúng tôi chọn viết về Windows là vì nó là một hệ điều hành được sử dụng phổ dụng nhất trên toàn thế giới hiện nay, cũng với mục đích phục vụ được nhiều độc giả nhất.

Windows đã làm những gì cho thế giới

Bây giờ chúng ta hãy đi vào những cố gắng và thành công mà Windows mang lại cho thế giới công nghệ nói chung, và các doanh nghiệp nói riêng. Lý do Windows trở thành một hệ điều hành có ảnh hưởng lớn như vậy là vì nó đã giải quyết được hai vấn đề lớn mà lĩnh vực CNTT đòi hỏi.

Đầu tiên đó là trước khi tạo ra Windows, các máy tính tương đối khó sử dụng. Trước Windows 3.x, hầu hết các máy tính chạy một hệ điều hành của Microsoft đó là MS-DOS. DOS là một thuật ngữ được viết tắt cho Disk Operating System.

Hệ điều hành DOS quả thực đã làm việc khá tốt, nhưng nó đã còn có quá nhiều thiếu sót theo một chuẩn mực nào đó. Đây là hệ điều hành dựa trên văn bản. Điều đó có nghĩa rằng nếu muốn khởi chạy một ứng dụng thì bạn không thể kích chuột vào một biểu tượng nào đó trên màn hình như hiện hệ điều hành đang sử dụng bây giờ mà những gì bạn phải thực hiện vào thời điểm này là phải biết đến các tập lệnh cần thiết để khởi chạy ứng dụng. Nếu bạn muốn biết có bao nhiêu dung lượng không gian đĩa trống thì không thể sử dụng việc kích chuột phải vào biểu tượng đĩa mà phải sử dụng lệnh CHKDSK hay DIR. Đây quả là điều thực sự phức tạp đối với những người dùng không chuyên.

Phần đông người dùng đã không thích điều này. Vì muốn sử dụng DOS thậm chí chỉ là cơ bản cũng cần phải học một số lệnh nào đó. Nhiều lệnh trong số đó có thể gây hỏng nặng đến dữ liệu nếu bạn vô tình sử dụng lệnh sai, và như vậy quả là một điều không ai mong muốn.

Việc sử dụng máy tính đã dần dần trở thành phổ biến trước khi Microsoft giới thiệu một hệ điều hành bằng đồ họa, như vậy Windows đã giúp việc thao tác với các máy tính trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

Điều thứ hai mà Windows đã thực hiện còn quan trọng hơn nhiều đó là cung cấp một thành phần cho phép các driver tách hoàn toàn với các ứng dụng.

Ở thời điểm của DOS, nó là một ứng dụng mà các chuyên gia đã phát triển để gộp các driver thiết bị với tư cách là một phần của ứng dụng. Ví dụ, bộ xử lý từ trên thị trường tốt nhất vào thời đó là một sản phẩm mà bây giờ không còn tồn tại, tên trước kia của nó là PFS Write. Một trong những thứ mà đã biến PFS Write trở thành một sản phẩm tốt như vậy là nó đã hỗ trợ cho rất nhiều máy in.

Hãy lưu ý rằng, ở thời điểm này không hề có việc hỗ trợ tới card video và âm thanh,…

Cách mà các driver lệ thuộc với ứng dụng quả tồi tệ cho cả các chuyên gia phát triển ứng dụng lẫn khách hàng. Nó cũng không có lợi cho những chuyên gia phát triển ứng dụng, vì họ phải tốn nhiều thời gian vào việc viết một lượng vô cùng lớn các driver thiết bị, điều đó đã làm tăng giá thành cũng như thời gian để hoàn thành xong sản phẩm và đưa ra cung cấp cho thị trường. Chính vì ứng dụng chỉ có thể hỗ trợ một tập hạn chế phần cứng nào đó nên chuyên gia phát triển sẽ không thể hỗ trợ cho hết được các sản phẩm phần cứng mà khách hàng có.

Việc các driver thiết bị gắn chặt với ứng dụng cũng gây khó khăn cho khách hàng. Điển hình, phần cứng cũ hơn sẽ không được hỗ trợ, thường thì phải bắt buộc khách hàng mua phần cứng mới cùng với ứng dụng mới của họ. Lúc đó góc độ phần cứng cũng không thường xuyên được hỗ trợ. Các chuyên gia phát triển ứng dụng đã phải tạo ra các driver phù hợp với phần đông số lượng người dùng, chính vì vậy thực sự hiếm có một ứng dụng nào có driver cho những phần cứng mới nhất. Thông thường phần cứng mới lại không tương thích với driver phần cứng cũ trước đó, nhưng sau đó một vài năm góc độ phần cứng đã được thay đổi.

Khi Microsoft tạo ra Windows, họ đã tạo ra một môi trường mà trong đó, bất kỳ ứng dụng nào cũng có thể tương tác với bất kỳ phần cứng nào. Bảo đảm rằng, các ứng dụng vẫn có những yêu cầu phần cứng tối thiểu nhưng các model phần cứng cũng như các nhãn hiệu không thực sự quan trọng nhiều như trước kia. Ví dụ, nếu bạn muốn in tài liệu này, nó sẽ không cần biết loại máy in mà bạn có là gì miễn là có cài đặt driver trên máy tính rồi.

Windows đã xây dựng trong nhiều lớp. Mỗi một ứng dụng Windows lại sinh một số công việc in ấn theo cùng một cách mà không tâm đến ứng dụng là gì, hoặc kiểu máy in mà công việc in ấn đang gửi đến là gì. Hệ điều hành Windows sử dụng driver in cụ thể để dịch công việc in ấn đó thành định dạng mà máy in có thể hiểu được. Quá trình thực sự phức tạp hơn nhiều nhưng ở đây tôi chỉ muốn giới thiệu ý tưởng cơ bản mà không đi vào những chi tiết trong kiến trúc.

Điểm tuyệt vời nhất là các ứng dụng từ driver thiết bị giúp đỡ được nhiều đối tượng. Các chuyên gia phát triển ứng dụng không phải chịu gánh nặng đối với việc phải viết các driver thiết bị, và các khách hàng lúc này hoàn toàn có thể thoải mái sử dụng bất kỳ phần cứng nào mà họ muốn (miễn là có những chuẩn tối thiểu yêu cầu cho sự tương thích) mà không cần phải lo lắng xem nó có làm việc với ứng dụng nào đó của mình hay không.

Kết luận

Như những gì bạn đã biết, Microsoft đã có thể thiết kế Windows theo cách cho phép các ứng dụng có thể tách rời driver thiết bị. Trong phần tiếp theo của loạt bài này, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cho các bạn về cách kiến trúc này hỗ trợ cho việc kết nối mạng như thế nào.


Theo Windows Networking

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/4/38594.html

Kiến thức cơ bản về mạng: Phần 15 – Universal Groups & Group Nesting

Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho bạn khái niệm về cách sử dụng các nhóm để quản lý truy cập mạng, tiếp đó là việc cho phép các điều khoản trực tiếp đối với người dùng.

Chúng tôi cũng đã giải thích Windows Server 2003 hỗ trợ một số kiểu nhóm khác và mỗi một kiểu nhóm đó lại có những ưu và nhược điểm riêng.

Trong bài đó, chúng tôi đã nói về local group, domain local group và global group. Bạn có thể dễ dàng quản lý toàn bộ mạng bằng cách chỉ sử dụng các kiểu nhóm này. Tuy nhiên còn có nhiều kiểu nhóm mà Windows Server 2003 hỗ trợ như universal group.

Nếu một số bạn chưa nắm chắc về local groups, domain local groups, và global groups thì các universal group ban đầu dường như sẽ giống như một câu trả lời cho những yêu cầu tìm hiểu của bạn. Các nhóm Universal group là nhóm về bản chất không phải là chủ đề cho những hạn chế áp dụng đối với các kiểu nhóm khác. Ví dụ, trong bài trước, chúng tôi đã đề cập đến rằng bạn không thể đặt một nhóm nội bộ hoặc nhóm miền nội bộ (domain local group) vào một nhóm nội bộ khác. Tuy nhiên bạn lại có thể đặt một nhóm universal group vào một nhóm nội bộ (local group). Các nguyên tắc này áp dụng đối với các loại nhóm khác mà không áp dụng đối với nhóm universal group.

Rõ ràng, vấn đề này càng đặt ra nhiều thắc mắc về tại sao bạn nên sử dụng các nhóm còn lại nếu chúng có những hạn chế mà các nhóm universal group có thể khắc phục được.

Một trong những lý do chính có quá nhiều kiểu nhóm khác nhau vì Windows Server là một sản phẩm tiến hóa dần dần. Các nhóm Universal group đã được giới thiệu trong Windows 2000 Server, cùng với Active Directory. Các phiên bản trước của Windows Server (trước đây vẫn gọi là Windows NT Server) đã hỗ trợ việc sử dụng các nhóm, nhưng nhóm universal group vẫn không được đưa ra khi các phiên bản này thịnh hành. Khi Microsoft đã phát hành Windows 2000 Server, họ muốn tiếp tục hỗ trợ các kiểu nhóm khác với tư cách duy trì sự tương thích với các phiên bản trước đó trong Windows NT. Tương tự như vậy, Windows Server 2003 cũng hỗ trợ các kiểu nhóm đã có từ trước cũng với các lý do tương thích.

Sự thật là các nhóm universal group đã không tồn tại trong thời kỳ Windows NT Server, điều đó có nghĩa rằng Windows NT không hỗ trợ cho các nhóm này. Điều này đã gây ra một số vấn đề nếu bạn có máy chủ Windows NT nào đó trong hệ thống của mình.

Windows 2000 Server là một cải tiến rõ rệt so với Windows NT Server, một số tính năng mới sẽ chỉ làm việc trên mạng mà không cần các bộ điều khiển miền của Windows NT Server. Để giải quyết vấn đề này, Microsoft đã tạo một khái niệm native mode. Chúng tôi sẽ nói chi tiết hơn về native mode trong phần sau, nhưng ý tưởng cơ bản của nó là khi Windows 2000 Server được cài đặt ban đầu thì nó sẽ hoạt động trong một chế độ gọi là mixed mode. Chế độ này tương thích hoàn toàn với Windows NT, nhưng nhiều tính năng của Windows 2000 lại không thể được sử dụng cho tới khi bạn loại bỏ các bộ điều khiển miền của Windows NT và chuyển sang chế độ native mode. Mặc dù về thuật ngữ có phần hơi khác nhưng nó cũng là những khái niệm cơ bản được áp dụng cho Windows Server 2003.

Universal group là một trong những tính năng chỉ có tác dụng nếu các bộ điều khiển miền của bạn đang hoạt động trong chế độ Native Mode của Windows 2000 Server hoặc cao hơn. Đó là lý do tại sao bạn không thể sử dụng các nhóm universal group trong mọi tình huống.

Ngay cả khi tất cả máy chủ của bạn đang chạy trên hệ điều hành Windows Server 2003, và forest của bạn hoàn toàn ở trong chế độ native, thì sử dụng universal group trong hầu hết các trường hợp vẫn là một ý tưởng không tốt.

Như đã nói trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi giới thiệu cho bạn khái niệm về global catalog servers. Các máy chủ global catalog server là các bộ điều khiển miền đã được gán nhiệm vụ giữ kiểm tra mọi đối tượng trong forest. Điển hình, mỗi vị trí Active Directory đều có bản copy của chính nó cho global catalog, điều đó có nghĩa rằng ở bất kỳ thời điểm nào một máy chủ global catalog cũng đều được cập nhật, thông tin cập nhật phải được tạo bản sao cho các máy chủ này.

Khi bạn tạo một universal group, cả tên nhóm và danh sách hội viên của nhóm đều được ghi vào các máy chủ global catalog. Điều này có nghĩa rằng khi tạo nhiều nhóm universal group thì các máy chủ global catalog sẽ như phồng lên. Khi global catalog càng lớn thì số lượng thời gian mà nó cần để sao global catalog từ một máy chủ global catalog này sang một máy chủ global catalog khác càng tăng. Nếu không được kiểm tra thì điều này có thể dẫn đến các vấn đề về hiệu suất mạng.

Trong trường hợp này có thể bạn đang phân vân rằng kiểu còn lại của các nhóm không cáng đáng nổi lượng tải trên global catalog. Ví dụ, các nhóm global group đã được liệt kê trong global catalog, nhưng danh sách hội viên của chúng lại không có. Chính vì vậy nguyên lý cơ bản của Microsoft là hoàn toàn “OK” để tạo các nhóm universal group nhưng bạn nên sử dụng chúng một cách dè xẻn.

Group Nesting

Một khái niệm có liên quan đến nhóm cuối cùng mà chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn đó là Nesting. Cách đơn giản nhất để giải thích về nhóm này là so sánh nó với các con búp bê của Nga. Các kiểu búp bê này được thiết kế để chúng có thể đặt được vào bên trong mỗi con khác lớn hơn. Con nhỏ nhất sẽ được đặt vào con nhỏ nhất trừ nó và cứ thế tiếp tục, chúng ta sẽ đặt được tất cả các con búp bê nhỏ vào trong một con lớn. Ý tưởng đặt đối tượng này bên trong đối tượng khác tương tự được gọi là nesting (xếp lồng).

Có nhiều lý do khác nhau cho việc đưa ra các nhóm nesting này. Một trong những lý do chung nhất là việc tương thích các tài nguyên với các văn phòng. Ví dụ, một công ty bắt đầu tạo nhóm cho mỗi phòng ban. Họ có thể tạo nhóm Tải chính, nhóm Thị trường, nhóm CNTT... Tiếp theo họ sẽ đặt người dùng vào nhóm sao cho phù hợp với phòng ban mà người dùng đã làm. Bước tiếp theo trong tiến trình sẽ là tạo các nhóm phù hợp với các tài nguyên khác nhau mà bạn cần đồng ý cho phép truy cập vào. Ví dụ, nếu bạn đã biết rằng một ai đó trong phòng tài chính cần truy cập vào một ứng dụng tài khoản thì có thể tạo một nhóm cho phép truy cập vào ứng dụng đó và sau đó đặt nhóm tài chính vào nhóm đó. Bạn không phải xếp lồng các nhóm nhưng việc làm như vậy đôi khi cho phép dễ làm việc trong tổ chức của mình, trong khi vẫn tiết kiệm được lượng công việc trong tiến trình. Trong trường hợp ví dụ trước, bạn không phải đặt một cách thủ công mỗi một tài khoản người dùng riêng lẻ vào nhóm cho ứng dụng tài khoản mà thay vì đó bạn chỉ cần dùng lại nhóm đã tồn tại trước đó.

Lưu ý rằng không phải mọi nhóm đều có thể được xếp lồng vào nhóm khác. Bảng dưới đây sẽ liệt kê các loại nhóm nào có thể xếp lồng được:

Loại nhóm


Có thể được xếp lồng trong nhóm Local


Có thể được xếp lồng trong nhóm Domain Local


Có thể được xếp lồng trong nhóm Global


Có thể được xếp lồng trong nhóm Universal
Local

Không


Không


Không


Không

Domain Local





Có (nếu cùng miền)


Không


Không

Global








Có (nếu cùng miền)




Universal








Không




Lưu ý:

Nếu Windows đang sử dụng trong chế độ mixed mode của hệ điều hành Windows 2000 thì bạn sẽ bị những hạn chế dưới đây:

• Không thể tạo các nhóm Universal groups
• Các nhóm Domain local group chỉ chứa nhóm global
• Các nhóm Global group không chứa các nhóm khác

Kết luận

Trong bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn một số ưu điểm về việc xếp lồng một nhóm này vào trong nhóm khác. Cùng với đó chúng tôi cũng giới thiệu một số tình huống có thể để áp dụng điều này. Phần tiếp theo của loạt bài này có thể sẽ giới thiệu tiếp cho các bạn về nguyên tắc mà hệ điều hành Windows thực hiện trong việc kết nối mạng, mời các bạn đón đọc.

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/4/38409.html

HƯỚNG DẪN CÀI ĐẶT VÀ SỬ DỤNG ADSL - MEGAVNN

HƯỚNG DẪN CÀI ĐẶT VÀ SỬ DỤNG ADSL - MEGAVNN

I. Yêu cầu

* Máy tính cấu hình tối thiểu 166 Mhz (hỗ trợ cổng USB hoặc có gắn card mạng cổng RJ45), sử dụng hệ điều hành Windows, Mac hoặc Linux, Giao thức sử dụng TCP/IP, Trình duyệt Internet Explorer hoặc Netscape….
* Modem ADSL (cổng USB hoặc cổng RJ45).
* Nếu có dùng thoại bạn cần phải có Filter/Spliter.
* Đường line ADSL (bạn đăng ký với VNN và đã có tín hiệu ADSL).
* Account ADSL (bạn đăng ký với VNN cho đường line ADSL trên và đã có hiệu lực).



II. Lắp đặt thiết bị.

Đầu tiên bạn phải tiến hành đấu nối các thiết bị như “sơ đồ lắp đặt các thiết bị ADSL” hình vẽ ở trang 4.



III Cài đặt các thông số cho máy tính và cấu hình thông số cho Modem.

1.
Cài đặt TCP/IP:

TCP/IP là giao thức bắt buộc để máy tính của bạn có thể truy câp được Internet. Để tiến hành kiểm tra xem máy tính của bạn đã được cài đặt giao thức này hay chưa bạn thực hiện kiểm tra theo cách sau:

My Computer " Control Panel" Network and Dial-up Connections, nhấn chuột phải và chọn Properties như hình sau:





Trong cửa số Local Area Connection Properties, xem đã có TCP/IP chưa? Nếu chưa có thực hiện tiếp các bước sau:

Install… " Protocol " Add" Microsoft (Manufactures) " TCP/IP (Network Protocols) " OK.

Sau khi thấy được TCP/IP bạn chọn nó và nhấp chuột vào Properties.



Cửa sổ Internet Protocol(TCP/IP) Properties xuất hiện (hình bên). Trên của sổ này bạn chọn lựa như sau:



- Obtain an IP address automatically

- Obtain DNS server address automatically.



- Với cách chọn lựa tự động này, máy tính sẽ tự động nhận IP và DNS từ Modem cấp phát xuống. Ngược lại Nếu bạn biết cách gán địa chỉ IP và DNS thì có thể tìm hiểu địa chỉ IP của Modem và tự thiết lập IP cho mỗi máy tính trong cửa sổ này.

- Sau cùng bạn chọn OK để kết thúc.







2.
Cấu hình các thông số cho Modem ADSL.

Bước tiếp theo là bạn phải khai báo thông số cho Modem ADSL, trước khi tiến hành cài đặt các thông số Modem bạn cần phải biết các thông số quan trọng sau:

- Username/password Modem: Cặp user và password này dùng để mở trang web cài đặt các thông số cho modem. Thông số này do nhà sản xuất modem cài đặt sẵn bên trong Modem (bạn có thể thay đổi được các thông số này). Những thông số này khác nhau đối với mỗi lọai Modem.

- Địa chỉ IP của Modem ADSL: Địa chỉ này để mở trang web cấu hình Modem.

- Username/Password MegaVNN do VNN cung cấp cho khách hàng để kết nối vào mạng Internet.

- VPI = 8 và VCI = 35 (thông số bắt buộc đối với ADSL VNN).

- Encapsulation: PPPoE LLC


Chip

Tên Modem


Địa chỉ IP modem

User name modem


Password modem

Alcatel


Speedtouch 500/530/536/516


10.0.0.138


Bạn tự đặt


Bạn tự đặt

Conexant


Micronet


10.0.0.2


admin


epicrouter

Conexant


Aztech


10.0.0.2


admin


Bỏ trống

Conexant


Zoom X3-X4-X5


10.0.0.2


admin


zoomadsl

Conexant


Cnet


10.0.0.2


admin


epicrouter

Conexant


GVC


10.0.0.2


admin


epicrouter

Alcatel


Linkpro


192.168.8.1


admin


Bỏ trống

Conexant


SMC


192.168.1.1


admin


Barricade

Conexant


Ovislink


192.168.1.254


admin


ovislink

Đa số các loại modem


user


password



























Nhiệm vụ của bạn là làm sao phải vào được trang web cấu hình Modem và khai báo các thông số trên. Trong ví dụ này chúng tôi sẽ hướng dẫn trường hợp cụ thể Modem SpeedTouch 530. Các Modem khác cũng có thể làm tương tự (tham khảo tài liệu kỹ thuật tương ứng của thiết bị kèm theo).



- Sau khi bạn đã lắp đặt sơ đồ như hình vẽ, bạn hãy cấp điện cho toàn bộ hệ thống (Modem, Switch/Hub và máy tính..).

- Từ một máy tính bất kỳ (trong mạng nội bộ hoặc nối trực tiếp với modem) mở trình duyệt web (Internet Explorer) gõ địa chỉ IP modem như trong bảng ở trên (10.0.0.138). Nếu lần đầu tiên bạn cấu hình Modem SpeedTouch thì máy sẽ không hỏi password modem (có thể các lọai modem khác sẽ hỏi password modem và bạn phải gõ vào mới mở được).

Trên Menu bên trái chọn AdvancedàEasy SetupàNextàRouted PPPoE-DHCP-NAPT àNEXT à8.35 (hai thông số VCI/VPI)àNEXT…Tới đây máy sẽ hiện lên cửa sổ PPP Account Setting: Trên cửa sổ này trong ô username và password bạn khai báo username và password do VNN cung cấp cho bạn. Trong ô Service Name bạn gõ MeGaVNN. Rồi tiếp tục chọn NEXT. Máy sẽ hiện ra cửa sổ: Speed Touch Security. Trong cửa sổ này bạn sẽ khai báo username (tự đặt) và password (tự đặt) để cho phép mở trang web cấu hình modem này. Nếu bạn bỏ trống thì lần sau mở trang web modem máy sẽ không hỏi username và password. Ngược lại nếu bạn tự đặt một username và password ở đây thì lần sau mỗi lần bạn mở trang web 10.0.0.138 máy tính s
Ngưòi viết hoangcanhvc@yahoo.com.vn lúc 01:11