Rất nhiều người không biết rằng nếu chạy Windows XP hoặc Windows Vista thì hoàn toàn có thể thiết lập một mạng không dây ở nhà hoặc văn phòng mà không cần đến router băng thông rộng không dây hoặc điểm truy cập không dây, hoàn toàn có thể tiết kiệm được chi phí. Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ hướng dẫn từng bước một trong việc thiết lập một kiểu mạng không dây, kiểu được biết đến với cái tên ad-hoc.
Hiện đang có ngày càng nhiều người sẵn lòng xây dựng một mạng không dây riêng cho mình. Mạng không dây có thể thiết lập tại nhà hoặc văn phòng, từ đó bạn có thể chia sẻ file, sử dụng máy in và truy cập Internet mà không cần phải chạy dây cáp mạng loằng ngoằng vào các máy tính trong mạng. Điểm tuyệt vời nhất là trong trường hợp bạn có các máy tính nằm vị trí khó có thể thiết lập hệ thống cáp mạng chạy dây hoặc trong trường hợp bạn muốn tự do truy cập mạng và Internet bằng laptop ở bất cứ chỗ nào bên trong văn phòng hoặc nhà.
Rõ ràng chúng ta đang nói về các máy tính laptop với khả năng kết nối mạng không dây – tất cả các laptop đều có tính năng này. Nếu bạn đang sử dụng máy desktop hoặc laptop mà không có khả năng kết nối mạng không dây thì thứ cần thực hiện đầu tiên là mua một card mạng không dây cho mỗi máy tính mà bạn muốn kết nối vào mạng cũng như Internet.
Để thiết lập một mạng không dây riêng, bạn cần phải có:
* Một kết nối Internet băng thông rộng;
* Một card mạng không dây đã được cài đặt trên mỗi máy tính muốn kết nối với mạng;
* Một router băng thông rộng không dây (không bắt buộc).
Thông thường thành phần phần cứng có tên gọi router băng thông rộng không dây hoặc điểm truy cập là cần thiết. Tuy nhiên trong hướng dẫn này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách thiết lập một mạng không dây mà không cần đến thiết bị này, cho phép bạn tiết kiệm được chi phí. Tuy nhiên, bạn cũng cần biết trước những nhược điểm của việc không có một router không dây:
* Máy tính có kết nối Internet băng thông rộng luôn luôn phải bật. Nếu bạn tắt máy tính này thì các máy tính khác sẽ mất kết nối với Internet.
* Mạng của bạn sẽ kém an toàn vì các router băng thông rộng thường tích hợp cả tường lửa phần cứng trong đó.
* Vấn đề mã hóa được sử dụng bởi kết nối ad-hoc thường “yếu hơn” mã hóa được cung cấp bởi các router băng thông rộng không dây, chính vì vậy nó dễ dàng bị một hacker tấn công (chúng tôi không khuyên các bạn sử dụng giải pháp này cho việc truyền tải những dữ liệu quan trọng).
* Tốc độ mạng bị hạn chế dưới 11MBps, thậm chí nếu bạn đang sử dụng card 54MBps trong mạng của mình.
Bạn cũng có thể cấu hình một mạng ad-hoc dù đã có một router băng thông rộng nhưng không có khả năng không dây. Trong trường hợp này, bạn đừng quên mục thứ hai đã được liệt kê ở trên, nhưng các mục khác vẫn hoàn toàn đúng. Thêm vào đó có một thứ cũng rất quan trọng nếu đã có một router băng thông rộng được cài đặt trong mạng: bạn cần phải thay đổi dải địa chỉ IP của mạng nếu nó đã được cấu hình sử dụng dải 192.168.0.x thành 192.168.1.x vì dịch vụ chia sẻ Internet của Windows cũng sử dụng dải 192.168.0.x và khi đó bạn sẽ bị xung đột địa chỉ IP trong mạng của mình. Cấu hình này được thực hiện bằng cách vào chương trình cài đặt của router (thường mở http://192.168.0.1 từ bất kỳ một máy tính nào được kết nối với nó).
Card mạng không dây
Như những gì chúng tôi đã đề cập, bạn cần phải mua một card mạng không dây cho mỗi máy tính muốn kết nối với mạng. Các card mạng này phải tương thích với ít nhất một giao thức IEEE 802.11. Có một số giao thức và phổ biến nhất là IEEE 802.11b, 802.11g và 802.11a. Sự khác nhau chính giữa chúng là tốc độ: giao thức 802.11b có thể truyền tải dữ liệu lên đến 11MBps, còn g và a có thể truyền tải lên đến 54MBps (sự khác nhau giữa g và a chính là phổ tần số mà chúng hoạt động). Giao thức mới được phát hành là n, giao thức này sẽ có tốc độ truyền tải lớn nhất lên đến 540MBps.
Một số card mạng có tốc độ 108MBps, tuy nhiên trong thực tế các card 54MBps lại đang sử dụng kỹ thuật nén dữ liệu và để chúng đạt được tốc độ này thì router băng thông rộng của bạn và card mạng được cài đặt trên máy tính cần phải có công nghệ này và phải được làm từ cùng một nhà máy sản xuất, ngược lại chúng sẽ không làm việc như card b, g và a thông thường. Công nghệ này cũng không làm việc trong các mạng ad-hoc, nghĩa là các mạng không sử dụng router băng thông rộng.
Theo lý thuyết kịch bản tốt nhất là phải có tất cả các máy tính đều sử dụng card 54MBps (hoặc 108MBps). Mặc dù vậy, bạn sẽ bị hạn chế bởi tốc độ kết nối mạng của mình. Chính vì vậy bạn không sử dụng mạng của mình cho việc truyền tải file giữa các máy tính, việc mua card 54MBps là không sáng suốt, đơn giản là vì tốc độ kết nối Internet của bạn sẽ thấp hơn rất nhiều. Ví dụ, nếu bạn có một kết nối 1MBps thì sẽ có một mạng có khả năng truyền tải dữ liệu nhanh gấp 54 lần so với kết nối Internet. Một mạng 11MBps sẽ làm việc tốt hơn cho bạn trong trường hợp này (nó sẽ nhanh hơn đến khoảng 11 lần cho kết nối Internet). Chính vì vậy bạn có thể giảm được chi phí bằng cách mua card 11MBps – chúng có làm việc tốt hơn với những người dùng trung bình. Cũng vậy, các mạng ad-hoc cũng đơn giản không đáng tốn nhiều tiền. Nếu bạn thực sự muốn có một kết nối 54MBps (hoặc 108Mbps) thì nên thiết kế một mạng không dây có sử dụng router.
Phân tích một chút cho các bạn dễ hiểu, nếu bạn có một kết nối Internet 1MBps hoặc 2MBps thì bạn vẫn phải dừng lại ở tốc độ đó dù có sử dụng card không dây 11MBps hay 54MBps đi chăng nữa.
Thậm chí nếu ngay cả sau những gì chúng tôi nói trên bạn vẫn quyết định mua một card mạng không dây 54MBps, thì phải bảo đảm rằng card mạng này phải tương thích với chuẩn 802.11b, vì nhờ đó bạn có thể xây dựng một mạng không dây mà không cần sử dụng router, vì các mạng ad-hoc chỉ làm việc ở tốc độ 11MBps. Cũng là một ý tưởng tốt nếu bạn mua tất cả các card đều có cùng chuẩn 54MBps (a hoặc g), phòng khi trong tương lai bạn quyết định nâng cấp mạng bằng cách cài đặt một router không dây thì tất cả các card này đều có thể đáp ứng được khả năng truyền tải 54MBps.
Có hai kiểu card mạng không dây hiện có trên thị trường: USB và add-on. Thông thường card add-on chạy ổn định hơn. Card add-on cho các máy tính desktop được cung cấp cho slot PCI (có thể cho slot PCI Express x1 trong tương lai) và card add-on của các máy tính laptops được cung cấp cho slot PC Card (PCMCIA) hoặc slot Express Card. Nếu laptop của bạn không có card mạng không dây đi kèm thì cần phải kiểm tra xem nó có khe cắm mở rộng hay không (PC Card hoặc Express Card) và mua một card không dây add-on cho nó (PC Card có thể là một lựa chọn sáng suốt vì các slot của Express Card cũng chấp nhận các thiết bị này).
Trong hình 1 bạn có thể thấy một card mạng không dây loại PCI add-on cho các máy desktop, trong hình 2 là một card mạng không dây USB có thể sử dụng cho các máy desktop và laptop, còn trong hình 3 là một card mạng không dây PC Card add-on cho các máy laptop.
Hình 1: Card mạng không dây PCI add-on
Hình 2: Card mạng không dây USB
Hình 3: Card mạng không dây PC Card
Việc cài đặt card này cần phải được thực hiện theo hướng dẫn sử dụng của card. Thông thường nó rất đơn giản: chỉ cần kết nối thiết bị với máy tính (nếu cài đặt một card PCI trên máy desktop thì bạn cần tắt máy và mở case), bật máy trở lại và cài đặt driver của card.
Với card PCI như thể hiện trong hình 1 (một card D-Link DWL-G510), chúng tôi cần phải cài đặt driver trước khi lắp đặt card vào máy tính.
Cài đặt card mạng không dây vào các máy tính sẽ được kết nối với mạng không dây. Bước tiếp theo là cấu hình máy chủ, nghĩa là máy tính có kết nối băng thông rộng. Nếu bạn muốn chia sẻ kết nối Internet của mình bằng một router băng thông rộng thông thường (nghĩa là không có khả năng không dây) thì bất kỳ máy tính nào đã được kết nối với router đều có thể được cấu hình là máy chủ. Trong trường hợp này bạn chỉ cần nhớ rằng: cần thay đổi dải địa chỉ IP của mạng nếu nó đã được cấu hình sử dụng dải 192.168.0.x thành 192.168.1.x vì dịch vụ chia sẻ Internet của Windows sử dụng dải 192.168.0.x và khi đó bạn sẽ bị xung đột các địa chỉ IP trong mạng của mình. Cấu hình này được thực hiện bằng cách vào chương trình cài đặt của router (thông thường là mở http://192.168.0.1 từ bất kỳ máy tính nào đã đựợc kết nối tới nó).
Cấu hình máy chủ
Bạn cần cấu hình máy chủ, nghĩa là máy tính có kết nối băng thông rộng. Như những gì chúng tôi đã đề cập, nếu bạn tắt máy chủ thì tất cả các máy tính sẽ mất truy cập vào Internet.
Thực hiện theo hướng dẫn tường bước dưới đây:
1. Vào Start > Control Panel > Network Connections. Kích chuột phải vào kết nối không dây (thường vẫn được gọi là “Wireless Network Connection”) và chọn Properties.
Hình 4: Chọn thuộc tính của kết nối không dây
2. Trong cửa sổ xuất hiện, kích vào tab Wireless Networks (xem trong hình 5). Bảo đảm rằng không có mạng không dây nào được liệt kê dưới Preferred Networks. Nếu bạn thấy có mạng nào ở đây, hãy lần lượt xóa chúng đi.
Hình 5: Cấu hình mạng không dây
3. Kích vào nút Advanced và cửa sổ như trong hình 6 sẽ xuất hiện. Chọn “Computer-to-computer (ad-hoc) networks only” và kích Close.
Hình 6: Cấu hình mạng theo kiểu ad-hoc
4. Cửa sổ thể hiện trong hình 5 sẽ hiện lại một lần nữa. Lúc này kích vào Add và cửa sổ mới sẽ xuất hiện như trong hình 7. Bạn cần phải điền vào đó một số thứ dưới đây:
Hình 7: Tạo mạng không dây riêng
* Network Name (SSID): Đây sẽ là tên mạng của bạn. Đây là cách các máy tính sẽ gọi mạng. Trong trường hợp của này, chúng tôi gọi nó là “MyHome”.
* Network Authentication: Open.
* Data encryption: WEP.
* Hủy chọn “The key is provided for me automatically”
* Cấu hình khóa bảo vệ. Đây là mật khẩu sẽ được sử dụng để mã hóa dữ liệu truyền tải trong mạng, ngăn chặn hàng xóm lướt Web “chùa” và cũng ngăn chặn người khác xem hoặc xóa các file của bạn, nếu tính năng chia sẻ file được kích hoạt trong mạng.
5. Sau khi kích OK, bạn sẽ thấy mạng vừa tạo xuất hiện dưới Preferred Networks, xem trong hình 8. Mạng lúc này vẫn bị liệt kê với một chữ “x” đỏ, đây là điều hết sức bình thường và bạn không phải lo lắng nhiều.
Hình 8: Mạng đã được liệt kê
6. Lúc này bạn cần chia sẻ kết nối Internet. Hãy chú ý vì điều này được thực hiện trên card mạng có Internet băng thông rộng đã kết nối, không phải card mạng không dây. Vào Network Connections (Start > Control Panel), kích chuột phải vào card mạng đang kết nối Internet băng thông rộng và sau đó chọn Properties. Trong cửa sổ Properties, bạn kích tab Advanced. Ở tab này, bạn tích vào hộp “Allow other network users to connect thru this computer’s Internet connection” và hủy chọn hộp “Allow other network users to control or disable the shared Internet connection”, như trong hình 9.
Hình 9: Chia sẻ kết nối Internet
7. Kích OK và lúc này bạn sẽ nhìn thấy từ “Shared” nằm dưới tên của kết nối mạng Internet băng thông rộng (thường được gọi là “Local Area Connection”), xem trong hình 10. Kết nối không dây của bạn sẽ vẫn có chữ “Not Connected”; không vấn đề gì cả. Nó sẽ chỉ thay đổi thành “Connected” sau khi có một máy tính nào đó đã nhập vào mạng.
Hình 10: Kết nối Internet đã được chia sẻ
8. Lúc này máy chủ đã được cấu hình đúng, bạn cần cấu hình các máy tính khác truy cập vào mạng không dây.
Cấu hình các máy tính khác
Bạn đã cấu hình xong máy chủ, đây là lúc bạn cần phải cấu hình các máy tính khác cần truy cập vào mạng không dây. Cấu hình này rất đơn giản; bạn chỉ cần theo các bước dưới đây:
9. Nếu bạn đã cấu hình đúng máy chủ thì mạng không dây sẽ được liệt kê trong danh sách mạng tất cả các máy tính có card mạng không dây bên trong dải của card đã được cài đặt trên máy chủ. Chỉ cần kích vào biểu tượng mạng không dây có trên task bar và kích đúp vào kết nối không dây của bạn trong Network Connections (Start > Control Panel) để xem danh sách các mạng không dây đang có. Như những gì thấy trong hình 11, chúng ta có một số mạng không dây (tất cả đều là hàng xóm của mình, như vậy vấn đề mã hóa ở đây là rất quan trọng). Tất cả những gì bạn cần thực hiện là kích vào mạng của mình (trong trường hợp ví dụ này là MyHome).
Hình 11: Danh sách các mạng không dây
10. Sau khi kích đúp vào mạng của bạn, Windows sẽ hỏi mật khẩu mạng (mật khẩu mà chúng ta đã cấu hình trong bước 4), xem hình 12:
Hình 12: Nhập khóa mật khẩu (password) để truy cập vào mạng không dây
11. Sau khi kích OK, trạng thái mạng sẽ được liệt kê “Acquiring Network Address” và sau đó sẽ thay đổi thành “Connected”, bạn có thể xem trong hình 13.
Hình 13: Lúc này bạn đã kết nối vào mạng
12. Sau đây bạn có thể truy cập vào Internet bằng kết nối Internet có sẵn trong máy chủ. Kiểm tra mạng bằng cách mở trình duyệt web (Internet Explorer hoặc Firefox) và nhập vào đó một địa chỉ web mà bạn đã biết.
13. Lúc này trên máy chủ kết nối không dây sẽ xuất hiện với dòng chữ “connected”, xem trong hình 14. Như những gì chúng tôi đã nói từ trước, kết nối không dây trên máy chủ sẽ xuất hiện “connected” chỉ khi có một máy tính khác đã kết nối vào mạng.
Hình 14: Kết nối không dây của máy tính chủ xuất hiện “Connected”.
14. Để ngăn chặn các vấn đề không ổn định của mạng không dây, chúng tôi khuyên bạn xóa tất cả các mạng khác xuất hiện trong danh sách Preferred Networks trên tất cả các máy tính. Bạn có thể thực hiện bằng cách kích chuột phải vào kết nối không dây trong Network Connections (Start > Control Panel), chọn Properties, khi cửa sổ Properties xuất hiện, bạn kích tab Wireless Networks. Xóa tất cả các mạng khác đã liệt kê trong Preferred Networks trừ mạng của bạn, xem trong hình 15.
Hình 15: Xóa tất cả các mạng khác và chỉ để lại mạng của chính bạn
15. Lúc này bạn có thể chia sẻ kết nối Internet giữa các máy tính và cũng có thể cấu hình mạng của mình để chia sẻ máy in và file. Thứ tuyệt vời nhất về việc chia sẻ là các file và máy in mà bạn muốn chia sẻ không cần đặt trên máy chủ, chúng có thể được đặt ở bất kỳ máy tính nào trong mạng (tuy nhiên nếu bạn chia sẻ một máy in thì chúng tôi khuyên bạn nên kết nối máy in với máy chủ vì máy tính này sẽ luôn được bật).
TheWall - VietCNTT.com
( Theo Hardwaresecrets - QTM )
http://vietcntt.com/news/modules.php?name=News&op=viewst&sid=5504
Hiển thị các bài đăng có nhãn WIRELESS. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn WIRELESS. Hiển thị tất cả bài đăng
21 thg 4, 2008
Khắc phục các sự cố mạng đơn giản trong gia đình
Wi-Fi kết nối quá chậm hoặc không thể kết nối, máy in không thể chia sẻ -- chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn những thao tác cơ bản để khắc phục các vấn đề như vậy.
Tại sao các máy tính của tôi không thể nhìn thấy nhau trên mạng mặc dù tất cả đều có thể truy cập internet?
Do tất cả các máy tính của bạn đều có thể truy cập Internet nên chúng ta có thể thừa nhận rằng bạn không gặp các vấn đề nào về phần cứng mạng.
Hãy bắt đầu công việc khắc phục tình huống này bằng tiện ích khắc phục sự cố mạng của Windows – nó không những có khả năng trợ giúp mà còn có thể thực hiện nhanh chóng và dễ dàng. Trong XP, bạn chọn Start > Help and Support. Kích Fixing a problem và sau đó Networking Problems. Trong Vista bạn chọn Start > Help and Support. Trong cả hai phiên bản Windows, kích Troubleshooting, sau đó là Troubleshoot problems finding computers on a home network.
Nếu hoạt động đó không giúp gì được thì bạn hãy kiểm tra tường lửa. Các firewall máy tính của hãng thứ ba như ZoneAlarm và Norton Internet Security thường khóa các mạng nội bộ. Chú ý: Để an toàn, bạn hãy bắt đầu bằng cách hủy kết nối kết nối internet thông qua việc tắt thiết bị DSL hoặc modem hoặc tháo cáp kết nối modem với router. Sau đó tắt tường lửa của mỗi máy tính.
Nếu các máy tính vẫn không nhìn thấy nhau thì nguyên nhân không phải là do tường lửa.
Bạn hãy thử bật lại tường lửa của một máy. Vấn đề như vậy có xuất hiện trở lại không? Hãy kiểm tra các thiết lập tường lửa của máy tính và tài liệu để xem cách khắc phục nào khác. Bạn có thể phải add các máy tính khác còn lại vào "Trusted Zone" hoặc một vài nhóm như vậy.
Lặp lại quá trình này với mỗi máy tính. Không kết nối lại với Internet cho tới khi tất cả tường lửa được backup và làm việc.
Đây là một số bước cần thiết để khắc phục sự cố các vấn đề tiềm ẩn khác.
Làm cho tất cả các máy tính của bạn nằm trong cùng một nhóm làm việc: Nhấn Windows-R, đánh sysdm.cpl, và nhấn Enter (nếu là XP, bạn hãy kích Start > Run, đánh sysdm.cpl, và nhấn Enter; hoặc trong Vista kích Start, đánh sysdm.cpl, và nhấn Enter). Kích chọn tab Computer Name. Nếu tên nhóm làm việc (workgroup) ở đây không phù hợp với tên workgroup được liệt kê trên các máy tính khác hãy kích Change.
Kích hoạt tính năng chia sẻ. Nhấn Windows-R (hoặc sử dụng phương pháp này cho XP còn Vista sử đã được đề cập ở trên), đánh vào đó ncpa.cpl, và nhấn Enter. Kích chuột phải vào kết nối mạng thích hợp, chọn Properties. Nếu tùy chọn File and Printer Sharing for Microsoft Networks không được chọn thì hãy đánh dấu để chọn nó.
Nếu bạn sử dụng Vista, cần phải chọn Start > Network, kích Network and Sharing Center. Ở đây bạn có thể tinh chỉnh các thiết lập chia sẻ file của mình.
Chia sẻ một thư mục: Trong Windows Explorer của XP, bạn vào thư mục muốn chia sẻ. Nếu biểu tượng của thư mục không có hình bàn tay nhỏ thì hãy kích chuột phải vào nó, chọn Sharing and Security. Trong tab Sharing của hộp thoại mở ra, bạn tích vào hộp kiểm Folder on the network, và hoàn tất các tùy chọn khác.
Nếu hệ điều hành của bạn là Vista, biểu tượng thư mục có một bức tranh nhỏ hai người. Nếu không có, nghĩa là thư mục đó chưa được chia sẻ, bạn hãy kích chuột phải vào nó và chọn Share. Trong hộp thoại mới xuất hiện, đánh everyone vào trường văn bản, kích Add và điều chỉnh mức cho phép của bạn (nếu muốn) và kích Share.
Nếu các máy tính vẫn không nhìn thấy nhau, lần này bạn hãy nhấn Windows-R, đánh vào đó đường dẫn mạng của máy tính khác và nhấn Enter. Đường dẫn mạng là hai dấu sổ chéo và tên của máy tính trong mạng, ví dụ như chris chẳng hạn.
Nếu bước này thành công, bạn có thể bản đồ hóa các máy tính như như một ổ đĩa mạng hoặc tạo một đường tắt cho nó.
Cách chia sẻ máy in trong mạng
Thực sự có đến 3 cách để thực hiện điều này. Chúng tay hãy bắt đầu với cách hoàn toàn miễn phí.
Bạn có thể kết nối dễ dàng máy in với một máy tính và chia sẻ nó với các máy tính khác mà không mất thêm một xu nào. Tuy nhiên có một điểm yếu là bạn không thể in từ những máy tính xa cả về khoảng cách mà chỉ từ máy được lắp trực tiếp.
Nếu bạn hoàn toàn thỏa mãn với điều kiện đó, hãy theo tài liệu hướng dẫn của máy in để cài đặt nó trên máy tính đã chọn. Sau đó trong Printers and Faxes của Control Panel, bạn kích chuột phải và chọn Sharing, tích vào hộp kiểm Share this pritner và kích OK để chấp nhận các thiết lập chia sẻ mặc định đối với máy in.
Trên các máy tính khác, bạn mở Printers and Faxes của Control Panel và kích Add a printer. Trong cửa sổ mới xuất hiện, chọn tùy chọn network. Nó sẽ tìm máy in và đưa bạn đến những công việc cài đặt còn lại.
Trên máy tính từ xa, chọn Add a network, wireless or Bluetooth printer để duyệt tới một máy in được chia sẻ từ máy tính khác
Nếu bỏ đi một máy tính kết nối chỉ để làm thao tác này và gây tốn thời gian thì bạn nên xem xét đến giải pháp mua một máy chủ in nhỏ (print server). Giá thành khoảng 50 USD hoặc ít hơn, máy chủ in mini là một hộp nhỏ (thường nhỏ hơn cả adapter AC của chính nó) với một cổng USB hoặc cổng song song ở phía cuối và Wi-Fi hoặc ethernet ở đầu kia. Bạn cắm nó vào máy in và mạng, cài đặt driver trên tất cả các máy tính khác, khi đó mọi người đều có thể thực hiện thao tác in ấn.
Có nhiều thứ không thực sự đơn giản với giao diện USB. Nếu máy in của bạn thiếu giao diện song song thì sẽ phải tìm một máy in có giao diện USB. Bạn có thể tìm kiếm thêm thông tin model của máy in thông qua search engine với chuỗi từ khoá tìm kiếm là print server. Tiếp sau đó bạn có thể chọn hãng máy in và xem xem máy chủ nào được khuyến khích nên dùng.
Việc sử dụng máy chủ in có thể gây ra vấn đề là máy đó luôn luôn phải được bật.
Nếu các vấn đề này đều không chấp nhận được hoặc nếu máy in của bạn thiếu cổng song song và không thể tìm ra máy chủ USB thích hợp, thì bạn có thể phải chấp nhận hoàn cảnh là sử dụng một máy đã được kết nối, bật liên tục và đây cũng là tùy chọn tốn kém nhất: mua một máy in có khả năng kết nối mạng.
Một máy in được trang bị ethernet hoặc Wi-Fi sẽ là giải pháp đơn giản nhất và linh hoạt nhất, nhưng dù sao đi chăng nữa bạn cũng cần đặt ra câu hỏi liệu có cần đến một máy in mới không. Chỉ cần lưu ý khả năng kết nối mạng trong đầu, bạn hãy đi “shopping” để tìm kiếm lấy một máy in mới. Các máy in có khả năng kết nối mạng hiện được bán trên thị trường với nhiều mức giá khác nhau.
Tại sao tốc độ không dây của tôi lại thay đổi quá nhanh và tại sao sự thay đổi này lại dường như ảnh hưởng tới hiệu suất Internet?
Nếu bạn đã từng nghe đài trong khi ngồi trong xe car và chạy bên trong một đường hầm dài, bạn sẽ thấy rằng sự thay đổi của môi trường sẽ ảnh hưởng đến tín hiệu không dây như thế nào. Ở đây cũng vậy với tín hiệu không dây của bạn vì trong nhà bạn đôi khi ai đó có thể văn to lò vi sóng, sóng Wi-Fi của hàng xóm,….
Một thứ khác nữa đó là hiện tượng xuyên nhiễu – nếu nó không làm mất toàn bộ cường độ tín hiệu của bạn thì cũng làm cho kết nối mạng của bạn bị chậm đi nhiều. Chính vì vậy không nên ngạc nhiên về tín hiệu Wi-Fi của bạn lại chậm và hay thay đổi như vậy.
TheWall - VietCNTT.com
( Theo PC World - QTM )
http://vietcntt.com/news/modules.php?name=News&op=viewst&sid=5745
Tại sao các máy tính của tôi không thể nhìn thấy nhau trên mạng mặc dù tất cả đều có thể truy cập internet?
Do tất cả các máy tính của bạn đều có thể truy cập Internet nên chúng ta có thể thừa nhận rằng bạn không gặp các vấn đề nào về phần cứng mạng.
Hãy bắt đầu công việc khắc phục tình huống này bằng tiện ích khắc phục sự cố mạng của Windows – nó không những có khả năng trợ giúp mà còn có thể thực hiện nhanh chóng và dễ dàng. Trong XP, bạn chọn Start > Help and Support. Kích Fixing a problem và sau đó Networking Problems. Trong Vista bạn chọn Start > Help and Support. Trong cả hai phiên bản Windows, kích Troubleshooting, sau đó là Troubleshoot problems finding computers on a home network.
Nếu hoạt động đó không giúp gì được thì bạn hãy kiểm tra tường lửa. Các firewall máy tính của hãng thứ ba như ZoneAlarm và Norton Internet Security thường khóa các mạng nội bộ. Chú ý: Để an toàn, bạn hãy bắt đầu bằng cách hủy kết nối kết nối internet thông qua việc tắt thiết bị DSL hoặc modem hoặc tháo cáp kết nối modem với router. Sau đó tắt tường lửa của mỗi máy tính.
Nếu các máy tính vẫn không nhìn thấy nhau thì nguyên nhân không phải là do tường lửa.
Bạn hãy thử bật lại tường lửa của một máy. Vấn đề như vậy có xuất hiện trở lại không? Hãy kiểm tra các thiết lập tường lửa của máy tính và tài liệu để xem cách khắc phục nào khác. Bạn có thể phải add các máy tính khác còn lại vào "Trusted Zone" hoặc một vài nhóm như vậy.
Lặp lại quá trình này với mỗi máy tính. Không kết nối lại với Internet cho tới khi tất cả tường lửa được backup và làm việc.
Đây là một số bước cần thiết để khắc phục sự cố các vấn đề tiềm ẩn khác.
Làm cho tất cả các máy tính của bạn nằm trong cùng một nhóm làm việc: Nhấn Windows-R, đánh sysdm.cpl, và nhấn Enter (nếu là XP, bạn hãy kích Start > Run, đánh sysdm.cpl, và nhấn Enter; hoặc trong Vista kích Start, đánh sysdm.cpl, và nhấn Enter). Kích chọn tab Computer Name. Nếu tên nhóm làm việc (workgroup) ở đây không phù hợp với tên workgroup được liệt kê trên các máy tính khác hãy kích Change.
Kích hoạt tính năng chia sẻ. Nhấn Windows-R (hoặc sử dụng phương pháp này cho XP còn Vista sử đã được đề cập ở trên), đánh vào đó ncpa.cpl, và nhấn Enter. Kích chuột phải vào kết nối mạng thích hợp, chọn Properties. Nếu tùy chọn File and Printer Sharing for Microsoft Networks không được chọn thì hãy đánh dấu để chọn nó.
Nếu bạn sử dụng Vista, cần phải chọn Start > Network, kích Network and Sharing Center. Ở đây bạn có thể tinh chỉnh các thiết lập chia sẻ file của mình.
Chia sẻ một thư mục: Trong Windows Explorer của XP, bạn vào thư mục muốn chia sẻ. Nếu biểu tượng của thư mục không có hình bàn tay nhỏ thì hãy kích chuột phải vào nó, chọn Sharing and Security. Trong tab Sharing của hộp thoại mở ra, bạn tích vào hộp kiểm Folder on the network, và hoàn tất các tùy chọn khác.
Nếu hệ điều hành của bạn là Vista, biểu tượng thư mục có một bức tranh nhỏ hai người. Nếu không có, nghĩa là thư mục đó chưa được chia sẻ, bạn hãy kích chuột phải vào nó và chọn Share. Trong hộp thoại mới xuất hiện, đánh everyone vào trường văn bản, kích Add và điều chỉnh mức cho phép của bạn (nếu muốn) và kích Share.
Nếu các máy tính vẫn không nhìn thấy nhau, lần này bạn hãy nhấn Windows-R, đánh vào đó đường dẫn mạng của máy tính khác và nhấn Enter. Đường dẫn mạng là hai dấu sổ chéo và tên của máy tính trong mạng, ví dụ như chris chẳng hạn.
Nếu bước này thành công, bạn có thể bản đồ hóa các máy tính như như một ổ đĩa mạng hoặc tạo một đường tắt cho nó.
Cách chia sẻ máy in trong mạng
Thực sự có đến 3 cách để thực hiện điều này. Chúng tay hãy bắt đầu với cách hoàn toàn miễn phí.
Bạn có thể kết nối dễ dàng máy in với một máy tính và chia sẻ nó với các máy tính khác mà không mất thêm một xu nào. Tuy nhiên có một điểm yếu là bạn không thể in từ những máy tính xa cả về khoảng cách mà chỉ từ máy được lắp trực tiếp.
Nếu bạn hoàn toàn thỏa mãn với điều kiện đó, hãy theo tài liệu hướng dẫn của máy in để cài đặt nó trên máy tính đã chọn. Sau đó trong Printers and Faxes của Control Panel, bạn kích chuột phải và chọn Sharing, tích vào hộp kiểm Share this pritner và kích OK để chấp nhận các thiết lập chia sẻ mặc định đối với máy in.
Trên các máy tính khác, bạn mở Printers and Faxes của Control Panel và kích Add a printer. Trong cửa sổ mới xuất hiện, chọn tùy chọn network. Nó sẽ tìm máy in và đưa bạn đến những công việc cài đặt còn lại.
Trên máy tính từ xa, chọn Add a network, wireless or Bluetooth printer để duyệt tới một máy in được chia sẻ từ máy tính khác
Nếu bỏ đi một máy tính kết nối chỉ để làm thao tác này và gây tốn thời gian thì bạn nên xem xét đến giải pháp mua một máy chủ in nhỏ (print server). Giá thành khoảng 50 USD hoặc ít hơn, máy chủ in mini là một hộp nhỏ (thường nhỏ hơn cả adapter AC của chính nó) với một cổng USB hoặc cổng song song ở phía cuối và Wi-Fi hoặc ethernet ở đầu kia. Bạn cắm nó vào máy in và mạng, cài đặt driver trên tất cả các máy tính khác, khi đó mọi người đều có thể thực hiện thao tác in ấn.
Có nhiều thứ không thực sự đơn giản với giao diện USB. Nếu máy in của bạn thiếu giao diện song song thì sẽ phải tìm một máy in có giao diện USB. Bạn có thể tìm kiếm thêm thông tin model của máy in thông qua search engine với chuỗi từ khoá tìm kiếm là print server. Tiếp sau đó bạn có thể chọn hãng máy in và xem xem máy chủ nào được khuyến khích nên dùng.
Việc sử dụng máy chủ in có thể gây ra vấn đề là máy đó luôn luôn phải được bật.
Nếu các vấn đề này đều không chấp nhận được hoặc nếu máy in của bạn thiếu cổng song song và không thể tìm ra máy chủ USB thích hợp, thì bạn có thể phải chấp nhận hoàn cảnh là sử dụng một máy đã được kết nối, bật liên tục và đây cũng là tùy chọn tốn kém nhất: mua một máy in có khả năng kết nối mạng.
Một máy in được trang bị ethernet hoặc Wi-Fi sẽ là giải pháp đơn giản nhất và linh hoạt nhất, nhưng dù sao đi chăng nữa bạn cũng cần đặt ra câu hỏi liệu có cần đến một máy in mới không. Chỉ cần lưu ý khả năng kết nối mạng trong đầu, bạn hãy đi “shopping” để tìm kiếm lấy một máy in mới. Các máy in có khả năng kết nối mạng hiện được bán trên thị trường với nhiều mức giá khác nhau.
Tại sao tốc độ không dây của tôi lại thay đổi quá nhanh và tại sao sự thay đổi này lại dường như ảnh hưởng tới hiệu suất Internet?
Nếu bạn đã từng nghe đài trong khi ngồi trong xe car và chạy bên trong một đường hầm dài, bạn sẽ thấy rằng sự thay đổi của môi trường sẽ ảnh hưởng đến tín hiệu không dây như thế nào. Ở đây cũng vậy với tín hiệu không dây của bạn vì trong nhà bạn đôi khi ai đó có thể văn to lò vi sóng, sóng Wi-Fi của hàng xóm,….
Một thứ khác nữa đó là hiện tượng xuyên nhiễu – nếu nó không làm mất toàn bộ cường độ tín hiệu của bạn thì cũng làm cho kết nối mạng của bạn bị chậm đi nhiều. Chính vì vậy không nên ngạc nhiên về tín hiệu Wi-Fi của bạn lại chậm và hay thay đổi như vậy.
TheWall - VietCNTT.com
( Theo PC World - QTM )
http://vietcntt.com/news/modules.php?name=News&op=viewst&sid=5745
20 thg 4, 2008
Lỗi và khắc phục lỗi mạng
Máy tính ở cơ quan của bạn đột nhiên không vào được mạng, hoặc mất kết nối, không nhìn thấy các máy tính khác cũng như các dữ liệu chia sẻ hay không thể kết nối với máy in của mạng nội bộ. Gọi đội hỗ trợ kỹ thuật thì không phải lúc nào cũng có mặt ngay...
Để "xử lý" được những vấn đề này, bạn có thể thực hiện các thủ thuật dưới đây.
Không hiển thị các máy tính trong cùng mạng
Trong nhiều trường hợp, các sự cố về chia sẻ file trong mạng xuất phát từ lỗi Workgroup và cách đặt tên máy tính.
Hãy đảm bảo rằng mỗi máy tính có một tên duy nhất; nhiều máy tính có cùng một tên, ví dụ như Dell hoặc Desktop có thể là nguyên nhân dẫn đến vấn đề này. Không sử dụng dấu cách trong khi đặt tên máy tính (ví dụ: Windows ME, Mai Linh), và không tạo ra tên có trên 15 ký tự. Ngoài ra, hãy đảm bảo rằng tất cả các máy tính trong mạng sử dụng tên workgroup giống nhau. Tên workgroup mặc định trong Windows XP Home là 'MSHome'; trong Windows phiên bản sau này và trong Windows Vista là 'Workgroup'. Để thay đổi workgroup hay tên máy tính, trước tiên kích chuột vào nút Start ->Control Panel -> System và chọn tab Computer Name (Tên máy tính).
Mất kết nối
Thông thường lỗi này có thể được giải quyết bằng cách khởi động lại modem dải bằng tần, router mạng, và/hoặc máy tính. Nếu như bạn phải lặp đi lặp lại thao tác này thì rất có thể lỗi này xuất phát từ cài đặt máy tính và router.
Trước tiên, hãy kéo dài thời gian DHCP- Giao thức cấu hình Host động (thời gian router lưu trữ địa chỉ IP của thiết bị trong mạng) trong vòng ít nhất một tuần. Bạn có thể thực hiện việc cài đặt này nhờ truy cập trang web của công ty phần mền.
Nếu laptop bị mất kết nối, hãy kiểm tra chế độ cài đặt quản lý nguồn đối với adapter mạng. Trong hệ điều hành Windows XP, hãy truy cập vào trang Web về Adapter của nhà quản lý, tìm đến adapter tương ứng với của bạn và chọn Properties. Dưới tab Quản lý Nguồn, bỏ dấu tích trong hộp có chức năng tắt nguồn của bạn. Việc làm này có thể khiến pin của bạn đi hao mòn đi chút ít nhưng ngược lại, kết nối mạng sẽ ổn định.
Dịch vụ DNS cũng là nguyên nhân dẫn đến mất kết nối mạng. Máy chủ DNS là máy tính mà ISP của bạn lưu dữ liệu dùng để dịch những URLs đơn lẻ sang địa chỉ IP tương ứng trong mạng Internet. Nếu như bạn nhận được thông báo rằng không thể tìm được trang Web hoặc không thể truy cập được địa chỉ email , thì hãy sử dụng máy chủ DNS tại OpenDNS.com để thay thế ISP của bạn. Để làm được việc này, trước hết bạn truy cập vào chế độ cài đặt mạng WAN trong mục router tại trình duyệt Web của công ty phần mền; sau đó thay đổi địa chỉ IP cho DNS sang 208.67.222.222 và 208.67.222.220.
Bức tường lửa làm mất kết nối
Nếu như bức tường lửa trong hệ điều hành Windows Vista vẫn được đánh giá cao thì bức tường lửa của hệ điều hành Windows XP vẫn tồn tại những thiếu khuyết. Giải pháp cho vấn đề này là hãy sử dụng công cụ tiện ích thứ ba, ZoneAlarm's Trusted Zone cho phép các máy tính trong workgroup giao tiếp với nhau.
Ngoài ra, bạn còn có thể sử dụng phần mền chương trình Network Magic dùng để quản lý việc chia sẻ file và máy in trong mạng. Phiên bản Network Magic miễn phí cho phép bạn sửa kết nối mạng và bảo vệ kết nối không dây, tuy nhiên chỉ những phiên bản trả tiến tích hợp chức năng quản lý và chia sẻ máy in và file.
Nâng mức bảo mật lên cao nhất.
Cách duy nhất để đảm bảo an toàn cho mạng là ngăn máy tính không tiếp xúc với "thế giới bên ngoài". Không truy cập Web, không email...vv.
Tuy nhiên, bạn có thể tránh được biện pháp hi hữu trên nếu như thực hiện các biện pháp an toàn trong khi sử dụng mạng như. Không mở hoặc truy cập vào những file, trang web đáng nghi. Đối với bảo mật trong mạng dùng chung, hãy sử dụng mạng riêng ảo để mã hoá toàn bộ việc lưu thông mạng internet giữa máy tính của bạn và máy chủ trung gian. Các công ty thường chạy trên máy chủ VPN;
Tiếp theo, khi cài đặt Wi-Fi, hãy tắt bỏ chế độ mạng "ad hoc" và ngăn không cho tự động kết nối tới mạng không được ưu tiên. Trong hệ điều hành Win XP, bạn có thể chuyển toàn bộ các chế độ này bằng cách kích chuột vào biểu tượng Wi-Fi trong hệ thống và chọn mục Thay đổi chế độ cài đặt nâng cao. Dưới tab Wireless Networks, kích chuột voà nút AdvancedàAccess point networks only. Cuối cùng, ngắt bỏ chế độ tự động kết nối với mạng không được ưu tiên.
Trong hệ điều hành Windows Vista, ngắt thuộc tính Vista Network Discovery (chế độ cho phép các máy tính nhìn thấy máy tính của bạn trong mạng) nếu như máy tính của bạn nằm trong khu vực nguy hiểm.
Theo MSN
http://www.trithuccongdong.com/portal/index.php?option=com_content&task=view&id=493&Itemid=113
Để "xử lý" được những vấn đề này, bạn có thể thực hiện các thủ thuật dưới đây.
Không hiển thị các máy tính trong cùng mạng
Trong nhiều trường hợp, các sự cố về chia sẻ file trong mạng xuất phát từ lỗi Workgroup và cách đặt tên máy tính.
Hãy đảm bảo rằng mỗi máy tính có một tên duy nhất; nhiều máy tính có cùng một tên, ví dụ như Dell hoặc Desktop có thể là nguyên nhân dẫn đến vấn đề này. Không sử dụng dấu cách trong khi đặt tên máy tính (ví dụ: Windows ME, Mai Linh), và không tạo ra tên có trên 15 ký tự. Ngoài ra, hãy đảm bảo rằng tất cả các máy tính trong mạng sử dụng tên workgroup giống nhau. Tên workgroup mặc định trong Windows XP Home là 'MSHome'; trong Windows phiên bản sau này và trong Windows Vista là 'Workgroup'. Để thay đổi workgroup hay tên máy tính, trước tiên kích chuột vào nút Start ->Control Panel -> System và chọn tab Computer Name (Tên máy tính).
Mất kết nối
Thông thường lỗi này có thể được giải quyết bằng cách khởi động lại modem dải bằng tần, router mạng, và/hoặc máy tính. Nếu như bạn phải lặp đi lặp lại thao tác này thì rất có thể lỗi này xuất phát từ cài đặt máy tính và router.
Trước tiên, hãy kéo dài thời gian DHCP- Giao thức cấu hình Host động (thời gian router lưu trữ địa chỉ IP của thiết bị trong mạng) trong vòng ít nhất một tuần. Bạn có thể thực hiện việc cài đặt này nhờ truy cập trang web của công ty phần mền.
Nếu laptop bị mất kết nối, hãy kiểm tra chế độ cài đặt quản lý nguồn đối với adapter mạng. Trong hệ điều hành Windows XP, hãy truy cập vào trang Web về Adapter của nhà quản lý, tìm đến adapter tương ứng với của bạn và chọn Properties. Dưới tab Quản lý Nguồn, bỏ dấu tích trong hộp có chức năng tắt nguồn của bạn. Việc làm này có thể khiến pin của bạn đi hao mòn đi chút ít nhưng ngược lại, kết nối mạng sẽ ổn định.
Dịch vụ DNS cũng là nguyên nhân dẫn đến mất kết nối mạng. Máy chủ DNS là máy tính mà ISP của bạn lưu dữ liệu dùng để dịch những URLs đơn lẻ sang địa chỉ IP tương ứng trong mạng Internet. Nếu như bạn nhận được thông báo rằng không thể tìm được trang Web hoặc không thể truy cập được địa chỉ email , thì hãy sử dụng máy chủ DNS tại OpenDNS.com để thay thế ISP của bạn. Để làm được việc này, trước hết bạn truy cập vào chế độ cài đặt mạng WAN trong mục router tại trình duyệt Web của công ty phần mền; sau đó thay đổi địa chỉ IP cho DNS sang 208.67.222.222 và 208.67.222.220.
Bức tường lửa làm mất kết nối
Nếu như bức tường lửa trong hệ điều hành Windows Vista vẫn được đánh giá cao thì bức tường lửa của hệ điều hành Windows XP vẫn tồn tại những thiếu khuyết. Giải pháp cho vấn đề này là hãy sử dụng công cụ tiện ích thứ ba, ZoneAlarm's Trusted Zone cho phép các máy tính trong workgroup giao tiếp với nhau.
Ngoài ra, bạn còn có thể sử dụng phần mền chương trình Network Magic dùng để quản lý việc chia sẻ file và máy in trong mạng. Phiên bản Network Magic miễn phí cho phép bạn sửa kết nối mạng và bảo vệ kết nối không dây, tuy nhiên chỉ những phiên bản trả tiến tích hợp chức năng quản lý và chia sẻ máy in và file.
Nâng mức bảo mật lên cao nhất.
Cách duy nhất để đảm bảo an toàn cho mạng là ngăn máy tính không tiếp xúc với "thế giới bên ngoài". Không truy cập Web, không email...vv.
Tuy nhiên, bạn có thể tránh được biện pháp hi hữu trên nếu như thực hiện các biện pháp an toàn trong khi sử dụng mạng như. Không mở hoặc truy cập vào những file, trang web đáng nghi. Đối với bảo mật trong mạng dùng chung, hãy sử dụng mạng riêng ảo để mã hoá toàn bộ việc lưu thông mạng internet giữa máy tính của bạn và máy chủ trung gian. Các công ty thường chạy trên máy chủ VPN;
Tiếp theo, khi cài đặt Wi-Fi, hãy tắt bỏ chế độ mạng "ad hoc" và ngăn không cho tự động kết nối tới mạng không được ưu tiên. Trong hệ điều hành Win XP, bạn có thể chuyển toàn bộ các chế độ này bằng cách kích chuột vào biểu tượng Wi-Fi trong hệ thống và chọn mục Thay đổi chế độ cài đặt nâng cao. Dưới tab Wireless Networks, kích chuột voà nút AdvancedàAccess point networks only. Cuối cùng, ngắt bỏ chế độ tự động kết nối với mạng không được ưu tiên.
Trong hệ điều hành Windows Vista, ngắt thuộc tính Vista Network Discovery (chế độ cho phép các máy tính nhìn thấy máy tính của bạn trong mạng) nếu như máy tính của bạn nằm trong khu vực nguy hiểm.
Theo MSN
http://www.trithuccongdong.com/portal/index.php?option=com_content&task=view&id=493&Itemid=113
Sáu bước cho cuộc khảo sát vị trí mạng không dây
Các cuộc khảo sát vị trí mạng không dây định kỳ là rất quan trọng.
Để mạng không dây luôn hoạt động ở mức tốt nhất bạn phải đảm bảo các điểm truy cập (Access Points - AP) phải ở khu vực tốt nhất và các sóng radio (có thể là nguyên nhân gây nhiễu) phải ở mức ít nhất.
Tuỳ thuộc vào kiểu cài đặt, có một số công cụ hỗ trợ bạn thực hiện việc này, chẳng hạn như phần mềm trong chương trình khảo sát vị trí. Các bước cơ bản sau đây sẽ giúp bạn hoàn thành công việc ở mức tốt nhất:
Nguồn: unifiedbarcode1. Vạch ra kế hoạch chi tiết, hay kế hoạch cơ bản về những khu vực mà bạn muốn mạng không dây phủ tới. Một số sản phẩm phần mềm có thể giúp bạn xây dựng kế hoạch cơ bản một cách trực tiếp. Hãy xem xét kế hoạch và các trở ngại như tường, tiền sảnh, thang máy, sàn nhà - những thứ có thể cản trở tín hiệu sóng. Cũng cần chú ý nơi có thể cung cấp cho người dùng (cũng như nơi không cung cấp) để xác định phạm vi trung bình.
2. Xác định nơi cấp phát các điểm truy cập (AP) dựa trên nguồn điện và cáp mà bạn có thể kết nối các AP với phần còn lại của mạng. Hãy nhớ rằng bạn không nên đặt các điểm truy cập gần những vật bằng kim loại hay tường bê tông. Nên đặt chúng càng gần trần nhà càng tốt.
3. Ước lượng tổng số điểm truy cập cần thiết cho toàn bộ phạm vi mạng. Nên nhớ nguyên tắc hàng đầu là một AP có thể cung cấp cho phạm vi bán kính khoảng 30m, điều này cung cấp cho bạn sơ bộ phạm vi khu vực AP giúp bạn bắt đầu cuộc khảo sát. Nếu đã có một số điểm truy cập rồi, hãy chú ý vị trí của nó trên kế hoạch sơ bộ.
4. Sử dụng công cụ khảo sát. Hãy chắc chắn rằng bạn đã dùng cùng một mô hình AP trong cuộc khảo sát với cơ sở hạ tầng thật của bạn. Hãy xem phần hướng dẫn bên dưới để lựa chọn công cụ sử dụng cho phù hợp.
5. Định vị và kiểm tra lại các điểm truy cập, tuỳ thuộc vào kết quả trong cuộc khảo sát của bạn.
6. Sử dụng tài liệu tìm kiếm: hãy ghi lại các khu vực và tài liệu đọc ký hiệu, dữ liệu ước tính quan sát được cho các lần làm việc sau.
Nguồn: summittechnologies
Bạn nên lựa chọn công cụ nào phù hợp nhất cho buổi khảo sát? Có 3 loại cơ bản sau:
Đầu tiên là các phần mềm dựa trên nền Windows, có thể dùng trên một laptop đơn. Các phần mềm này giúp bạn ghi lại các tính toán ước lượng như độ dài tín hiệu khi đi quanh toà nhà. Bạn chỉ cần mua một AP đơn và luân chuyển quanh các vị trí tiềm năng xác định ở bước 3. Công cụ này phù hợp cho những nơi đòi hỏi phần cài đặt nhỏ, chỉ từ một tới ba AP.
Chúng cũng tốt trong trường hợp bạn không có kế hoạch ‘văn phòng mở’ đơn giản, nhưng lại có các kiểu hành lang khác nhau và các điểm chết sóng tiềm ẩn nằm rải rác quanh nhiều tầng. Có những công cụ miễn phí cho bạn lựa chọn như NetStumbler và nhiều tính năng hơn với AirMagnet Survey, Visiwave, Fluke Networks InterpretAir, Ekahau Site Survey nhưng có giá khoảng vài nghìn đô la.
Ngoài ra còn có các công cụ khác làm việc kết hợp với các sản phẩm không dây chuyển đổi. Chúng có thể là của Cisco Systems, Aruba Networks và Trapeze Networks, giám sát phạm vi sóng của bạn, cung cấp cho bạn lời khuyên về vị trí nên đặt các điểm AP tốt nhất.
Aruba Mobility Controller có thời gian thử nghiệm miễn phí và là một phần tích hợp trong bộ sản phẩm switch của nhà sản xuất. Wireless Control System của Cisco có giá 4000 đô la và RingMaster của Trapeze có giá hơn 549 đô la. Nếu bạn không quyết định được hãng cung cấp cơ sở hạ tầng không dây, hãy đánh giá công cụ phân tích của họ.
Nguồn: teamhogan
Một vấn đề với các công cụ này là khi áp dụng vào cơ sở hạ tầng thực các thông số về điểm chết và những khu vực phủ sóng nghèo nàn không được chính xác. Tuỳ thuộc vào kế hoạch cơ sở và số các trở ngại như tường dày, tường kim loại, bạn có thể cần phải mua một trong các công cụ “bao xung quanh tường” đã được thảo luận ở trên.
Cuối cùng là một số công cụ tương tự có độ co giãn lớn. Chúng hữu ích trong đánh giá kích thước cho những nơi xây dựng nhiều tầng, khu sân bãi, trường sở. Bạn cũng có thể dùng cho các hoạt động triển khai tương tự hay cho các đòi hỏi của nhiều mô hình khác nhau trong tương lai. Các công cụ này bao gồm SpectraGuard Planner của AirTight Networks, Wireless Valley LANPlanner, AirDefense Survey của Motorola, Wireless LAN Planner của Bluesocket. RingMaster của Trapeze cũng có khả năng xây dựng mô hình radio và các chức năng tương tự. Các công cụ này hữu ích trong hoạt động đánh giá tổng số các AP bạn sẽ cần và mô phỏng môi trường cuối cùng nên xây dựng cho bạn tương đối tốt. Nhưng chúng không thể nói cho bạn biết các thiết bị gây trở ngại hay cung cấp cho bạn tổng thể tất cả về môi trường mạng không dây bạn sắp xây dựng.
Hãy nhớ rằng, tiến hành một lần khảo sát mạng không dây không bao giờ là đủ cả. Chúng cần phải được thực hiện định kỳ. Môi trường sóng có thể thay đổi khi các bàn phím Bluetooth và các thiết bị nghe điện đài đến rồi đi, cũng như khi các lò viba bật/tắt, hay khi một loạt các thiết bị không dây khác làm ô nhiễm chuỗi phân bổ theo tiêu chuẩn 802.11.
Vì thế trước hết hãy lắng nghe người dùng, những người chắc chắn sẽ phàn nàn rằng tín hiệu của họ quá yếu và tìm kiếm các điểm chết mới trong toà nhà của bạn. Và hãy chắc chắn rằng những cuộc khảo sát là một phần trong các hoạt động mạng nói chung.
http://ebooks.kmmhuy.com/index.php/sau-b%c6%b0%e1%bb%9bc-cho-cu%e1%bb%99c-kh%e1%ba%a3o-sat-v%e1%bb%8b-tri-m%e1%ba%a1ng-khong-day/
Để mạng không dây luôn hoạt động ở mức tốt nhất bạn phải đảm bảo các điểm truy cập (Access Points - AP) phải ở khu vực tốt nhất và các sóng radio (có thể là nguyên nhân gây nhiễu) phải ở mức ít nhất.
Tuỳ thuộc vào kiểu cài đặt, có một số công cụ hỗ trợ bạn thực hiện việc này, chẳng hạn như phần mềm trong chương trình khảo sát vị trí. Các bước cơ bản sau đây sẽ giúp bạn hoàn thành công việc ở mức tốt nhất:
Nguồn: unifiedbarcode1. Vạch ra kế hoạch chi tiết, hay kế hoạch cơ bản về những khu vực mà bạn muốn mạng không dây phủ tới. Một số sản phẩm phần mềm có thể giúp bạn xây dựng kế hoạch cơ bản một cách trực tiếp. Hãy xem xét kế hoạch và các trở ngại như tường, tiền sảnh, thang máy, sàn nhà - những thứ có thể cản trở tín hiệu sóng. Cũng cần chú ý nơi có thể cung cấp cho người dùng (cũng như nơi không cung cấp) để xác định phạm vi trung bình.
2. Xác định nơi cấp phát các điểm truy cập (AP) dựa trên nguồn điện và cáp mà bạn có thể kết nối các AP với phần còn lại của mạng. Hãy nhớ rằng bạn không nên đặt các điểm truy cập gần những vật bằng kim loại hay tường bê tông. Nên đặt chúng càng gần trần nhà càng tốt.
3. Ước lượng tổng số điểm truy cập cần thiết cho toàn bộ phạm vi mạng. Nên nhớ nguyên tắc hàng đầu là một AP có thể cung cấp cho phạm vi bán kính khoảng 30m, điều này cung cấp cho bạn sơ bộ phạm vi khu vực AP giúp bạn bắt đầu cuộc khảo sát. Nếu đã có một số điểm truy cập rồi, hãy chú ý vị trí của nó trên kế hoạch sơ bộ.
4. Sử dụng công cụ khảo sát. Hãy chắc chắn rằng bạn đã dùng cùng một mô hình AP trong cuộc khảo sát với cơ sở hạ tầng thật của bạn. Hãy xem phần hướng dẫn bên dưới để lựa chọn công cụ sử dụng cho phù hợp.
5. Định vị và kiểm tra lại các điểm truy cập, tuỳ thuộc vào kết quả trong cuộc khảo sát của bạn.
6. Sử dụng tài liệu tìm kiếm: hãy ghi lại các khu vực và tài liệu đọc ký hiệu, dữ liệu ước tính quan sát được cho các lần làm việc sau.
Nguồn: summittechnologies
Bạn nên lựa chọn công cụ nào phù hợp nhất cho buổi khảo sát? Có 3 loại cơ bản sau:
Đầu tiên là các phần mềm dựa trên nền Windows, có thể dùng trên một laptop đơn. Các phần mềm này giúp bạn ghi lại các tính toán ước lượng như độ dài tín hiệu khi đi quanh toà nhà. Bạn chỉ cần mua một AP đơn và luân chuyển quanh các vị trí tiềm năng xác định ở bước 3. Công cụ này phù hợp cho những nơi đòi hỏi phần cài đặt nhỏ, chỉ từ một tới ba AP.
Chúng cũng tốt trong trường hợp bạn không có kế hoạch ‘văn phòng mở’ đơn giản, nhưng lại có các kiểu hành lang khác nhau và các điểm chết sóng tiềm ẩn nằm rải rác quanh nhiều tầng. Có những công cụ miễn phí cho bạn lựa chọn như NetStumbler và nhiều tính năng hơn với AirMagnet Survey, Visiwave, Fluke Networks InterpretAir, Ekahau Site Survey nhưng có giá khoảng vài nghìn đô la.
Ngoài ra còn có các công cụ khác làm việc kết hợp với các sản phẩm không dây chuyển đổi. Chúng có thể là của Cisco Systems, Aruba Networks và Trapeze Networks, giám sát phạm vi sóng của bạn, cung cấp cho bạn lời khuyên về vị trí nên đặt các điểm AP tốt nhất.
Aruba Mobility Controller có thời gian thử nghiệm miễn phí và là một phần tích hợp trong bộ sản phẩm switch của nhà sản xuất. Wireless Control System của Cisco có giá 4000 đô la và RingMaster của Trapeze có giá hơn 549 đô la. Nếu bạn không quyết định được hãng cung cấp cơ sở hạ tầng không dây, hãy đánh giá công cụ phân tích của họ.
Nguồn: teamhogan
Một vấn đề với các công cụ này là khi áp dụng vào cơ sở hạ tầng thực các thông số về điểm chết và những khu vực phủ sóng nghèo nàn không được chính xác. Tuỳ thuộc vào kế hoạch cơ sở và số các trở ngại như tường dày, tường kim loại, bạn có thể cần phải mua một trong các công cụ “bao xung quanh tường” đã được thảo luận ở trên.
Cuối cùng là một số công cụ tương tự có độ co giãn lớn. Chúng hữu ích trong đánh giá kích thước cho những nơi xây dựng nhiều tầng, khu sân bãi, trường sở. Bạn cũng có thể dùng cho các hoạt động triển khai tương tự hay cho các đòi hỏi của nhiều mô hình khác nhau trong tương lai. Các công cụ này bao gồm SpectraGuard Planner của AirTight Networks, Wireless Valley LANPlanner, AirDefense Survey của Motorola, Wireless LAN Planner của Bluesocket. RingMaster của Trapeze cũng có khả năng xây dựng mô hình radio và các chức năng tương tự. Các công cụ này hữu ích trong hoạt động đánh giá tổng số các AP bạn sẽ cần và mô phỏng môi trường cuối cùng nên xây dựng cho bạn tương đối tốt. Nhưng chúng không thể nói cho bạn biết các thiết bị gây trở ngại hay cung cấp cho bạn tổng thể tất cả về môi trường mạng không dây bạn sắp xây dựng.
Hãy nhớ rằng, tiến hành một lần khảo sát mạng không dây không bao giờ là đủ cả. Chúng cần phải được thực hiện định kỳ. Môi trường sóng có thể thay đổi khi các bàn phím Bluetooth và các thiết bị nghe điện đài đến rồi đi, cũng như khi các lò viba bật/tắt, hay khi một loạt các thiết bị không dây khác làm ô nhiễm chuỗi phân bổ theo tiêu chuẩn 802.11.
Vì thế trước hết hãy lắng nghe người dùng, những người chắc chắn sẽ phàn nàn rằng tín hiệu của họ quá yếu và tìm kiếm các điểm chết mới trong toà nhà của bạn. Và hãy chắc chắn rằng những cuộc khảo sát là một phần trong các hoạt động mạng nói chung.
http://ebooks.kmmhuy.com/index.php/sau-b%c6%b0%e1%bb%9bc-cho-cu%e1%bb%99c-kh%e1%ba%a3o-sat-v%e1%bb%8b-tri-m%e1%ba%a1ng-khong-day/
Nhãn:
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT,
NETWORK,
WIRELESS
Sáu bước cho cuộc khảo sát vị trí mạng không dây
Các cuộc khảo sát vị trí mạng không dây định kỳ là rất quan trọng.
Để mạng không dây luôn hoạt động ở mức tốt nhất bạn phải đảm bảo các điểm truy cập (Access Points - AP) phải ở khu vực tốt nhất và các sóng radio (có thể là nguyên nhân gây nhiễu) phải ở mức ít nhất.
Tuỳ thuộc vào kiểu cài đặt, có một số công cụ hỗ trợ bạn thực hiện việc này, chẳng hạn như phần mềm trong chương trình khảo sát vị trí. Các bước cơ bản sau đây sẽ giúp bạn hoàn thành công việc ở mức tốt nhất:
Nguồn: unifiedbarcode1. Vạch ra kế hoạch chi tiết, hay kế hoạch cơ bản về những khu vực mà bạn muốn mạng không dây phủ tới. Một số sản phẩm phần mềm có thể giúp bạn xây dựng kế hoạch cơ bản một cách trực tiếp. Hãy xem xét kế hoạch và các trở ngại như tường, tiền sảnh, thang máy, sàn nhà - những thứ có thể cản trở tín hiệu sóng. Cũng cần chú ý nơi có thể cung cấp cho người dùng (cũng như nơi không cung cấp) để xác định phạm vi trung bình.
2. Xác định nơi cấp phát các điểm truy cập (AP) dựa trên nguồn điện và cáp mà bạn có thể kết nối các AP với phần còn lại của mạng. Hãy nhớ rằng bạn không nên đặt các điểm truy cập gần những vật bằng kim loại hay tường bê tông. Nên đặt chúng càng gần trần nhà càng tốt.
3. Ước lượng tổng số điểm truy cập cần thiết cho toàn bộ phạm vi mạng. Nên nhớ nguyên tắc hàng đầu là một AP có thể cung cấp cho phạm vi bán kính khoảng 30m, điều này cung cấp cho bạn sơ bộ phạm vi khu vực AP giúp bạn bắt đầu cuộc khảo sát. Nếu đã có một số điểm truy cập rồi, hãy chú ý vị trí của nó trên kế hoạch sơ bộ.
4. Sử dụng công cụ khảo sát. Hãy chắc chắn rằng bạn đã dùng cùng một mô hình AP trong cuộc khảo sát với cơ sở hạ tầng thật của bạn. Hãy xem phần hướng dẫn bên dưới để lựa chọn công cụ sử dụng cho phù hợp.
5. Định vị và kiểm tra lại các điểm truy cập, tuỳ thuộc vào kết quả trong cuộc khảo sát của bạn.
6. Sử dụng tài liệu tìm kiếm: hãy ghi lại các khu vực và tài liệu đọc ký hiệu, dữ liệu ước tính quan sát được cho các lần làm việc sau.
Nguồn: summittechnologies
Bạn nên lựa chọn công cụ nào phù hợp nhất cho buổi khảo sát? Có 3 loại cơ bản sau:
Đầu tiên là các phần mềm dựa trên nền Windows, có thể dùng trên một laptop đơn. Các phần mềm này giúp bạn ghi lại các tính toán ước lượng như độ dài tín hiệu khi đi quanh toà nhà. Bạn chỉ cần mua một AP đơn và luân chuyển quanh các vị trí tiềm năng xác định ở bước 3. Công cụ này phù hợp cho những nơi đòi hỏi phần cài đặt nhỏ, chỉ từ một tới ba AP.
Chúng cũng tốt trong trường hợp bạn không có kế hoạch ‘văn phòng mở’ đơn giản, nhưng lại có các kiểu hành lang khác nhau và các điểm chết sóng tiềm ẩn nằm rải rác quanh nhiều tầng. Có những công cụ miễn phí cho bạn lựa chọn như NetStumbler và nhiều tính năng hơn với AirMagnet Survey, Visiwave, Fluke Networks InterpretAir, Ekahau Site Survey nhưng có giá khoảng vài nghìn đô la.
Ngoài ra còn có các công cụ khác làm việc kết hợp với các sản phẩm không dây chuyển đổi. Chúng có thể là của Cisco Systems, Aruba Networks và Trapeze Networks, giám sát phạm vi sóng của bạn, cung cấp cho bạn lời khuyên về vị trí nên đặt các điểm AP tốt nhất.
Aruba Mobility Controller có thời gian thử nghiệm miễn phí và là một phần tích hợp trong bộ sản phẩm switch của nhà sản xuất. Wireless Control System của Cisco có giá 4000 đô la và RingMaster của Trapeze có giá hơn 549 đô la. Nếu bạn không quyết định được hãng cung cấp cơ sở hạ tầng không dây, hãy đánh giá công cụ phân tích của họ.
Nguồn: teamhogan
Một vấn đề với các công cụ này là khi áp dụng vào cơ sở hạ tầng thực các thông số về điểm chết và những khu vực phủ sóng nghèo nàn không được chính xác. Tuỳ thuộc vào kế hoạch cơ sở và số các trở ngại như tường dày, tường kim loại, bạn có thể cần phải mua một trong các công cụ “bao xung quanh tường” đã được thảo luận ở trên.
Cuối cùng là một số công cụ tương tự có độ co giãn lớn. Chúng hữu ích trong đánh giá kích thước cho những nơi xây dựng nhiều tầng, khu sân bãi, trường sở. Bạn cũng có thể dùng cho các hoạt động triển khai tương tự hay cho các đòi hỏi của nhiều mô hình khác nhau trong tương lai. Các công cụ này bao gồm SpectraGuard Planner của AirTight Networks, Wireless Valley LANPlanner, AirDefense Survey của Motorola, Wireless LAN Planner của Bluesocket. RingMaster của Trapeze cũng có khả năng xây dựng mô hình radio và các chức năng tương tự. Các công cụ này hữu ích trong hoạt động đánh giá tổng số các AP bạn sẽ cần và mô phỏng môi trường cuối cùng nên xây dựng cho bạn tương đối tốt. Nhưng chúng không thể nói cho bạn biết các thiết bị gây trở ngại hay cung cấp cho bạn tổng thể tất cả về môi trường mạng không dây bạn sắp xây dựng.
Hãy nhớ rằng, tiến hành một lần khảo sát mạng không dây không bao giờ là đủ cả. Chúng cần phải được thực hiện định kỳ. Môi trường sóng có thể thay đổi khi các bàn phím Bluetooth và các thiết bị nghe điện đài đến rồi đi, cũng như khi các lò viba bật/tắt, hay khi một loạt các thiết bị không dây khác làm ô nhiễm chuỗi phân bổ theo tiêu chuẩn 802.11.
Vì thế trước hết hãy lắng nghe người dùng, những người chắc chắn sẽ phàn nàn rằng tín hiệu của họ quá yếu và tìm kiếm các điểm chết mới trong toà nhà của bạn. Và hãy chắc chắn rằng những cuộc khảo sát là một phần trong các hoạt động mạng nói chung.
http://ebooks.kmmhuy.com/index.php/sau-b%c6%b0%e1%bb%9bc-cho-cu%e1%bb%99c-kh%e1%ba%a3o-sat-v%e1%bb%8b-tri-m%e1%ba%a1ng-khong-day/
Để mạng không dây luôn hoạt động ở mức tốt nhất bạn phải đảm bảo các điểm truy cập (Access Points - AP) phải ở khu vực tốt nhất và các sóng radio (có thể là nguyên nhân gây nhiễu) phải ở mức ít nhất.
Tuỳ thuộc vào kiểu cài đặt, có một số công cụ hỗ trợ bạn thực hiện việc này, chẳng hạn như phần mềm trong chương trình khảo sát vị trí. Các bước cơ bản sau đây sẽ giúp bạn hoàn thành công việc ở mức tốt nhất:
Nguồn: unifiedbarcode1. Vạch ra kế hoạch chi tiết, hay kế hoạch cơ bản về những khu vực mà bạn muốn mạng không dây phủ tới. Một số sản phẩm phần mềm có thể giúp bạn xây dựng kế hoạch cơ bản một cách trực tiếp. Hãy xem xét kế hoạch và các trở ngại như tường, tiền sảnh, thang máy, sàn nhà - những thứ có thể cản trở tín hiệu sóng. Cũng cần chú ý nơi có thể cung cấp cho người dùng (cũng như nơi không cung cấp) để xác định phạm vi trung bình.
2. Xác định nơi cấp phát các điểm truy cập (AP) dựa trên nguồn điện và cáp mà bạn có thể kết nối các AP với phần còn lại của mạng. Hãy nhớ rằng bạn không nên đặt các điểm truy cập gần những vật bằng kim loại hay tường bê tông. Nên đặt chúng càng gần trần nhà càng tốt.
3. Ước lượng tổng số điểm truy cập cần thiết cho toàn bộ phạm vi mạng. Nên nhớ nguyên tắc hàng đầu là một AP có thể cung cấp cho phạm vi bán kính khoảng 30m, điều này cung cấp cho bạn sơ bộ phạm vi khu vực AP giúp bạn bắt đầu cuộc khảo sát. Nếu đã có một số điểm truy cập rồi, hãy chú ý vị trí của nó trên kế hoạch sơ bộ.
4. Sử dụng công cụ khảo sát. Hãy chắc chắn rằng bạn đã dùng cùng một mô hình AP trong cuộc khảo sát với cơ sở hạ tầng thật của bạn. Hãy xem phần hướng dẫn bên dưới để lựa chọn công cụ sử dụng cho phù hợp.
5. Định vị và kiểm tra lại các điểm truy cập, tuỳ thuộc vào kết quả trong cuộc khảo sát của bạn.
6. Sử dụng tài liệu tìm kiếm: hãy ghi lại các khu vực và tài liệu đọc ký hiệu, dữ liệu ước tính quan sát được cho các lần làm việc sau.
Nguồn: summittechnologies
Bạn nên lựa chọn công cụ nào phù hợp nhất cho buổi khảo sát? Có 3 loại cơ bản sau:
Đầu tiên là các phần mềm dựa trên nền Windows, có thể dùng trên một laptop đơn. Các phần mềm này giúp bạn ghi lại các tính toán ước lượng như độ dài tín hiệu khi đi quanh toà nhà. Bạn chỉ cần mua một AP đơn và luân chuyển quanh các vị trí tiềm năng xác định ở bước 3. Công cụ này phù hợp cho những nơi đòi hỏi phần cài đặt nhỏ, chỉ từ một tới ba AP.
Chúng cũng tốt trong trường hợp bạn không có kế hoạch ‘văn phòng mở’ đơn giản, nhưng lại có các kiểu hành lang khác nhau và các điểm chết sóng tiềm ẩn nằm rải rác quanh nhiều tầng. Có những công cụ miễn phí cho bạn lựa chọn như NetStumbler và nhiều tính năng hơn với AirMagnet Survey, Visiwave, Fluke Networks InterpretAir, Ekahau Site Survey nhưng có giá khoảng vài nghìn đô la.
Ngoài ra còn có các công cụ khác làm việc kết hợp với các sản phẩm không dây chuyển đổi. Chúng có thể là của Cisco Systems, Aruba Networks và Trapeze Networks, giám sát phạm vi sóng của bạn, cung cấp cho bạn lời khuyên về vị trí nên đặt các điểm AP tốt nhất.
Aruba Mobility Controller có thời gian thử nghiệm miễn phí và là một phần tích hợp trong bộ sản phẩm switch của nhà sản xuất. Wireless Control System của Cisco có giá 4000 đô la và RingMaster của Trapeze có giá hơn 549 đô la. Nếu bạn không quyết định được hãng cung cấp cơ sở hạ tầng không dây, hãy đánh giá công cụ phân tích của họ.
Nguồn: teamhogan
Một vấn đề với các công cụ này là khi áp dụng vào cơ sở hạ tầng thực các thông số về điểm chết và những khu vực phủ sóng nghèo nàn không được chính xác. Tuỳ thuộc vào kế hoạch cơ sở và số các trở ngại như tường dày, tường kim loại, bạn có thể cần phải mua một trong các công cụ “bao xung quanh tường” đã được thảo luận ở trên.
Cuối cùng là một số công cụ tương tự có độ co giãn lớn. Chúng hữu ích trong đánh giá kích thước cho những nơi xây dựng nhiều tầng, khu sân bãi, trường sở. Bạn cũng có thể dùng cho các hoạt động triển khai tương tự hay cho các đòi hỏi của nhiều mô hình khác nhau trong tương lai. Các công cụ này bao gồm SpectraGuard Planner của AirTight Networks, Wireless Valley LANPlanner, AirDefense Survey của Motorola, Wireless LAN Planner của Bluesocket. RingMaster của Trapeze cũng có khả năng xây dựng mô hình radio và các chức năng tương tự. Các công cụ này hữu ích trong hoạt động đánh giá tổng số các AP bạn sẽ cần và mô phỏng môi trường cuối cùng nên xây dựng cho bạn tương đối tốt. Nhưng chúng không thể nói cho bạn biết các thiết bị gây trở ngại hay cung cấp cho bạn tổng thể tất cả về môi trường mạng không dây bạn sắp xây dựng.
Hãy nhớ rằng, tiến hành một lần khảo sát mạng không dây không bao giờ là đủ cả. Chúng cần phải được thực hiện định kỳ. Môi trường sóng có thể thay đổi khi các bàn phím Bluetooth và các thiết bị nghe điện đài đến rồi đi, cũng như khi các lò viba bật/tắt, hay khi một loạt các thiết bị không dây khác làm ô nhiễm chuỗi phân bổ theo tiêu chuẩn 802.11.
Vì thế trước hết hãy lắng nghe người dùng, những người chắc chắn sẽ phàn nàn rằng tín hiệu của họ quá yếu và tìm kiếm các điểm chết mới trong toà nhà của bạn. Và hãy chắc chắn rằng những cuộc khảo sát là một phần trong các hoạt động mạng nói chung.
http://ebooks.kmmhuy.com/index.php/sau-b%c6%b0%e1%bb%9bc-cho-cu%e1%bb%99c-kh%e1%ba%a3o-sat-v%e1%bb%8b-tri-m%e1%ba%a1ng-khong-day/
Nhãn:
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT,
NETWORK,
WIRELESS
Sáu bước cho cuộc khảo sát vị trí mạng không dây
Các cuộc khảo sát vị trí mạng không dây định kỳ là rất quan trọng.
Để mạng không dây luôn hoạt động ở mức tốt nhất bạn phải đảm bảo các điểm truy cập (Access Points - AP) phải ở khu vực tốt nhất và các sóng radio (có thể là nguyên nhân gây nhiễu) phải ở mức ít nhất.
Tuỳ thuộc vào kiểu cài đặt, có một số công cụ hỗ trợ bạn thực hiện việc này, chẳng hạn như phần mềm trong chương trình khảo sát vị trí. Các bước cơ bản sau đây sẽ giúp bạn hoàn thành công việc ở mức tốt nhất:
Nguồn: unifiedbarcode1. Vạch ra kế hoạch chi tiết, hay kế hoạch cơ bản về những khu vực mà bạn muốn mạng không dây phủ tới. Một số sản phẩm phần mềm có thể giúp bạn xây dựng kế hoạch cơ bản một cách trực tiếp. Hãy xem xét kế hoạch và các trở ngại như tường, tiền sảnh, thang máy, sàn nhà - những thứ có thể cản trở tín hiệu sóng. Cũng cần chú ý nơi có thể cung cấp cho người dùng (cũng như nơi không cung cấp) để xác định phạm vi trung bình.
2. Xác định nơi cấp phát các điểm truy cập (AP) dựa trên nguồn điện và cáp mà bạn có thể kết nối các AP với phần còn lại của mạng. Hãy nhớ rằng bạn không nên đặt các điểm truy cập gần những vật bằng kim loại hay tường bê tông. Nên đặt chúng càng gần trần nhà càng tốt.
3. Ước lượng tổng số điểm truy cập cần thiết cho toàn bộ phạm vi mạng. Nên nhớ nguyên tắc hàng đầu là một AP có thể cung cấp cho phạm vi bán kính khoảng 30m, điều này cung cấp cho bạn sơ bộ phạm vi khu vực AP giúp bạn bắt đầu cuộc khảo sát. Nếu đã có một số điểm truy cập rồi, hãy chú ý vị trí của nó trên kế hoạch sơ bộ.
4. Sử dụng công cụ khảo sát. Hãy chắc chắn rằng bạn đã dùng cùng một mô hình AP trong cuộc khảo sát với cơ sở hạ tầng thật của bạn. Hãy xem phần hướng dẫn bên dưới để lựa chọn công cụ sử dụng cho phù hợp.
5. Định vị và kiểm tra lại các điểm truy cập, tuỳ thuộc vào kết quả trong cuộc khảo sát của bạn.
6. Sử dụng tài liệu tìm kiếm: hãy ghi lại các khu vực và tài liệu đọc ký hiệu, dữ liệu ước tính quan sát được cho các lần làm việc sau.
Nguồn: summittechnologies
Bạn nên lựa chọn công cụ nào phù hợp nhất cho buổi khảo sát? Có 3 loại cơ bản sau:
Đầu tiên là các phần mềm dựa trên nền Windows, có thể dùng trên một laptop đơn. Các phần mềm này giúp bạn ghi lại các tính toán ước lượng như độ dài tín hiệu khi đi quanh toà nhà. Bạn chỉ cần mua một AP đơn và luân chuyển quanh các vị trí tiềm năng xác định ở bước 3. Công cụ này phù hợp cho những nơi đòi hỏi phần cài đặt nhỏ, chỉ từ một tới ba AP.
Chúng cũng tốt trong trường hợp bạn không có kế hoạch ‘văn phòng mở’ đơn giản, nhưng lại có các kiểu hành lang khác nhau và các điểm chết sóng tiềm ẩn nằm rải rác quanh nhiều tầng. Có những công cụ miễn phí cho bạn lựa chọn như NetStumbler và nhiều tính năng hơn với AirMagnet Survey, Visiwave, Fluke Networks InterpretAir, Ekahau Site Survey nhưng có giá khoảng vài nghìn đô la.
Ngoài ra còn có các công cụ khác làm việc kết hợp với các sản phẩm không dây chuyển đổi. Chúng có thể là của Cisco Systems, Aruba Networks và Trapeze Networks, giám sát phạm vi sóng của bạn, cung cấp cho bạn lời khuyên về vị trí nên đặt các điểm AP tốt nhất.
Aruba Mobility Controller có thời gian thử nghiệm miễn phí và là một phần tích hợp trong bộ sản phẩm switch của nhà sản xuất. Wireless Control System của Cisco có giá 4000 đô la và RingMaster của Trapeze có giá hơn 549 đô la. Nếu bạn không quyết định được hãng cung cấp cơ sở hạ tầng không dây, hãy đánh giá công cụ phân tích của họ.
Nguồn: teamhogan
Một vấn đề với các công cụ này là khi áp dụng vào cơ sở hạ tầng thực các thông số về điểm chết và những khu vực phủ sóng nghèo nàn không được chính xác. Tuỳ thuộc vào kế hoạch cơ sở và số các trở ngại như tường dày, tường kim loại, bạn có thể cần phải mua một trong các công cụ “bao xung quanh tường” đã được thảo luận ở trên.
Cuối cùng là một số công cụ tương tự có độ co giãn lớn. Chúng hữu ích trong đánh giá kích thước cho những nơi xây dựng nhiều tầng, khu sân bãi, trường sở. Bạn cũng có thể dùng cho các hoạt động triển khai tương tự hay cho các đòi hỏi của nhiều mô hình khác nhau trong tương lai. Các công cụ này bao gồm SpectraGuard Planner của AirTight Networks, Wireless Valley LANPlanner, AirDefense Survey của Motorola, Wireless LAN Planner của Bluesocket. RingMaster của Trapeze cũng có khả năng xây dựng mô hình radio và các chức năng tương tự. Các công cụ này hữu ích trong hoạt động đánh giá tổng số các AP bạn sẽ cần và mô phỏng môi trường cuối cùng nên xây dựng cho bạn tương đối tốt. Nhưng chúng không thể nói cho bạn biết các thiết bị gây trở ngại hay cung cấp cho bạn tổng thể tất cả về môi trường mạng không dây bạn sắp xây dựng.
Hãy nhớ rằng, tiến hành một lần khảo sát mạng không dây không bao giờ là đủ cả. Chúng cần phải được thực hiện định kỳ. Môi trường sóng có thể thay đổi khi các bàn phím Bluetooth và các thiết bị nghe điện đài đến rồi đi, cũng như khi các lò viba bật/tắt, hay khi một loạt các thiết bị không dây khác làm ô nhiễm chuỗi phân bổ theo tiêu chuẩn 802.11.
Vì thế trước hết hãy lắng nghe người dùng, những người chắc chắn sẽ phàn nàn rằng tín hiệu của họ quá yếu và tìm kiếm các điểm chết mới trong toà nhà của bạn. Và hãy chắc chắn rằng những cuộc khảo sát là một phần trong các hoạt động mạng nói chung.
http://ebooks.kmmhuy.com/index.php/sau-b%c6%b0%e1%bb%9bc-cho-cu%e1%bb%99c-kh%e1%ba%a3o-sat-v%e1%bb%8b-tri-m%e1%ba%a1ng-khong-day/
Để mạng không dây luôn hoạt động ở mức tốt nhất bạn phải đảm bảo các điểm truy cập (Access Points - AP) phải ở khu vực tốt nhất và các sóng radio (có thể là nguyên nhân gây nhiễu) phải ở mức ít nhất.
Tuỳ thuộc vào kiểu cài đặt, có một số công cụ hỗ trợ bạn thực hiện việc này, chẳng hạn như phần mềm trong chương trình khảo sát vị trí. Các bước cơ bản sau đây sẽ giúp bạn hoàn thành công việc ở mức tốt nhất:
Nguồn: unifiedbarcode1. Vạch ra kế hoạch chi tiết, hay kế hoạch cơ bản về những khu vực mà bạn muốn mạng không dây phủ tới. Một số sản phẩm phần mềm có thể giúp bạn xây dựng kế hoạch cơ bản một cách trực tiếp. Hãy xem xét kế hoạch và các trở ngại như tường, tiền sảnh, thang máy, sàn nhà - những thứ có thể cản trở tín hiệu sóng. Cũng cần chú ý nơi có thể cung cấp cho người dùng (cũng như nơi không cung cấp) để xác định phạm vi trung bình.
2. Xác định nơi cấp phát các điểm truy cập (AP) dựa trên nguồn điện và cáp mà bạn có thể kết nối các AP với phần còn lại của mạng. Hãy nhớ rằng bạn không nên đặt các điểm truy cập gần những vật bằng kim loại hay tường bê tông. Nên đặt chúng càng gần trần nhà càng tốt.
3. Ước lượng tổng số điểm truy cập cần thiết cho toàn bộ phạm vi mạng. Nên nhớ nguyên tắc hàng đầu là một AP có thể cung cấp cho phạm vi bán kính khoảng 30m, điều này cung cấp cho bạn sơ bộ phạm vi khu vực AP giúp bạn bắt đầu cuộc khảo sát. Nếu đã có một số điểm truy cập rồi, hãy chú ý vị trí của nó trên kế hoạch sơ bộ.
4. Sử dụng công cụ khảo sát. Hãy chắc chắn rằng bạn đã dùng cùng một mô hình AP trong cuộc khảo sát với cơ sở hạ tầng thật của bạn. Hãy xem phần hướng dẫn bên dưới để lựa chọn công cụ sử dụng cho phù hợp.
5. Định vị và kiểm tra lại các điểm truy cập, tuỳ thuộc vào kết quả trong cuộc khảo sát của bạn.
6. Sử dụng tài liệu tìm kiếm: hãy ghi lại các khu vực và tài liệu đọc ký hiệu, dữ liệu ước tính quan sát được cho các lần làm việc sau.
Nguồn: summittechnologies
Bạn nên lựa chọn công cụ nào phù hợp nhất cho buổi khảo sát? Có 3 loại cơ bản sau:
Đầu tiên là các phần mềm dựa trên nền Windows, có thể dùng trên một laptop đơn. Các phần mềm này giúp bạn ghi lại các tính toán ước lượng như độ dài tín hiệu khi đi quanh toà nhà. Bạn chỉ cần mua một AP đơn và luân chuyển quanh các vị trí tiềm năng xác định ở bước 3. Công cụ này phù hợp cho những nơi đòi hỏi phần cài đặt nhỏ, chỉ từ một tới ba AP.
Chúng cũng tốt trong trường hợp bạn không có kế hoạch ‘văn phòng mở’ đơn giản, nhưng lại có các kiểu hành lang khác nhau và các điểm chết sóng tiềm ẩn nằm rải rác quanh nhiều tầng. Có những công cụ miễn phí cho bạn lựa chọn như NetStumbler và nhiều tính năng hơn với AirMagnet Survey, Visiwave, Fluke Networks InterpretAir, Ekahau Site Survey nhưng có giá khoảng vài nghìn đô la.
Ngoài ra còn có các công cụ khác làm việc kết hợp với các sản phẩm không dây chuyển đổi. Chúng có thể là của Cisco Systems, Aruba Networks và Trapeze Networks, giám sát phạm vi sóng của bạn, cung cấp cho bạn lời khuyên về vị trí nên đặt các điểm AP tốt nhất.
Aruba Mobility Controller có thời gian thử nghiệm miễn phí và là một phần tích hợp trong bộ sản phẩm switch của nhà sản xuất. Wireless Control System của Cisco có giá 4000 đô la và RingMaster của Trapeze có giá hơn 549 đô la. Nếu bạn không quyết định được hãng cung cấp cơ sở hạ tầng không dây, hãy đánh giá công cụ phân tích của họ.
Nguồn: teamhogan
Một vấn đề với các công cụ này là khi áp dụng vào cơ sở hạ tầng thực các thông số về điểm chết và những khu vực phủ sóng nghèo nàn không được chính xác. Tuỳ thuộc vào kế hoạch cơ sở và số các trở ngại như tường dày, tường kim loại, bạn có thể cần phải mua một trong các công cụ “bao xung quanh tường” đã được thảo luận ở trên.
Cuối cùng là một số công cụ tương tự có độ co giãn lớn. Chúng hữu ích trong đánh giá kích thước cho những nơi xây dựng nhiều tầng, khu sân bãi, trường sở. Bạn cũng có thể dùng cho các hoạt động triển khai tương tự hay cho các đòi hỏi của nhiều mô hình khác nhau trong tương lai. Các công cụ này bao gồm SpectraGuard Planner của AirTight Networks, Wireless Valley LANPlanner, AirDefense Survey của Motorola, Wireless LAN Planner của Bluesocket. RingMaster của Trapeze cũng có khả năng xây dựng mô hình radio và các chức năng tương tự. Các công cụ này hữu ích trong hoạt động đánh giá tổng số các AP bạn sẽ cần và mô phỏng môi trường cuối cùng nên xây dựng cho bạn tương đối tốt. Nhưng chúng không thể nói cho bạn biết các thiết bị gây trở ngại hay cung cấp cho bạn tổng thể tất cả về môi trường mạng không dây bạn sắp xây dựng.
Hãy nhớ rằng, tiến hành một lần khảo sát mạng không dây không bao giờ là đủ cả. Chúng cần phải được thực hiện định kỳ. Môi trường sóng có thể thay đổi khi các bàn phím Bluetooth và các thiết bị nghe điện đài đến rồi đi, cũng như khi các lò viba bật/tắt, hay khi một loạt các thiết bị không dây khác làm ô nhiễm chuỗi phân bổ theo tiêu chuẩn 802.11.
Vì thế trước hết hãy lắng nghe người dùng, những người chắc chắn sẽ phàn nàn rằng tín hiệu của họ quá yếu và tìm kiếm các điểm chết mới trong toà nhà của bạn. Và hãy chắc chắn rằng những cuộc khảo sát là một phần trong các hoạt động mạng nói chung.
http://ebooks.kmmhuy.com/index.php/sau-b%c6%b0%e1%bb%9bc-cho-cu%e1%bb%99c-kh%e1%ba%a3o-sat-v%e1%bb%8b-tri-m%e1%ba%a1ng-khong-day/
Nhãn:
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT,
NETWORK,
WIRELESS
15 thg 4, 2008
Sử dụng 802.11n cho tốc độ mạng không dây nhanh nhất và độ bao phủ lớn nhất
Trong nhiều công ty, các mạng không dây được dùng để phục vụ nhiều mục đích khác nhau: cho các khách ghé thăm công ty, luồng truyền thông đa phương tiện từ phòng marketing đến phòng hội thảo và truy cập ngay cả trong cafe công ty.
Trong hầu hết các trường hợp, các Wi-Fi này thường có tốc độ chậm và độ bao phủ hạn hẹp. Những gì thực sự cần thiết đối với một kết nối là phải có tốc độ nhanh, chạy xa được tới các góc của tòa nhà và có sự mã hóa tín hiệu mạnh.
Với các công ty hiện nay như Cisco, Netgear ProSafe, Juniper Networks và các sản phẩm ImageStream, bạn có thể thấy được phần nào câu trả lời. Các router không dây 802.11g thường cho tốc độ chậm, mặc dù chúng được hỗ trợ cầu nối (cầu nối đề làm tăng tín hiệu). Các điểm truy cập siêu nhanh super-fast 802.11n có tốc độ truy cao đạt khoảng 130Mbit/sec nhưng chúng vẫn bị giới hạn phạm vi khoảng 300 feet và không hỗ trợ cầu nối, vì vậy bạn không thể mở rộng tín hiệu.
Lời giải cho tốc độ và phạm vi
su dung 802.11n cho toc do mang wifi Ví dụ, nhiều router 802.11g như Belkin Wireless Pre-N F5D8230-4 có hỗ trợ cầu nối nhưng thông lượng chỉ cho đến khoảng 40Mbit/sec. Các router như Linksys Wireless-N WRT300N có hỗ trợ thông lượng nhanh khoảng 120Mbit/sec dưới các điều kiện lý tưởng không xuất hiện các tín hiệu vô tuyến khác trong phạm vi của nó – tuy nhiên vẫn không hỗ trợ cầu nối, và tín hiệu chỉ với được trong khoảng 600 feet (tất cả các sản phẩn 802.11n đều được thiết kế cho tốc độ cao nhưng phạm vi của chúng không rộng).
Chính vì vậy đi tìm lời giải về tốc độ và phạm vi là một vấn đề quan trọng.
Để có thể kết hợp tốt nhất về tốc độ, phạm vi và tính bảo mật, chỉ có một lựa chọn là quan sát các router có hỗ trợ chi tiết kỹ thuật 802.11n Draft 2.0 cho chế độ cầu nối, bảo mật WPA-TKIP nâng cao và một tín hiệu với tốc độ 100Mbit/sec. Ý tưởng được lấy từ thông lượng nhanh ở N – cho tốc độ 100Mbit/sec và phạm vi được mở rộng.
Netgear, D-Link và Trendnet là các thiết bị đi đầu trong lĩnh vực mạng không dây. Các thiết bị này rất có ý nghĩa cho thị trường gia đình, nhưng có nhiều tính năng nâng cao làm việc tốt trong các cài đặt công ty, như luồng video hoặc download mạng bên trong rất nhanh.
Ví dụ trên Trendnet TEW-630APB, bạn có thể bắc cầu đến 6 router vì vậy tín hiệu có thể vươn xa từ tòa nhà này sang tòa nhà khác mà vẫn bảo đảm tốc độ là 100Mbit/sec cùng với bảo vệ WPA. Bạn có thể đặt một TEW-630APB tại vị trí trung tâm của một tòa nhà và triển khai thêm 6 mô hình khác xung quanh sàn để có độ bao phủ tốt nhất – ở tốc độ cao nhất có thể.
Chỉ có một chút khó hiểu là các router không sử dụng trong công ty thường không hỗ trợ phần cứng VPN hoặc các tính năng bảo mật công ty, vì vậy bạn không nên sử dụng chúng cho các truy cập LAN trong công ty mà thay vì đó chúng chỉ lý tưởng cho dòng video không dây từ nhà này sang nhà khác hoặc cung cấp băng tần mở rộng cho người dùng laptop có thể thực hiện lưu trữ các file của họ hoặc tải một số lượng lớn dữ liệu từ các trang mạng nội bộ an toàn bên trong.
Đây là mô hình tốt nhất bạn có thể xem xét, cùng với các chi tiết về cách cấu hình chế độ cầu nối. Lưu ý rằng trên hầu hết các mô hình này, bạn cần phải có bản vá mới nhất cho 802.11n Draft 2.0; hãy kiểm tra website của công ty đó, kích vào hỗ trợ, tìm mô hình router cụ thể, tải về các bản vá mới nhất và cài đặt nó.
Netgear RangeMax Next WNR834B
Netgear RangeMax Next WNR834B hỗ trợ việc nối kết giữa hai mô hình giống nhau. Một chạy trong chế độ trạm gốc "base station" và một chạy trong chế độ lặp "wireless repeater". Trước khi thiết lập mạng, bạn cần lưu ý đến địa chỉ điều khiển truy cập thiết bị (MAC) được viết trên nhãn của router.
Netgear RangeMax Next WNR834B
Cấu hình trạm gốc không dây bằng sử dụng địa chỉ MAC cho router lặp
Với thiết vị được thiết lập chạy trong chế độ trạm gốc, bạn chạy một cáp Ethernet đến máy chủ cho kết nối Internet và kết nối cáp Ethernet khác đến một trong 4 cổng mở và đến máy tính. (Netgear không khuyến khích việc cấu hình router sử dụng không dây). Theo các bước cài đặt của CD và sau đó truy cập vào địa chỉ IP của router trong trình duyệt – IP mặc định sẽ được liệt kê trong hướng dẫn sử dụng.
Netgear RangeMax Next WNR834B
Nhập vào một địa chỉ IP duy nhất cho router lặp
Bây giờ bạn kích vàp chức năng lặp Wireless Repeating Function. Kích vào tùy chọn Enable và kích nút radio cho trạm gốc không dây. Nhập vào địa chỉ MAC cho router thứ hai – hoặc các router còn lại mà bạn muốn thêm vào. Cài đặt router thứ hai. Kích tùy chọn tương tự Wireless Repeating Function, kích hoạt nó và chọn Wireless Repeater. Nhập vào một địa chỉ IP mới giống với routerr đầu tiên – nếu trạm gốc là 192.168.1.1 thì bạn sử dụng 192.168.2.2.
Trên cả hai router, các bạn nên sử dụng Windows Vista với Wi-Fi Protected Setup để cấu hình bảo mật. Trong khi máy tính vẫn chạy dây đến các router, bạn vào Network and Sharing Center. Kích "Set up a connection or network." Chọn tùy chọn "Set up a wireless router " và kích Next. Tên router – đây là một SSID mới – và kích Next. Đánh Security PIN tìm thấy trong nhãn của router và kích Next. Vista sẽ gợi ý một mã mật khẩu phức tạp cho bạn sử dụng; viết chúng ra và kích Next để hoàn thiện quá trình WPS và lặp lại cho router thứ hai.
Netgear RangeMax Next WNR834B
Sử dụng Windows Vista để cấu hình bảo mật
Trendnet Wireless N TEW-630APB
Hiện nay, Trendnet TEW-630APB hỗ trợ cầu nối thông qua 802.11n Draft 1.0. Nó sử dụng Wireless Distribution System cho việc bắc cầu, điều đó làm cho nó trở nên dễ dàng hơn trong việc cấu hình, tuy nhiên chúng sẽ chỉ làm việc khi bạn có hai hoặc nhiều router TEW-630APB sử dụng cùng một phần mềm. Hãy cài đặt phần mềm mới nhất tại Trendnet, kích Support, tìm kiểu router, tải về và cài đặt phần mềm mới nhất.
Theo cài đặt cơ bản CD cho cả hai router và lưu ý địa chỉ MAC được ghi trên nhãn của router. Trên router đầu tiên (chế độ cầu), bạn vào địa chỉ IP của router trong trình duyệt – IP mặc định được in trong hướng dẫn sử dụng. Kích “Advanced”,"Advanced Wireless." Tích vào hộp kiểm bên cạnh "WDS Enable" và đánh vào địa chỉ MAC cho router thứ hai (lặp). Kích "Basic," sau đó là "Wireless", bỏ chọn tùy chọn "Enable Auto Scan" và chọn một kênh để không bị xung đột với các tín hiệu không dây khác. (Sử dụng NetStumbler để xác định router nào đã được sử dụng và số kênh của chúng)
Trendnet Wireless N TEW-630APB
Kích hoạt WDS và nhập vào địa chỉ MAC
Trên router còn lại dùng để làm bộ lặp, bạn thực hiện theo các bước tương tự nhưng lúc này sử dụng địa chỉ MAC cho router trạm cơ bản. Chú ý phải sử dụng cùng kênh.
Bây giờ, trên cả hai router, kích hoạt bảo mật WPA-Personal, kích Basic, Wireless, sau đó kéo thanh cuộn xuống dưới màn hình và chọn WPA-Personal, đánh vào đó một khóa chia sẻ Pre-Shared Key. Viết số và lặp lại cho router thứ hai, sử dụng cùng khóa. Router thứ hai sẽ chạy trong chế độ lặp để mở rộng tín hiệu không dây.
Trendnet Wireless N TEW-630APB
Kích hoạt bảo mật WPA-Personal cho cả hai router và nhập vào khóa Pre-Shared Key
Kết luận
Bước tiến tiếp theo trong cuộc cách mạng 802.11n là gì? Sự hỗ trợ công ty – điều sẽ có được trong năm nay. D-Link, Netgear và Linksys là tất cả các router không dây lớp công ty đang được phát hành có hỗ trợ 802.11n và chế độ cầu nối cũng như VPN và WPA-TKIP lớp công ty. 802.11n Draft 2.0 sẽ là cái mà chúng ta mong đợi hơn cả và được dự kiến ra mắt trong khoảng 6 tháng tới.
(theo QTM)
Trong hầu hết các trường hợp, các Wi-Fi này thường có tốc độ chậm và độ bao phủ hạn hẹp. Những gì thực sự cần thiết đối với một kết nối là phải có tốc độ nhanh, chạy xa được tới các góc của tòa nhà và có sự mã hóa tín hiệu mạnh.
Với các công ty hiện nay như Cisco, Netgear ProSafe, Juniper Networks và các sản phẩm ImageStream, bạn có thể thấy được phần nào câu trả lời. Các router không dây 802.11g thường cho tốc độ chậm, mặc dù chúng được hỗ trợ cầu nối (cầu nối đề làm tăng tín hiệu). Các điểm truy cập siêu nhanh super-fast 802.11n có tốc độ truy cao đạt khoảng 130Mbit/sec nhưng chúng vẫn bị giới hạn phạm vi khoảng 300 feet và không hỗ trợ cầu nối, vì vậy bạn không thể mở rộng tín hiệu.
Lời giải cho tốc độ và phạm vi
su dung 802.11n cho toc do mang wifi Ví dụ, nhiều router 802.11g như Belkin Wireless Pre-N F5D8230-4 có hỗ trợ cầu nối nhưng thông lượng chỉ cho đến khoảng 40Mbit/sec. Các router như Linksys Wireless-N WRT300N có hỗ trợ thông lượng nhanh khoảng 120Mbit/sec dưới các điều kiện lý tưởng không xuất hiện các tín hiệu vô tuyến khác trong phạm vi của nó – tuy nhiên vẫn không hỗ trợ cầu nối, và tín hiệu chỉ với được trong khoảng 600 feet (tất cả các sản phẩn 802.11n đều được thiết kế cho tốc độ cao nhưng phạm vi của chúng không rộng).
Chính vì vậy đi tìm lời giải về tốc độ và phạm vi là một vấn đề quan trọng.
Để có thể kết hợp tốt nhất về tốc độ, phạm vi và tính bảo mật, chỉ có một lựa chọn là quan sát các router có hỗ trợ chi tiết kỹ thuật 802.11n Draft 2.0 cho chế độ cầu nối, bảo mật WPA-TKIP nâng cao và một tín hiệu với tốc độ 100Mbit/sec. Ý tưởng được lấy từ thông lượng nhanh ở N – cho tốc độ 100Mbit/sec và phạm vi được mở rộng.
Netgear, D-Link và Trendnet là các thiết bị đi đầu trong lĩnh vực mạng không dây. Các thiết bị này rất có ý nghĩa cho thị trường gia đình, nhưng có nhiều tính năng nâng cao làm việc tốt trong các cài đặt công ty, như luồng video hoặc download mạng bên trong rất nhanh.
Ví dụ trên Trendnet TEW-630APB, bạn có thể bắc cầu đến 6 router vì vậy tín hiệu có thể vươn xa từ tòa nhà này sang tòa nhà khác mà vẫn bảo đảm tốc độ là 100Mbit/sec cùng với bảo vệ WPA. Bạn có thể đặt một TEW-630APB tại vị trí trung tâm của một tòa nhà và triển khai thêm 6 mô hình khác xung quanh sàn để có độ bao phủ tốt nhất – ở tốc độ cao nhất có thể.
Chỉ có một chút khó hiểu là các router không sử dụng trong công ty thường không hỗ trợ phần cứng VPN hoặc các tính năng bảo mật công ty, vì vậy bạn không nên sử dụng chúng cho các truy cập LAN trong công ty mà thay vì đó chúng chỉ lý tưởng cho dòng video không dây từ nhà này sang nhà khác hoặc cung cấp băng tần mở rộng cho người dùng laptop có thể thực hiện lưu trữ các file của họ hoặc tải một số lượng lớn dữ liệu từ các trang mạng nội bộ an toàn bên trong.
Đây là mô hình tốt nhất bạn có thể xem xét, cùng với các chi tiết về cách cấu hình chế độ cầu nối. Lưu ý rằng trên hầu hết các mô hình này, bạn cần phải có bản vá mới nhất cho 802.11n Draft 2.0; hãy kiểm tra website của công ty đó, kích vào hỗ trợ, tìm mô hình router cụ thể, tải về các bản vá mới nhất và cài đặt nó.
Netgear RangeMax Next WNR834B
Netgear RangeMax Next WNR834B hỗ trợ việc nối kết giữa hai mô hình giống nhau. Một chạy trong chế độ trạm gốc "base station" và một chạy trong chế độ lặp "wireless repeater". Trước khi thiết lập mạng, bạn cần lưu ý đến địa chỉ điều khiển truy cập thiết bị (MAC) được viết trên nhãn của router.
Netgear RangeMax Next WNR834B
Cấu hình trạm gốc không dây bằng sử dụng địa chỉ MAC cho router lặp
Với thiết vị được thiết lập chạy trong chế độ trạm gốc, bạn chạy một cáp Ethernet đến máy chủ cho kết nối Internet và kết nối cáp Ethernet khác đến một trong 4 cổng mở và đến máy tính. (Netgear không khuyến khích việc cấu hình router sử dụng không dây). Theo các bước cài đặt của CD và sau đó truy cập vào địa chỉ IP của router trong trình duyệt – IP mặc định sẽ được liệt kê trong hướng dẫn sử dụng.
Netgear RangeMax Next WNR834B
Nhập vào một địa chỉ IP duy nhất cho router lặp
Bây giờ bạn kích vàp chức năng lặp Wireless Repeating Function. Kích vào tùy chọn Enable và kích nút radio cho trạm gốc không dây. Nhập vào địa chỉ MAC cho router thứ hai – hoặc các router còn lại mà bạn muốn thêm vào. Cài đặt router thứ hai. Kích tùy chọn tương tự Wireless Repeating Function, kích hoạt nó và chọn Wireless Repeater. Nhập vào một địa chỉ IP mới giống với routerr đầu tiên – nếu trạm gốc là 192.168.1.1 thì bạn sử dụng 192.168.2.2.
Trên cả hai router, các bạn nên sử dụng Windows Vista với Wi-Fi Protected Setup để cấu hình bảo mật. Trong khi máy tính vẫn chạy dây đến các router, bạn vào Network and Sharing Center. Kích "Set up a connection or network." Chọn tùy chọn "Set up a wireless router " và kích Next. Tên router – đây là một SSID mới – và kích Next. Đánh Security PIN tìm thấy trong nhãn của router và kích Next. Vista sẽ gợi ý một mã mật khẩu phức tạp cho bạn sử dụng; viết chúng ra và kích Next để hoàn thiện quá trình WPS và lặp lại cho router thứ hai.
Netgear RangeMax Next WNR834B
Sử dụng Windows Vista để cấu hình bảo mật
Trendnet Wireless N TEW-630APB
Hiện nay, Trendnet TEW-630APB hỗ trợ cầu nối thông qua 802.11n Draft 1.0. Nó sử dụng Wireless Distribution System cho việc bắc cầu, điều đó làm cho nó trở nên dễ dàng hơn trong việc cấu hình, tuy nhiên chúng sẽ chỉ làm việc khi bạn có hai hoặc nhiều router TEW-630APB sử dụng cùng một phần mềm. Hãy cài đặt phần mềm mới nhất tại Trendnet, kích Support, tìm kiểu router, tải về và cài đặt phần mềm mới nhất.
Theo cài đặt cơ bản CD cho cả hai router và lưu ý địa chỉ MAC được ghi trên nhãn của router. Trên router đầu tiên (chế độ cầu), bạn vào địa chỉ IP của router trong trình duyệt – IP mặc định được in trong hướng dẫn sử dụng. Kích “Advanced”,"Advanced Wireless." Tích vào hộp kiểm bên cạnh "WDS Enable" và đánh vào địa chỉ MAC cho router thứ hai (lặp). Kích "Basic," sau đó là "Wireless", bỏ chọn tùy chọn "Enable Auto Scan" và chọn một kênh để không bị xung đột với các tín hiệu không dây khác. (Sử dụng NetStumbler để xác định router nào đã được sử dụng và số kênh của chúng)
Trendnet Wireless N TEW-630APB
Kích hoạt WDS và nhập vào địa chỉ MAC
Trên router còn lại dùng để làm bộ lặp, bạn thực hiện theo các bước tương tự nhưng lúc này sử dụng địa chỉ MAC cho router trạm cơ bản. Chú ý phải sử dụng cùng kênh.
Bây giờ, trên cả hai router, kích hoạt bảo mật WPA-Personal, kích Basic, Wireless, sau đó kéo thanh cuộn xuống dưới màn hình và chọn WPA-Personal, đánh vào đó một khóa chia sẻ Pre-Shared Key. Viết số và lặp lại cho router thứ hai, sử dụng cùng khóa. Router thứ hai sẽ chạy trong chế độ lặp để mở rộng tín hiệu không dây.
Trendnet Wireless N TEW-630APB
Kích hoạt bảo mật WPA-Personal cho cả hai router và nhập vào khóa Pre-Shared Key
Kết luận
Bước tiến tiếp theo trong cuộc cách mạng 802.11n là gì? Sự hỗ trợ công ty – điều sẽ có được trong năm nay. D-Link, Netgear và Linksys là tất cả các router không dây lớp công ty đang được phát hành có hỗ trợ 802.11n và chế độ cầu nối cũng như VPN và WPA-TKIP lớp công ty. 802.11n Draft 2.0 sẽ là cái mà chúng ta mong đợi hơn cả và được dự kiến ra mắt trong khoảng 6 tháng tới.
(theo QTM)
Nhãn:
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT,
NETWORK,
wifi,
WIRELESS
27 thg 3, 2008
crack wep
Cách crack wep cũng khá đơn giản
_Crack từ windows:download aircrack về(bản dành cho windows),mua loại card wireless phù hợp,cài driver cho nó(loại card và driver nào xem trong trang download aircrack),chạy airodump để capture,khi nào xong thì dùng aircrack để decode.Chú ý cách này rất lâu nếu muốn nhanh thì phải kèm theo airGobbler Packet Generator hoặc commView for wifi để bơm dữ liệu, 2 soft này không free .Download và hướng dẫn chi tiết xem tại www.aircrack-ng.org/ và www.tamos.com/ và http://www.download-by.net/network-a...generator.html
-Crack từ Linux:cài aircrack và kismet trong linux̣(nếu không muốn mất công thì download bất cứ đĩa live cd Linux nào có chứa sẵn 2 phần mềm nói trên).Mua card wireless phù hợp để chạy trong linux.chuyển card wireless sang chế độ monitor.Chạy kismet để thu thập thông tin như MAC AP,MAC client.Sau đó chạy airodump để capture đồng thời chạy airplay để bơm các gói tin để tăng tốc độ capture của airodump.Sau đó tiếp tục chạy aircrack để đồng thời giải mã.Khi nào đủ dữ liệu thì aircrack sẽ báo wep key found.Cách này nhanh và free.Hướng dẫn chi tiết cụ thể xem tại www.aircrack-ng.org/
-Tại sao wep crack được và tại sao làm thế trong diễn đàn đã ghi đầy đủ(Xem các bài viết của Triệu tử Long)
-Crack WPA cũng được hướng dẫn tại www.aircrack-ng.org/
-Các biện pháp chống crack wireless xem tại www.aircrack-ng.org/ và http://www.wirelessdefence.org và http://www.wardrive.net và ngay trong diễn đàn......
http://vnpro.org/forum/showthread.php?s=9807652f67b6ea241b771e513eccd8ea&t=10266&page=2
http://www.tuto-fr.com/tutoriaux/crack-wep/FAQ/en-aircrack-documentation.php
http://www.aircrack-ng.org/doku.php
_Crack từ windows:download aircrack về(bản dành cho windows),mua loại card wireless phù hợp,cài driver cho nó(loại card và driver nào xem trong trang download aircrack),chạy airodump để capture,khi nào xong thì dùng aircrack để decode.Chú ý cách này rất lâu nếu muốn nhanh thì phải kèm theo airGobbler Packet Generator hoặc commView for wifi để bơm dữ liệu, 2 soft này không free .Download và hướng dẫn chi tiết xem tại www.aircrack-ng.org/ và www.tamos.com/ và http://www.download-by.net/network-a...generator.html
-Crack từ Linux:cài aircrack và kismet trong linux̣(nếu không muốn mất công thì download bất cứ đĩa live cd Linux nào có chứa sẵn 2 phần mềm nói trên).Mua card wireless phù hợp để chạy trong linux.chuyển card wireless sang chế độ monitor.Chạy kismet để thu thập thông tin như MAC AP,MAC client.Sau đó chạy airodump để capture đồng thời chạy airplay để bơm các gói tin để tăng tốc độ capture của airodump.Sau đó tiếp tục chạy aircrack để đồng thời giải mã.Khi nào đủ dữ liệu thì aircrack sẽ báo wep key found.Cách này nhanh và free.Hướng dẫn chi tiết cụ thể xem tại www.aircrack-ng.org/
-Tại sao wep crack được và tại sao làm thế trong diễn đàn đã ghi đầy đủ(Xem các bài viết của Triệu tử Long)
-Crack WPA cũng được hướng dẫn tại www.aircrack-ng.org/
-Các biện pháp chống crack wireless xem tại www.aircrack-ng.org/ và http://www.wirelessdefence.org và http://www.wardrive.net và ngay trong diễn đàn......
http://vnpro.org/forum/showthread.php?s=9807652f67b6ea241b771e513eccd8ea&t=10266&page=2
http://www.tuto-fr.com/tutoriaux/crack-wep/FAQ/en-aircrack-documentation.php
http://www.aircrack-ng.org/doku.php
Nhãn:
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT,
password,
THỦ THUẬT IT,
wifi,
WIRELESS
23 thg 3, 2008
Tìm địa chỉ IP của trang web
Đơn giản nhất bạn dùng lệnh NSLOOKUP của Windows:
(1) Vào Command Prompt
(2) > NSLOOKUP
(3) > gõ địa chỉ website cần xem IP, VD:
> www.yahoo.com
(4) > Exit để thoát ra.
Ngoài ra còn rất nhiều chương trình khác để tìm IP của website.
Lưu ý là có thể có nhiều website chia sẻ chung 1 địa chỉ IP và cũng có thể một website có nhiều IP (Yahoo.com chẳng hạn).
++++++++++
Ban phai dung tien ich nslookup. Ban co the download
tu:
http://www.freedownloadscenter.com/Network_and_Internet/
Network_Information_Tools/Resolve.html
hoac: http://www.trumphurst.com/nslookup.phtml
Dieu quan trong la ban phai cau hinh dung dia chi cua DNS server.
Chuc ban thanh cong.
Vnerdr@yahoo.com
http://vnexpress.net/Vietnam/Vi-tinh/Kinh-nghiem/2003/02/3B9C4C01/
(1) Vào Command Prompt
(2) > NSLOOKUP
(3) > gõ địa chỉ website cần xem IP, VD:
> www.yahoo.com
(4) > Exit
Ngoài ra còn rất nhiều chương trình khác để tìm IP của website.
Lưu ý là có thể có nhiều website chia sẻ chung 1 địa chỉ IP và cũng có thể một website có nhiều IP (Yahoo.com chẳng hạn).
++++++++++
Ban phai dung tien ich nslookup. Ban co the download
tu:
http://www.freedownloadscenter.com/Network_and_Internet/
Network_Information_Tools/Resolve.html
hoac: http://www.trumphurst.com/nslookup.phtml
Dieu quan trong la ban phai cau hinh dung dia chi cua DNS server.
Chuc ban thanh cong.
Vnerdr@yahoo.com
http://vnexpress.net/Vietnam/Vi-tinh/Kinh-nghiem/2003/02/3B9C4C01/
Nhãn:
cmd,
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT,
NETWORK,
WIRELESS
Wireless LAN WLAN : Khái niệm , mô hình và tiêu chuẩn
I.1. Wireless LAN là gì?
WLAN là một loại mạng máy tính nhưng việc kết nối giữa các thành phần trong mạng không sử dụng các loại cáp như một mạng thông thường, môi trường truyền thông của các thành phần trong mạng là không khí. Các thành phần trong mạng sử dụng sóng điện từ để truyền thông với nhau.
I.2. Lịch sử ra đời:
Công nghệ WLAN lần đầu tiên xuất hiện vào cuối năm 1990, khi những nhà sản xuất giới thiệu những sản phẩm hoạt động trong băng tần 900Mhz. Những giải pháp này (không được thống nhất giữa các nhà sản xuất) cung cấp tốc độ truyền dữ liệu 1Mbps, thấp hơn nhiều so với tốc độ 10Mbps của hầu hết các mạng sử dụng cáp hiện thời.
Năm 1992, những nhà sản xuất bắt đầu bán những sản phẩm WLAN sử dụng băng tần 2.4Ghz. Mặc dầu những sản phẩm này đã có tốc độ truyền dữ liệu cao hơn nhưng chúng vẫn là những giải pháp riêng của mỗi nhà sản xuất không được công bố rộng rãi. Sự cần thiết cho việc hoạt động thống nhất giữa các thiết bị ở những dãy tần số khác nhau dẫn đến một số tổ chức bắt đầu phát triển ra những chuẩn mạng không dây chung.
Năm 1997, Institute of Electrical and Electronics Engineers(IEEE) đã phê chuẩn sự ra đời của chuẩn 802.11, và cũng được biết với tên gọi WIFI (Wireless Fidelity) cho các mạng WLAN. Chuẩn 802.11 hỗ trợ ba phương pháp truyền tín hiệu, trong đó có bao gồm phương pháp truyền tín hiệu vô tuyến ở tần số 2.4Ghz.
Năm 1999, IEEE thông qua hai sự bổ sung cho chuẩn 802.11 là các chuẩn 802.11a và 802.11b (định nghĩa ra những phương pháp truyền tín hiệu). Và những thiết bị WLAN dựa trên chuẩn 802.11b đã nhanh chóng trở thành công nghệ không dây vượt trội. Các thiết bị WLAN 802.11b truyền phát ở tần số 2.4Ghz, cung cấp tốc độ truyền dữ liệu có thể lên tới 11Mbps. IEEE 802.11b được tạo ra nhằm cung cấp những đặc điểm về tính hiệu dụng, thông lượng (throughput) và bảo mật để so sánh với mạng có dây.
Năm 2003, IEEE công bố thêm một sự cải tiến là chuẩn 802.11g mà có thể truyền nhận thông tin ở cả hai dãy tần 2.4Ghz và 5Ghz và có thể nâng tốc độ truyền dữ liệu lên đến 54Mbps. Thêm vào đó, những sản phẩm áp dụng 802.11g cũng có thể tương thích ngược với các thiết bị chuẩn 802.11b. Hiện nay chuẩn 802.11g đã đạt đến tốc độ 108Mbps-300Mbps.
II.CÁC MÔ HÌNH WLAN:
Quote:
Mạng 802.11 linh hoạt về thiết kế, gồm 3 mô hình mạng sau:
· Mô hình mạng độc lập(IBSSs) hay còn gọi là mạng Ad hoc
· Mô hình mạng cơ sở (BSSs)
· Mô hình mạng mở rộng(ESSs)
II.1. MÔ HÌNH MẠNG AD HOC(Independent Basic Service sets (BSSs) ):
Quote:
Adhoc : wireless clients communicate directly with each other without the use of a wireless AP or a wired network
Ad hoc mode is also called peer-to-peer mode. Wireless clients in ad hoc mode form an Independent Basic Service Set (IBSS), which is two or more wireless clients who communicate directly without the use of a wireless AP.
Các nút di động(máy tính có hỗ trợ card mạng không dây) tập trung lại trong một không gian nhỏ để hình thành nên kết nối ngang cấp (peer-to-peer) giữa chúng. Các nút di động có card mạng wireless là chúng có thể trao đổi thông tin trực tiếp với nhau , không cần phải quản trị mạng. Vì các mạng ad-hoc này có thể thực hiện nhanh và dễ dàng nên chúng thường được thiết lập mà không cần một công cụ hay kỹ năng đặc biệt nào vì vậy nó rất thích hợp để sử dụng trong các hội nghị thương mại hoặc trong các nhóm làm việc tạm thời. Tuy nhiên chúng có thể có những nhược điểm về vùng phủ sóng bị giới hạn, mọi người sử dụng đều phải nghe được lẫn nhau.
II.2. MÔ HÌNH MẠNG CƠ SỞ (Basic service sets (BSSs) )
Bao gồm các điểm truy nhập AP (Access Point) gắn với mạng đường trục hữu tuyến và giao tiếp với các thiết bị di động trong vùng phủ sóng của một cell. AP đóng vai trò điều khiển cell và điều khiển lưu lượng tới mạng. Các thiết bị di động không giao tiếp trực tiếp với nhau mà giao tiếp với các AP.Các cell có thể chồng lấn lên nhau khoảng 10-15 % cho phép các trạm di động có thể di chuyển mà không bị mất kết nối vô tuyến và cung cấp vùng phủ sóng với chi phí thấp nhất. Các trạm di động sẽ chọn AP tốt nhất để kết nối. Một điểm truy nhập nằm ở trung tâm có thể điều khiển và phân phối truy nhập cho các nút tranh chấp, cung cấp truy nhập phù hợp với mạng đường trục, ấn định các địa chỉ và các mức ưu tiên, giám sát lưu lượng mạng, quản lý chuyển đi các gói và duy trì theo dõi cấu hình mạng. Tuy nhiên giao thức đa truy nhập tập trung không cho phép các nút di động truyền trực tiếp tới nút khác nằm trong cùng vùng với điểm truy nhập như trong cấu hình mạng WLAN độc lập. Trong trường hợp này, mỗi gói sẽ phải được phát đi 2 lần (từ nút phát gốc và sau đó là điểm truy nhập) trước khi nó tới nút đích, quá trình này sẽ làm giảm hiệu quả truyền dẫn và tăng trễ truyền dẫn.
II.3. MÔ HÌNH MẠNG MỞ RỘNG( Extended Service Set (ESSs))
Quote:
A set of two or more wireless APs connected to the same wired network is known as an Extended Service Set (ESS).
An ESS is a single logical network segment (also known as a subnet), and is identified by its SSID.
Mạng 802.11 mở rộng phạm vi di động tới một phạm vi bất kì thông qua ESS. Một ESSs là một tập hợp các BSSs nơi mà các Access Point giao tiếp với nhau để chuyển lưu lượng từ một BSS này đến một BSS khác để làm cho việc di chuyển dễ dàng của các trạm giữa các BSS, Access Point thực hiện việc giao tiếp thông qua hệ thống phân phối. Hệ thống phân phối là một lớp mỏng trong mỗi Access Point mà nó xác định đích đến cho một lưu lượng được nhận từ một BSS. Hệ thống phân phối được tiếp sóng trở lại một đích trong cùng một BSS, chuyển tiếp trên hệ thống phân phối tới một Access Point khác, hoặc gởi tới một mạng có dây tới đích không nằm trong ESS. Các thông tin nhận bởi Access Point từ hệ thống phân phối được truyền tới BSS sẽ được nhận bởi trạm đích.
II.4. Ưu điểm của WLAN:
Quote:
Sự tiện lợi: Mạng không dây cũng như hệ thống mạng thông thường. Nó cho phép người dùng truy xuất tài nguyên mạng ở bất kỳ nơi đâu trong khu vực được triển khai(nhà hay văn phòng). Với sự gia tăng số người sử dụng máy tính xách tay(laptop), đó là một điều rất thuận lợi.
Khả năng di động: Với sự phát triển của các mạng không dây công cộng, người dùng có thể truy cập Internet ở bất cứ đâu. Chẳng hạn ở các quán Cafe, người dùng có thể truy cập Internet không dây miễn phí.
Hiệu quả: Người dùng có thể duy trì kết nối mạng khi họ đi từ nơi này đến nơi khác.
Triển khai: Việc thiết lập hệ thống mạng không dây ban đầu chỉ cần ít nhất 1 access point. Với mạng dùng cáp, phải tốn thêm chi phí và có thể gặp khó khăn trong việc triển khai hệ thống cáp ở nhiều nơi trong tòa nhà.
Khả năng mở rộng: Mạng không dây có thể đáp ứng tức thì khi gia tăng số lượng người dùng. Với hệ thống mạng dùng cáp cần phải gắn thêm cáp
.II.5. Nhược điểm của WLAN:
Quote:
-Bảo mật: Môi trường kết nối không dây là không khí nên khả năng bị tấn công của người dùng là rất cao.
-Phạm vi: Một mạng chuẩn 802.11g với các thiết bị chuẩn chỉ có thể hoạt động tốt trong phạm vi vài chục mét. Nó phù hợp trong 1 căn nhà, nhưngvới một tòa nhà lớn thì không đáp ứng được nhu cầu. Để đáp ứng cần phải mua thêm Repeater hay access point, dẫn đến chi phí gia tăng.
Độ tin cậy: Vì sử dụng sóng vô tuyến để truyền thông nên việc bị nhiễu, tín hiệu bị giảm do tác động của các thiết bị khác(lò vi sóng,….) là không tránh khỏi. Làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động của mạng.
-Tốc độ: Tốc độ của mạng không dây (1- 125 Mbps) rất chậm so với mạng sử dụng cáp(100Mbps đến hàng Gbps).
Chương 2
CÁC THIẾT BỊ HẠ TẦNG MẠNG KHÔNG DÂY
I.Các thiết bị hạ tầng mạng không dây(WLAN)
I.1. Điểm truy cập: AP(access point)
Cung cấp cho các máy khách(client) một điểm truy cập vào mạng "Nơi mà các máy tính dùng wireless có thể vào mạng nội bộ của công ty". AP là một thiết bị song công(Full duplex) có mức độ thông minh tương đương với một chuyển mạch Ethernet phức tạp(Switch).
I.2. Các chế độ hoạt động của AP:
AP có thể giao tiếp với các máy không dây, với mạng có dây truyền thống và với các AP khác. Có 3 Mode hoạt động chính của AP:
Quote:
-Chế độ gốc (Root mode): Root mode được sử dụng khi AP được kết nối với mạng backbone có dây thông qua giao diện có dây (thường là Ethernet) của nó. Hầu hết các AP sẽ hỗ trợ các mode khác ngoài root mode, tuy nhiên root mode là cấu hình mặc định. Khi một AP được kết nối với phân đoạn có dây thông qua cổng Ethernet của nó, nó sẽ được cấu hình để hoạt động trong root mode. Khi ở trong root mode, các AP được kết nối với cùng một hệ thống phân phối có dây có thể nói chuyện được với nhau thông qua phân đoạn có dây. Các client không dây có thể giao tiếp với các client không dây khác nằm trong những cell (ô tế bào, hay vùng phủ sóng của AP) khác nhau thông qua AP tương ứng mà chúng kết nối vào, sau đó các AP này sẽ giao tiếp với nhau thông qua phân đoạn có dây
như ví dụ trong hình 2-3.
-
Quote:
Chế độ cầu nối(bridge Mode): Trong Bridge mode, AP hoạt động hoàn toàn giống với một cầu nối không dây. AP sẽ trở thành một cầu nối không dây khi được cấu hình theo cách này. Chỉ một số ít các AP trên thị trường có hỗ trợ chức năng Bridge, điều này sẽ làm cho thiết bị có giá cao hơn đáng kể. Chúng ta sẽ giải thích một cách ngắn gọn cầu nối không dây hoạt động như thế nào,
từ hình 4-3 Client không kết nối với cầu nối, nhưng thay vào đó, cầu nối được sử dụng để kết nối 2 hoặc nhiều đoạn mạng có dây lại với nhau bằng kết nối không dây.
Quote:
Chế độ lặp(repeater mode): AP có khả năng cung cấp một đường kết nối không dây upstream vào mạng có dây thay vì một kết nối có dây bình thường. Một AP hoạt động như là một root AP và AP còn lại hoạt động như là một Repeater không dây. AP trong repeater mode kết nối với các client như là một AP và kết nối với upstream AP như là một client.
I.3. Các thiết bị máy khách trong WLAN:
Là những thiết bị WLAN được các máy khách sử dụng để kết nối vào WLAN.
I.3.a.Card PCI Wireless:
Là thành phần phổ biến nhất trong WLAN. Dùng để kết nối các máy khách vào hệ thống mạng không dây. Được cắm vào khe PCI trên máy tính. Loại này được sử dụng phổ biến cho các máy tính để bàn(desktop) kết nối vào mạng không dây.
I.3.b.Card PCMCIA Wireless:
Trước đây được sử dụng trong các máy tính xách tay(laptop) và cácthiết bị hỗ trợ cá nhân số PDA(Personal Digital Associasion). Hiện nay nhờ sự phát triển của công nghệ nên PCMCIA wireless ít được sử dụng vì máy tính xách tay và PDA,…. đều được tích hợp sẵn Card Wireless bên trong thiết bị.
I.3.c.Card USB Wireless:
Loại rất được ưu chuộng hiện nay dành cho các thiết bị kết nối vào mạng không dây vì tính năng di động và nhỏ gọn . Có chức năng tương tự như Card PCI Wireless, nhưng hỗ trợ chuẩn cắm là USB (Universal ************ Bus). Có thể tháo lắp nhanh chóng (không cần phải cắm cố định như Card PCI Wireless) và hỗ trợ cắm khi máy tính đang hoạt động.
BẢO MẬT MẠNG KHÔNG DÂY
I.Tại sao phải bảo mật mạng không dây(WLAN)
Để kết nối tới một mạng LAN hữu tuyến ta cần phải truy cập theo đường truyền bằng dây cáp, phải kết nối một PC vào một cổng mạng. Với mạng không dây ta chỉ cần có máy của ta trong vùng sóng bao phủ của mạng không dây. Điều khiển cho mạng có dây là đơn giản: đường truyền bằng cáp thông thường được đi trong các tòa nhà cao tầng và các port không sử dụng có thể làm cho nó disable bằng các ứng dụng quản lý. Các mạng không dây (hay vô tuyến) sử dụng sóng vô tuyến xuyên qua vật liệu của các tòa nhà và như vậy sự bao phủ là không giới hạn ở bên trong một tòa nhà. Sóng vô tuyến có thể xuất hiện trên đường phố, từ các trạm phát từ các mạng LAN này, và như vậy ai đó có thể truy cập nhờ thiết bị thích hợp. Do đó mạng không dây của một công ty cũng có thể bị truy cập từ bên ngoài tòa nhà công ty của họ.
Để cung cấp mức bảo mật tối thiểu cho mạng WLAN thì ta cần hai thành phần sau:
Quote:
·Cách thức để xác định ai có quyền sử dụng WLAN - yêu cầu này được thỏa mãn bằng cơ chế xác thực( authentication) .
·Một phương thức để cung cấp tính riêng tư cho các dữ liệu không dây – yêu cầu này được thỏa mãn bằng một thuật toán mã hóa ( encryption).
II.Bảo mật mạng không dây(WLAN)
Một WLAN gồm có 3 phần: Wireless Client, Access Points và Access Server.
Quote:
+ Wireless Client điển hình là một chiếc laptop với NIC (Network Interface Card) không dây được cài đặt để cho phép truy cập vào mạng không dây.
+ Access Points (AP) cung cấp sự bao phủ của sóng vô tuyến trong một vùng nào đó (được biết đến như là các cell (tế bào)) và kết nối đến mạng không dây.
+ Còn Access Server điều khiển việc truy cập. Một Access Server (như là Enterprise Access Server (EAS) ) cung cấp sự điều khiển, quản lý, các đặc tính bảo mật tiên tiến cho mạng không dây Enterprise
Một bộ phận không dây có thể được kết nối đến các mạng không dây tồn tại theo một số cách. Kiến trúc tổng thể sử dụng EAS trong “Gateway Mode” hay “Controller Mode”.
Trong Gateway Mode ( hình 3-4) EAS được đặt ở giữa mạng AP và phần còn lại của mạng Enterprise. Vì vậy EAS điều khiển tất cả các luồng lưu lượng giữa các mạng không dây và có dây và thực hiện như một tường lửa.
Hình ảnh này đã được thu nhỏ lại. Hãy click vào đây để xem hình gốc. Kích thước của hình gốc là 805x485.
Trong Controll Mode (hình 3-3), EAS quản lý các AP và điều khiển việc truy cập đến mạng không dây, nhưng nó không liên quan đến việc truyền tải dữ liệu người dùng. Trong chế độ này, mạng không dây có thể bị phân chia thành mạng dây với firewall thông thường hay tích hợp hoàn toàn trong mạng dây Enterprise. Kiến trúc WLAN hỗ trợ một mô hình bảo mật được thể hiện trên hình 4. Mỗi một phần tử bên trong mô hình đều có thể cấu hình theo người quản lý mạng để thỏa mãn và phù hợp với những gì họ cần.
Hình ảnh này đã được thu nhỏ lại. Hãy click vào đây để xem hình gốc. Kích thước của hình gốc là 747x488.
Quote:
1.Device Authorization: Các Client không dây có thể bị ngăn chặn theo địa chỉ phần cứng của họ (ví dụ như địa chỉ MAC). EAS duy trì một cơ sở dữ liệu của các Client không dây được cho phép và các AP riêng biệt khóa hay lưu thông lưu lượng phù hợp.
2.Encryption: WLAN cũng hỗ trợ WEP, 3DES và chuẩn TLS(Transport Layer Sercurity) sử dụng mã hóa để tránh người truy cập trộm. Các khóa WEP có thể tạo trên một per-user, per session basic.
3.Authentication: WLAN hỗ trợ sự ủy quyền lẫn nhau (bằng việc sử dụng 802.1x EAP-TLS) để bảo đảm chỉ có các Client không dây được ủy quyền mới được truy cập vào mạng. EAS sử dụng một RADIUS server bên trong cho sự ủy quyền bằng việc sử dụng các chứng chỉ số. Các chứng chỉ số này có thể đạt được từ quyền chứng nhận bên trong (CA) hay được nhập từ một CA bên ngoài. Điều này đã tăng tối đa sự bảo mật và giảm tối thiểu các thủ tục hành chính.
4.Firewall: EAS hợp nhất packet filtering và port blocking firewall dựa trên các chuỗi IP. Việc cấu hình từ trước cho phép các loại lưu lượng chung được enable hay disable.
5.VPN: EAS bao gồm một IPSec VPN server cho phép các Client không dây thiết lập các session VPN vững chắc trên mạng..
III. MÃ HÓA
Quote:
Mã hóa là biến đổi dữ liệu để chỉ có các thành phần được xác nhận mới có thể giải mã được nó. Quá trình mã hóa là kết hợp plaintext với một khóa để tạo thành văn bản mật (Ciphertext). Sự giải mã được bằng cách kết hợp Ciphertext với khóa để tái tạo lại plaintext gốc như hình 3-6. Quá trình xắp xếp và phân bố các khóa gọi là sự quản lý khóa.
Có hai loại mật mã:
Quote:
•Mật mã dòng (stream ciphers)
•Mật mã khối ( block ciphers)
Cả hai loại mật mã này hoạt động bằng cách sinh ra một chuỗi khóa ( key stream) từ một giá trị khóa bí mật. Chuỗi khóa sau đó sẽ được trộn với dữ liệu (plaintext) để sinh dữ liệu đã được mã hóa. Hai loại mật mã này khác nhau về kích thước của dữ liệu mà chúng thao tác tại một thời điểm.
Quote:
Mật mã dòng phương thức mã hóa theo từng bit, mật mã dòng phát sinh chuỗi khóa liên tục dựa trên giá trị của khóa, ví dụ một mật mã dòng có thể sinh ra một chuỗi khóa dài 15 byte để mã hóa một frame và môt chuỗi khóa khác dài 200 byte để mã hóa một frame khác.
Mật mã dòng là một thuật toán mã hóa rất hiệu quả, ít tiêu tốn tài nguyên (CPU).
Quote:
Ngược lại, mật mã khối sinh ra một chuỗi khóa duy nhất và có kích thước cố định(64 hoặc 128 bit). Chuỗi kí tự chưa được mã hóa( plaintext) sẽ được phân mảnh thành những khối(block) và mỗi khối sẽ được trộn với chuỗi khóa một cách độc lập. Nếu như khối plaintext nhỏ hơn khối chuỗi khóa thì plaintext sẽ được đệm thêm vào để có được kích thước thích hợp. Tiến trình phân mảnh cùng với một số thao tác khác của mật mã khối sẽ làm tiêu tốn nhiều tài nguyên CPU.
Tiến trình mã hóa dòng và mã hóa khối còn được gọi là chế độ mã hóa khối mã điện tử ECB ( Electronic Code Block). Chế độ mã hóa này có đặc điểm là cùng một đầu vào plaintext ( input plain) sẽ luôn luôn sinh ra cùng một đầu ra ciphertext (output ciphertext). Đây chính là yếu tố mà kẻ tấn công có thể lợi dụng để nhận dạng của ciphertext và đoán được plaintext ban đầu.
Một số kỹ thuật mã hóa có thể khắc phục được vấn đề trên:
Quote:
•Sử dụng vector khởi tạo IV ( Initialization Vector)
•Chế độ phản hồi (FeedBack)
a)Vector khởi tạo IV
Vector khởi tạo IV là một số được thêm vào khóa và làm thay đổi khóa . IV được nối vào khóa trước khi chuỗi khóa được sinh ra, khi IV thay đổi thì chuỗi khóa cũng sẽ thay đổi theo và kết quả là ta sẽ có ciphertext khác nhau. Ta nên thay đổi giá trị IV theo từng frame. Theo cách này nếu một frame được truyền 2 lần thì chúng ta sẽ có 2 ciphertext hoàn toàn khác nhau cho từng frame.
a)Chế độ phản hồi (Feedback Modes)
Chế độ phản hồi cải tiến quá trình mã hóa để tránh việc một plaintext sinh ra cùng một ciphertext trong suốt quá trình mã hóa. Chế độ phản hồi thường được sử dụng với mật mã khối.
b)Thuật toán WEP(Wired Equivalent Privacy )
Chuẩn 802.11 cung cấp tính riêng tư cho dữ liệu bằng thuật toán WEP. WEP dựa trên mật mã dòng đối xứng RC4( Ron’s code 4) được Ron Rivest thuộc hãng RSA Security Inc phát triển..
Quote:
Thuật toán mã hóa RC4 là thuật toán mã hóa đối xứng( thuật toán sử dụng cùng một khóa cho việc mã hóa và giải mã). WEP là thuật toán mã hóa được sử dụng bởi tiến trình xác thực khóa chia sẻ để xác thực người dùng và mã hóa dữ liệu trên phân đoạn mạng không dây.
Để tránh chế độ ECB(Electronic Code Block) trong quá trình mã hóa, WEP sử dụng 24 bit IV, nó được kết nối vào khóa WEP trước khi được xử lý bởi RC4. Giá trị IV phải được thay đổi theo từng frame để tránh hiện tượng xung đột. Hiện tượng xung đột IV xảy ra khi sử dụng cùng một IV và khóa WEP kết quả là cùng một chuỗi khóa được sử dụng để mã hóa frame.
Chuẩn 802.11 yêu cầu khóa WEP phải được cấu hình trên cả client và AP khớp với nhau thì chúng mới có thể truyền thông được. Mã hóa WEP chỉ được sử dụng cho các frame dữ liệu trong suốt tiến trình xác thực khóa chia sẻ. WEP mã hóa những trường sau đây trong frame dữ liệu:
Quote:
•Phần dữ liệu (payload)
•Giá trị kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu ICV (Integrity Check value)
Tất cả các trường khác được truyền mà không được mã hóa. Giá trị IV được truyền mà không cần mã hóa để cho trạm nhận sử dụng nó để giải mã phần dữ liệu và ICV
Ngoài việc mã hóa dữ liệu 802.11 cung cấp một giá trị 32 bit ICV có chức năng kiểm tra tính toàn vẹn của frame. Việc kiểm tra này cho trạm thu biết rằng frame đã được truyền mà không có lỗi nào xảy ra trong suốt quá trình truyền.
ICV được tính dựa vào phương pháp kiểm tra lỗi bits CRC-32( Cyclic Redundancy Check 32). Trạm phát sẽ tính toán giá trị và đặt kết quả vào trong trường ICV, ICV sẽ được mã hóa cùng với frame dữ liệu.
Trạm thu sau nhận frame sẽ thực hiện giải mã frame, tính toán lại giá trị ICV và so sánh với giá trị ICV đã được trạm phát tính toán trong frame nhận được. Nếu 2 giá trị trùng nhau thì frame xem như chưa bị thay đổi hay giả mạo, nếu giá trị không khớp nhau thì frame đó sẽ bị hủy bỏ.
Do WEP sử dụng RC4, nếu RC4 được cài đặt không thích hợp thì sẽ tạo nên một giải pháp bảo mật kém. Cả khóa WEP 64 bit và 128 bit đều có mức độ yếu kém như nhau trong việc cài đặt 24 bit IV và cùng sử dụng tiến trình mã hóa có nhiều lỗ hỏng. Tiến trình này khởi tạo giá trị ban đầu cho IV là 0, sau đó tăng lên 1 cho mỗi frame được truyền. Trong một mạng thường xuyên bị nghẽn, những phân tích thống kê cho thấy rằng tất cả các giá trị IV(224 )sẽ được sử dụng hết trong nửa ngày. Điều này có nghĩa là sẽ khởi tạo lại giá trị IV ban đầu là 0 ít nhất một lần trong ngày. Đây chính là lổ hỏng cho các hacker tấn công. Khi WEP được sử dụng, IV sẽ được truyền đi mà không mã hóa cùng với mỗi gói tin đã được mã hóa cách làm này tạo ra những lỗ hỏng bảo mật sau:
Quote:
• Tấn công bị động để giải mã lưu lượng, bằng cách sử dụng những phân tích thống kê, khóa WEP có thể bị giải mã
• Dùng các phần mềm miễn phí để tìm kiếm khóa WEP như là: AirCrack , AirSnort, dWepCrack, WepAttack, WepCrack, WepLab. Khi khóa WEP đã bị ******** thì việc giải mã các gói tin có thể được thực hiện bằng cách lắng nghe các gói tin đã được quảng bá, sau đó dùng khóa WEP để giải mã chúng.
vKhóa WEP
Chức năng chính của WEP là dựa trên khóa, là yếu tố cơ bản cho thuật toán mã hóa. Khóa WEP là một chuỗi kí tự và số được sử dụng theo 2 cách: -Khóa WEP được sử dụng để định danh xác thực client -Khóa WEP được dùng để mã hóa dữ liệu Khi client sử dụng WEP muốn kết nối với AP thì AP sẽ xác định xem client có giá trị khóa chính xác hay không? Chính xác ở đây có nghĩa là client đã có khóa là một phần của hệ thống phân phát khóa WEP được cài đặt trong WLAN. Khóa WEP phải khớp ở cả hai đầu xác thực client và AP. Hầu hết các AP và client có khả năng lưu trữ 4 khóa WEP đồng thời. Một lý do hữa ích của việc sử dụng nhiều khóa WEP chính là phân đoạn mạng. Giả sử mạng có 80 client thì ta sử dụng 4 khóa WEP cho 4 nhóm khác nhau thay vì sử dụng 1 khóa. Nếu khóa WEP bị ******** thì ta chỉ cần thay đổi khóa WEP cho 20 client thay vì phải thay đổi cho toàn bộ mạng.Một lí do khác để có nhiều khóa WEP là trong môi trường hỗn hợp có card hỗ trợ 128 bit và có card chỉ hỗ trợ 64 bit. Trong trường hợp này chúng ta có thể phân ra hai nhóm người dùng.
vGiải pháp WEP tối ưu:
Với những điểm yếu nghiêm trọng của WEP và sự phát tán rộng rãi của các công cụ dò tìm khóa WEP trên Internet, giao thức này không còn là giải pháp bảo mật được chọn cho các mạng có mức độ nhạy cảm thông tin cao. Tuy nhiên, trong rất nhiều các thiết bị mạng không dây hiện nay, giải pháp bảo mật dữ liệu được hỗ trợ phổ biến vẫn là WEP. Dù sao đi nữa, các lỗ hổng của WEP vẫn có thể được giảm thiểu nếu được cấu hình đúng, đồng thời sử dụng các biện pháp an ninh khác mang tính chất hỗ trợ. Để gia tăng mức độ bảo mật cho WEP và gây khó khăn cho hacker, các biện pháp sau được đề nghị:
Quote:
- Sử dụng khóa WEP có độ dài 128 bit: Thường các thiết bị WEP cho phép cấu hình khóa ở ba độ dài: 40 bit, 64 bit, 128 bit. Sử dụng khóa với độ dài 128 bit gia tăng số lượng gói dữ liệu hacker cần phải có để phân tích IV, gây khó khăn và kéo dài thời gian giải mã khóa WEP
- Thực thi chính sách thay đổi khóa WEP định kỳ: Do WEP không hỗ trợ phương thức thay đổi khóa tự động nên sự thay đổi khóa định kỳ sẽ gây khó khăn cho người sử dụng. Tuy nhiên, nếu không đổi khóa WEP thường xuyên thì cũng nên thực hiện ít nhất một lần trong tháng hoặc khi nghi ngờ có khả năng bị lộ khóa.
- Sử dụng các công cụ theo dõi số liệu thống kê dữ liệu trên đường truyền không dây: Do các công cụ dò khóa WEP cần bắt được số lượng lớn gói dữ liệu và hacker có thể phải sử dụng các công cụ phát sinh dữ liệu nên sự đột biến về lưu lượng dữ liệu có thể là dấu hiệu của một cuộc tấn công WEP, đánh động người quản trị mạng phát hiện và áp dụng các biện pháp phòng chống kịp thời.
IV. Các giải pháp bảo mật nổi bật:
IV.1. WLAN VPN:
Mạng riêng ảo VPN bảo vệ mạng WLAN bằng cách tạo ra một kênh che chắn dữ liệu khỏi các truy cập trái phép. VPN tạo ra một tin cậy cao thông qua việc sử dụng một cơ chế bảo mật như IPSec (Internet Protocol Security). IPSec dùng các thuật toán mạnh như Data Encryption Standard (DES) và Triple DES (3DES) để mã hóa dữ liệu, và dùng các thuật toán khác để xác thực gói dữ liệu. IPSec cũng sử dụng thẻ xác nhận số để xác nhận khóa mã (public key). Khi được sử dụng trên mạng WLAN, cổng kết nối của VPN đảm nhận việc xác thực, đóng gói và mã hóa.
IV.2. TKIP (Temporal Key Integrity Protocol)
Là giải pháp của IEEE được phát triển năm 2004. Là một nâng cấp cho WEP nhằm vá những vấn đề bảo mật trong cài đặt mã dòng RC4 trong WEP. TKIP dùng hàm băm(hashing) IV để chống lại việc giả mạo gói tin, nó cũng cung cấp phương thức để kiểm tra tính toàn vẹn của thông điệp MIC(message integrity check ) để đảm bảo tính chính xác của gói tin. TKIP sử dụng khóa động bằng cách đặt cho mỗi frame một chuỗi số riêng để chống lại dạng tấn công giả mạo.
IV.3. AES(Advanced Encryption Standard)
Là một chức năng mã hóa được phê chuẩn bởi NIST(Nation Instutute of Standard and Technology). IEEE đã thiết kế một chế độ cho AES để đáp ứng nhu cầu của mạng WLAN. Chế độ này được gọi là CBC-CTR(Cipher Block Chaining Counter Mode) với CBC-MAC(Cipher Block Chaining Message Authenticity Check). Tổ hợp của chúng được gọi là AES-CCM . Chế độ CCM là sự kết hợp của mã hóa CBC-CTR và thuật toán xác thực thông điệp CBC-MAC. Sự kết hợp này cung cấp cả việc mã hóa cũng như kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu gửi.
Quote:
Mã hóa CBC-CTR sử dụng một biến đếm để bổ sung cho chuỗi khóa. Biến đếm sẽ tăng lên 1 sao khi mã hóa cho mỗi khối(block). Tiến trình này đảm bảo chỉ có duy nhất một khóa cho mỗi khối. Chuỗi ký tự chưa được mã hóa sẽ được phân mảnh ra thành các khối 16 byte.
Quote:
CBC-MAC hoạt động bằng cách sử dụng kết quả của mã hóa CBC cùng với chiều dài frame, địa chỉ nguồn, địa chỉ đích và dữ liệu. Kết quả sẽ cho ra giá trị 128 bit và được cắt thành 64 bit để sử dụng lúc truyền thông.
AES-CCM yêu cầu chi phí khá lớn cho cả quá trình mã hóa và kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu gửi nên tiêu tốn rất nhiều năng lực xữ lý của CPU khá lớn.
IV.4. 802.1x và EAP
802.1x là chuẩn đặc tả cho việc truy cập dựa trên cổng(port-based) được định nghĩa bởi IEEE. Hoạt động trên cả môi trường có dây truyền thống và không dây. Việc điều khiển truy cập được thực hiện bằng cách:
Quote:
Khi một người dùng cố gắng kết nối vào hệ thống mạng, kết nối của người dùng sẽ được đặt ở trạng thái bị chặn(blocking) và chờ cho việc kiểm tra định danh người dùng hoàn tất.
EAP là phương thức xác thực bao gồm yêu cầu định danh người dùng(password, cetificate,…), giao thức được sử dụng(MD5, TLS_Transport Layer Security, OTP_ One Time Password,…) hỗ trợ tự động sinh khóa và xác thực lẫn nhau.
Mô hình xác thực 802.1X-EAP cho Client diễn ra như sau:
IV.5. WPA (Wi-Fi Protected Access)
WEP được xây dựng để bảo vệ một mạng không dây tránh bị nghe trộm. Nhưng nhanh chóng sau đó người ta phát hiện ra nhiều lổ hỏng ở công nghệ này. Do đó, công nghệ mới có tên gọi WPA (Wi-Fi Protected Access) ra đời, khắc phục được nhiều nhược điểm của WEP.
Trong những cải tiến quan trọng nhất của WPA là sử dụng hàm thay đổi khoá TKIP (Temporal Key Integrity Protocol). WPA cũng sử dụng thuật toán RC4 như WEP, nhưng mã hoá đầy đủ 128 bit. Và một đặc điểm khác là WPA thay đổi khoá cho mỗi gói tin. Các công cụ thu thập các gói tin để phá khoá mã hoá đều không thể thực hiện được với WPA. Bởi WPA thay đổi khoá liên tục nên hacker không bao giờ thu thập đủ dữ liệu mẫu để tìm ra mật khẩu.
Không những thế, WPA còn bao gồm kiểm tra tính toàn vẹn của thông tin (Message Integrity Check). Vì vậy, dữ liệu không thể bị thay đổi trong khi đang ở trên đường truyền. WPA có sẵn 2 lựa chọn: WPA Personal và WPA Enterprise. Cả 2 lựa chọn đều sử dụng giao thức TKIP, và sự khác biệt chỉ là khoá khởi tạo mã hoá lúc đầu. WPA Personal thích hợp cho gia đình và mạng văn phòng nhỏ, khoá khởi tạo sẽ được sử dụng tại các điểm truy cập và thiết bị máy trạm.
Trong khi đó, WPA cho doanh nghiệp cần một máy chủ xác thực và 802.1x để cung cấp các khoá khởi tạo cho mỗi phiên làm việc.
Quote:
Có một lỗ hổng trong WPA và lỗi này chỉ xảy ra với WPA Personal. Khi mà sử dụng hàm thay đổi khoá TKIP được sử dụng để tạo ra các khoá mã hoá bị phát hiện, nếu hacker có thể đoán được khoá khởi tạo hoặc một phần của mật khẩu, họ có thể xác định được toàn bộ mật khẩu, do đó có thể giải mã được dữ liệu. Tuy nhiên, lỗ hổng này cũng sẽ bị loại bỏ bằng cách sử dụng những khoá khởi tạo không dễ đoán (đừng sử dụng những từ như "PASSWORD" để làm mật khẩu).
Quote:
Điều này cũng có nghĩa rằng kỹ thuật TKIP của WPA chỉ là giải pháp tạm thời, chưa cung cấp một phương thức bảo mật cao nhất. WPA chỉ thích hợp với những công ty mà không truyền dữ liệu "mật" về những thương mại, hay các thông tin nhạy cảm... WPA cũng thích hợp với những hoạt động hàng ngày và mang tính thử nghiệm công nghệ.
IV.6. WPA 2
Một giải pháp về lâu dài là sử dụng 802.11i tương đương với WPA2, được chứng nhận bởi Wi-Fi Alliance. Chuẩn này sử dụng thuật toán mã hoá mạnh mẽ và được gọi là Chuẩn mã hoá nâng cao AES(Advanced Encryption Standard). AES sử dụng thuật toán mã hoá đối xứng theo khối Rijndael, sử dụng khối mã hoá 128 bit, và 192 bit hoặc 256 bit. Để đánh giá chuẩn mã hoá này, Viện nghiên cứu quốc gia về Chuẩn và Công nghệ của Mỹ, NIST (National Institute of Standards and Technology), đã thông qua thuật toán mã đối xứng này.
Quote:
Và chuẩn mã hoá này được sử dụng cho các cơ quan chính phủ Mỹ để bảo vệ các thông tin nhạy cảm.
Trong khi AES được xem như là bảo mật tốt hơn rất nhiều so với WEP 128 bit hoặc 168 bit DES (Digital Encryption Standard). Để đảm bảo về mặt hiệu năng, quá trình mã hoá cần được thực hiện trong các thiết bị phần cứng như tích hợp vàochip. Tuy nhiên, rất ít người sử dụng mạng không dây quan tâm tới vấn đề này. Hơn nữa, hầu hết các thiết bị cầm tay Wi-Fi và máy quét mã vạch đều không tương thích với chuẩn 802.11i.
IV.7. Lọc (Filtering)
Lọc là cơ chế bảo mật cơ bản có thể sử dụng cùng với WEP. Lọc hoạt động giống như Access list trên router, cấm những cái không mong muốn và cho phép những cái mong muốn. Có 3 kiểu lọc cơ bản có thể được sử dụng trong wireless lan:
Quote:
- Lọc SSID
- Lọc địa chỉ MAC
- Lọc giao thức
a) Lọc SSID:
Quote:
Lọc SSID là một phương thức cơ bản của lọc và chỉ nên được sử dụng cho việc điều khiển truy cập cơ bản.
SSID của client phải khớp với SSID của AP để có thể xác thực và kết nối với tập dịch vụ. SSID được quảng bá mà không được mã hóa trong các Beacon nên rất dễ bị phát hiện bằng cách sử dụng các phần mềm. Một số sai lầm mà người sử dụng WLAN mắc phải trong việc quản lí SSID gồm:
Quote:
+ Sử dụng giá trị SSID mặc định tạo điều kiện cho hacker dò tìm địa chỉ MAC của AP.
+ Sử dụng SSID có liên quan đến công ty.
+ Sử dụng SSID như là phương thức bảo mật của công ty.
+ Quảng bá SSID một cách không cần thiết.
b) Lọc địa chỉ MAC
Hầu hết các AP đều có chức năng lọc địa chỉ MAC. Người quản trị có thể xây dựng danh sách các địa chỉ MAC được cho phép.
Nếu client có địa chỉ MAC không nằm trong danh sách lọc địa chỉ MAC của AP thì AP sẽ ngăn chặn không cho phép client đó kết nối vào mạng.
Nếu công ty có nhiều client thì có thể xây dựng máy chủ RADIUS có chức năng lọc địa chỉ MAC thay vì AP. Cấu hình lọc địa chỉ MAC là giải pháp bảo mật có tính mở rộng cao.
c) Lọc giao thức
Mạng Lan không dây có thể lọc các gói đi qua mạng dựa trên các giao thức từ lớp 2 đến lớp 7. Trong nhiều trường hợp người quản trị nên cài đặt lọc giao thức trong môi trường dùng chung, ví dụ trong trường hợp sau:
Quote:
Có một nhóm cầu nối không dây được đặt trên một Remote building trong một mạng WLAN của một trường đại học mà kết nối lại tới AP của tòa nhà kỹ thuật trung tâm. Vì tất cả những người sử dụng trong remote building chia sẻ băng thông 5Mbs giữa những tòa nhà này, nên một số lượng đáng kể các điều khiển trên các sử dụng này phải được thực hiện. Nếu các kết nối này được cài đặt với mục đích đặc biệt của sự truy nhập internet của người sử dụng, thì bộ lọc giao thức sẽ loại trừ tất cả các giao thức, ngoại trừ HTTP, SMTP, HTTPS, FTP…
V.CÁC KIỂU TẤN CÔNG TRONG MẠNG WLAN
Một số hình tấn công xâm nhập mạng không dây phổ biến:
V.1. ROGUE ACCESS POINT
1.Định nghĩa:
Access Point giả mạo được dùng để mô tả những Access Point được tạo ra một cách vô tình hay cố ý làm ảnh hưởng đến hệ thống mạng hiện có. Nó được dùng để chỉ các thiết bị hoạt động không dây trái phép mà không quan tâm đến mục đích sử dụng của chúng.
2.Phân loại:
a)Access Point được cấu hình không hoàn chỉnh
Một Access Point có thể bất ngờ trở thành 1 thiết bị giả mạo do sai sót trong việc cấu hình. Sự thay đổi trong Service Set Identifier(SSID), thiết lập xác thực, thiết lập mã hóa,… điều nghiêm trọng nhất là chúng sẽ không thể chứng thực các kết nối nếu bị cấu hình sai.
Ví dụ: trong trạng thái xác thực mở(open mode authentication) các người dùng không dây ở trạng thái 1(chưa xác thực và chưa kết nối) có thể gửi các yêu cầu xác thực đến một Access Point và được xác thực thành công sẽ chuyển sang trang thái 2 (được xác thực nhưng chưa kết nối). Nếu 1 Access Point không xác nhận sự hợp lệ của một máy khách do lỗi trong cấu hình, kẻ tấn công có thể gửi một số lượng lớn yêu cầu xác thực, làm tràn bảng yêu cầu kết nối của các máy khách ở Access Point , làm cho Access Point từ chối truy cập của các người dùng khác bao gồm cả người dùng được phép truy cập.
b)Access Point giả mạo từ các mạng WLAN lân cận
Các máy khách theo chuẩn 802.11 tự động chọn Access Point có sóng mạnh nhất mà nó phát hiện được để kết nối.
Ví dụ: Windows XP tự động kết nối đến kết nối tốt nhất có thể xung quanh nó. Vì vậy, những người dùng được xác thực của một tổ chức có thể kết nối đến các Access Point của các tổ chức khác lân cận. Mặc dù các Access Point lân cận không cố ý thu hút kết nối từ các người dùng, những kết nối đó vô tình để lộ những dữ liệu nhạy cảm.
c)Access Point giả mạo do kẻ tấn công tạo ra
Giả mạo AP là kiểu tấn công “man in the middle” cổ điển. Đây là kiểu tấn công mà tin tặc đứng ở giữa và trộm lưu lượng truyền giữa 2 nút. Kiểu tấn công này rất mạnh vì tin tặc có thể trộm tất cả lưu lượng đi qua mạng.
Rất khó khăn để tạo một cuộc tấn công “man in the middle” trong mạng có dây bởi vì kiểu tấn công này yêu cầu truy cập thực sự đến đường truyền. Trong mạng không dây thì lại rất dễ bị tấn công kiểu này. Tin tặc cần phải tạo ra một AP thu hút nhiều sự lựa chọn hơn AP chính thống. AP giả này có thể được thiết lập bằng cách sao chép tất cả các cấu hình của AP chính thống đó là: SSID, địa chỉ MAC v.v..Bước tiếp theo là làm cho nạn nhân thực hiện kết nối tới AP giả.
Quote:
-Cách thứ nhất là đợi cho nguời dùng tự kết nối.
-Cách thứ hai là gây ra một cuộc tấn công từ chối dịch vụ DoS trong AP chính thống do vậy nguời dùng sẽ phải kết nối lại với AP giả.
Trong mạng 802.11 sự lựa chọn AP được thực hiện bởi cường độ của tín hiệu nhận. Điều duy nhất tin tặc phải thực hiện là chắc chắn rằng AP của mình có cường độ tín hiệu mạnh hơn cả. Để có được điều đó tin tặc phải đặt AP của mình gần người bị lừa hơn là AP chính thống hoặc sử dụng kỹ thuật anten định hướng. Sau khi nạn nhân kết nối tới AP giả, nạn nhân vẫn hoạt động như bình thường do vậy nếu nạn nhân kết nối đến một AP chính thống khác thì dữ liệu của nạn nhân đều đi qua AP giả. Tin tặc sẽ sử dụng các tiện ích để ghi lại mật khẩu của nạn nhân khi trao đổi với Web Server. Như vậy tin tặc sẽ có được tất cả những gì anh ta muốn để đăng nhập vào mạng chính thống. Kiểu tấn công này tồn tại là do trong 802.11 không yêu cầu chứng thực 2 hướng giữa AP và nút. AP phát quảng bá ra toàn mạng. Điều này rất dễ bị tin tặc nghe trộm và do vậy tin tặc có thể lấy được tất cả các thông tin mà chúng cần. Các nút trong mạng sử dụng WEP để chứng thực chúng với AP nhưng WEP cũng có những lỗ hổng có thể khai thác. Một tin tặc có thể nghe trộm thông tin và sử dụng bộ phân tích mã hoá để trộm mật khẩu của người dùng
d)Access Point giả mạo được thiết lập bởi chính nhân viên của công ty
Vì sự tiện lợi của mạng không dây một số nhân viên của công ty đã tự trang bị Access Point và kết nối chúng vào mạng có dây của công ty. Do không hiểu rõ và nắm vững về bảo mật trong mạng không dây nên họ vô tình tạo ra một lỗ hỏng lớn về bảo mật. Những người lạ vào công ty và hacker bên ngoài có thể kết nối đến Access Point không được xác thực để đánh cắp băng thông, đánh cắp thông tin nhạy cảm của công ty, sự dụng hệ thống mạng của công ty tấn công người khác,…
V.2. De-authentication Flood Attack(tấn công yêu cầu xác thực lại )
Quote:
-Kẻ tấn công xác định mục tiêu tấn công là các người dùng trong mạng wireless và các kết nối của họ(Access Point đến các kết nối của nó).
-Chèn các frame yêu cầu xác thực lại vào mạng WLAN bằng cách giả mạo địa chỉ MAC nguồn và đích lần lượt của Access Point và các người dùng.
-Người dùng wireless khi nhận được frame yêu cầu xác thực lại thì nghĩ rằng chúng do Access Point gửi đến.
-Sau khi ngắt được một người dùng ra khỏi dịch vụ không dây, kẻ tấn công tiếp tục thực hiện tương tự đối với các người dùng còn lại.
-Thông thường người dùng sẽ kết nối lại để phục hồi dịch vụ, nhưng kẻ tấn công đã nhanh chóng tiếp tục gửi các gói yêu cầu xác thực lại cho người dùng.
V.3. Fake Access Point
Kẻ tấn công sử dụng công cụ có khả năng gửi các gói beacon với địa chỉ vật lý(MAC) giả mạo và SSID giả để tạo ra vô số Access Point giả lập.Điều này làm xáo trộn tất cả các phần mềm điều khiển card mạng không dây của người dùng.
V.4. Tấn công dựa trên sự cảm nhận sóng mang lớp vật lý
Quote:
Ta có thể hiểu nôm na là : Kẻ tất công lợi dụng giao thức chống đụng độ CSMA/CA, tức là nó sẽ làm cho tất cả ngừơi dùng nghĩ rằng lúc nào trong mạng cũng có 1 máy tính đang truyền thông. Điều này làm cho các máy tính khác luôn luôn ở trạng thái chờ đợi kẻ tấn công ấy truyền dữ liệu xong => dẫn đến tình trạng ngẽn trong mạng.
Tần số là một nhược điểm bảo mật trong mạng không dây. Mức độ nguy hiểm thay đổi phụ thuộc vào giao diện của lớp vật lý. Có một vài tham số quyết định sự chịu đựng của mạng là: năng lượng máy phát, độ nhạy của máy thu, tần số RF, băng thông và sự định hướng của anten. Trong 802.11 sử dụng thuật toán đa truy cập cảm nhận sóng mang (CSMA) để tránh va chạm. CSMA là một thành phần của lớp MAC. CSMA được sử dụng để chắc chắn rằng sẽ không có va chạm dữ liệu trên đường truyền. Kiểu tấn công này không sử dụng tạp âm để tạo ra lỗi cho mạng nhưng nó sẽ lợi dụng chính chuẩn đó. Có nhiều cách để khai thác giao thức cảm nhận sóng mang vật lý. Cách đơn giản là làm cho các nút trong mạng đều tin tưởng rằng có một nút đang truyền tin tại thời điểm hiện tại. Cách dễ nhất đạt được điều này là tạo ra một nút giả mạo để truyền tin một cách liên tục. Một cách khác là sử dụng bộ tạo tín hiệu RF. Một cách tấn công tinh vi hơn là làm cho card mạng chuyển vào chế độ kiểm tra mà ở đó nó truyền đi liên tiếp một mẫu kiểm tra. Tất cả các nút trong phạm vi của một nút giả là rất nhạy với sóng mang và trong khi có một nút đang truyền thì sẽ không có nút nào được truyền.
V.5. Tấn công ngắt kết nối (Disassociation flood attack)
Quote:
-Kẻ tấn công xác định mục tiêu ( wireless clients ) và mối liên kết giữa AP với các clients
-Kẻ tấn công gửi disassociation frame bằng cách giả mạo Source và Destination MAC đến AP và các client tương ứng
-Client sẽ nhận các frame này và nghĩ rằng frame hủy kết nối đến từ AP. Đồng thời kẻ tấn công cũng gởi disassociation frame đến AP.
-Sau khi đã ngắt kết nối của một client, kẻ tấn công tiếp tục thực hiện tương tự với các client còn lại làm cho các client tự động ngắt kết nối với AP.
-Khi các clients bị ngắt kết nối sẽ thực hiện kết nối lại với AP ngay lập tức. Kẻ tấn công tiếp tục gởi disassociation frame đến AP và client
Quote:
Tips : Có thể ta sẽ rất dễ nhầm lẫn giữa 2 kiều tấn công :Disassociation flood attack và De-authentication Flood Attack .
Giống nhau : về hình thức tấn công , có thể cho rằng chúng giống nhau vì nó giống như một đại bác 2 nòng , vừa tấn công Access Point vừa tấn công Client. Và quan trọng hơn hết , chúng "nả pháo" liên tục.
Khác nhau :
+ De-authentication Flood Attack : yêu cầu cả AP và client gởi lại frame xác thực=> xác thực failed
+ Disassociation flood attack : gởi disassociation frame làm cho AP và client tin tưởng rằng kết nối giữa chúng đã bị ngắt.
Câu hỏi đặt ra cho chúng ta bây giờ là : Kẻ tất công có thể dùng rất nhiều hành động đánh lừa cả Client và Access Point , vậy chúng ta sẽ phải làm gì để biết được "Bộ mặt thật của chúng cũng như cách phòng tránh". Các bạn xin vui lòng chuyển qua chương kế tiếp :Chương 4: TÌM HIỂU VỀ IDS (Hệ thống phát hiện xâm nhập) VÀ IDS TRONG MẠNG KHÔNG DÂY
Chương 4
TÌM HIỂU VỀ IDS VÀ IDS TRONG MẠNG KHÔNG DÂY
I. IDS(Intrusion Detection Systems)
I.1. Khái niệm về IDS
IDS(Intrusion Detection System_ hệ thống phát hiện xâm nhập) là một thống giám sát lưu thông mạng, các hoạt động khả nghi và cảnh báo cho hệ thống, nhà quản trị . Ngoài ra IDS cũng đảm nhận việc phản ứng lại với các lưu thông bất thường hay có hại bằng cách hành động đã được thiết lập trước như khóa người dùng hay địa chỉ IP nguồn đó truy cập hệ thống mạng,…..
IDS cũng có thể phân biệt giữa những tấn công bên trong từ bên trong (từ những người trong công ty) hay tấn công từ bên ngoài (từ các hacker). IDS phát hiện dựa trên các dấu hiệu đặc biệt về các nguy cơ đã biết (giống như cách các phần mềm diệt virus dựa vào các dấu hiệu đặc biệt để phát hiện và diệt virus) hay dựa trên so sánh lưu thông mạng hiện tại với baseline(thông số đo đạc chuẩn của hệ thống) để tìm ra các dấu hiệu khác thường.
Quote:
Ta có thể hiểu tóm tắt về IDS như sau :
+ Chức năng quan trọng nhất : giám sát -cảnh báo - bảo vệ
--------Giám sát : lưu lượng mạng + các hoạt động khả nghi.
--------Cảnh báo : báo cáo về tình trạng mạng cho hệ thống + nhà quản trị.
-------- Bảo vệ : Dùng những thiết lập mặc định và sự cấu hình từ nhà quản trị mà có những hành động thiết thực chống lại kẻ xâm nhập và phá hoại.
+ Chức năng mở rộng :
------- Phân biệt : "thù trong giặc ngoài"
------- Phát hiện : những dấu hiệu bất thường dựa trên những gì đã biết hoặc nhờ vào sự so sánh thông lượng mạng hiện tại với baseline
I.2. Phân loại IDS
Có 2 loại IDS là Network Based IDS(NIDS) và Host Based IDS (HIDS):
I.2.1. NIDS :
Được đặt giữa kết nối hệ thống mạng bên trong và mạng bên ngoài để giám sát toàn bộ lưu lượng vào ra.
Có thể là một thiết bị phần cứng riêng biệt được thiết lập sẵn hay phần mềm cài đặt trên máy tính. Chủ yếu dùng để đo lưu lượng mạng được sử dụng.Tuy nhiên có thể xảy ra hiện tượng nghẽn cổ chai khi lưu lượng mạng hoạt động ở mức cao.
Quote:
NIDS :
------Ví trí : mạng bên trong --NIDS---mạng bên ngoài
------Loại : hardware (phần cứng) hoặc software (phần mềm)
------Nhiệm vụ : chủ yếu giám sát lưu lượng ra vào mạng.
------Nhược điểm : Có thể xảy ra hiện tượng nghẽn khi lưu lượng mạng hoạt động ờ mức cao.
Một số sản phẩm NIDS :
-Cisco IDS
http://www.cisco.com/en/US/products/...113/index.html
-Dragon® IDS/IPS
http://www.enterasys.com/products/ad...rotection.aspx
I.2.2. HIDS
Được cài đặt cục bộ trên một máy tính làm cho nó trở nên linh hoạt hơn nhiều so với NIDS. Kiểm soát lưu lượng vào ra trên một máy tính, có thể được triển khai trên nhiều máy tính trong hệ thống mạng. HIDS có thể được cài đặt trên nhiều dạng máy tính khác nhau cụ thể như các máy chủ, máy trạm, máy tính xách tay. HIDS cho phép bạn thực hiện một cách linh hoạt trong các đoạn mạng mà NIDS không thể thực hiện được. Lưu lượng đã gửi tới máy tính HIDS được phân tích và chuyển qua nếu chúng không chứa mã nguy hiểm. HIDS được thiết kế hoạt động chủ yếu trên hệ điều hành Windows , mặc dù vậy vẫn có các sản phẩm hoạt động trong nền ứng dụng UNIX và nhiều hệ điều hành khác.
Quote:
HIDS :
------Ví trí : cài đặt cục bộ trên máy tính và dạng máy tính => linh hoạt hơn NIDS.
------Loại : software (phần mềm)
------Nhiệm vụ : phân tích lưu lượng ra vào mạng chuyển tới máy tính cài đặt HIDS
------Ưu điểm :
----------------+ Cài đặt trên nhiều dạng máy tính : xách tay, PC,máy chủ ...
----------------+ Phân tích lưu lượng mạng rồi mới forward.
------Nhược điểm : Đa số chạy trên hệ điều hành Window . Tuy nhiên cũng đã có 1 số chạy được trên Unix và những hệ điều hành khác.
Một số sản phẩm HIDS :
-Snort(Miễn phí_ open source)
Liên hệ: http://www.snort.org/
-GFI EventsManager 7
Liên hệ: http://www.gfi.com/lanselm/?adv=142&...ickid=13108213
-ELM 5.0 TNT software:
Liên hệ: http://www.tntsoftware.com/default.aspx
I.3. Các kỹ thuật xử lý dữ liệu được sử dụng trong các hệ thống phát hiện xâm nhập:
Phụ thuộc vào kiểu phương pháp được sử dụng để phát hiện xâm nhập, các cơ chế xử lý khác nhau cũng được sử dụng cho dữ liệu đối với một IDS.
-Hệ thống Expert (Expert systems)
Quote:
Hệ thống này làm việc trên một tập các nguyên tắc đã được định nghĩa từ trước để miêu tả các tấn công. Tất cả các sự kiện có liên quan đến bảo mật đều được kết hợp vào cuộc kiểm định và được dịch dưới dạng nguyên tắc if-then-else. Lấy ví dụ Wisdom & Sense và ComputerWatch (được phát triển tại AT&T).
-Phát hiện xâm nhập dựa trên luật(Rule-Based Intrusion Detection):
Quote:
Giống như phương pháp hệ thống Expert, phương pháp này dựa trên những hiểu biết về tấn công. Chúng biến đổi sự mô tả của mỗi tấn công thành định dạng kiểm định thích hợp. Như vậy, dấu hiệu tấn công có thể được tìm thấy trong các bản ghi(record). Một kịch bản tấn công có thể được mô tả, ví dụ như một chuỗi sự kiện kiểm định đối với các tấn công hoặc mẫu dữ liệu có thể tìm kiếm đã lấy được trong cuộc kiểm định. Phương pháp này sử dụng các từ tương đương trừu tượng của dữ liệu kiểm định. Sự phát hiện được thực hiện bằng cách sử dụng chuỗi văn bản chung hợp với các cơ chế. Điển hình, nó là một kỹ thuật rất mạnh và thường được sử dụng trong các hệ thống thương mại (ví dụ như: Cisco Secure IDS, Emerald eXpert-BSM(Solaris)).
-Phân biệt ý định người dùng(User intention identification):
Quote:
Kỹ thuật này mô hình hóa các hành vi thông thường của người dùng bằng một tập nhiệm vụ mức cao mà họ có thể thực hiện được trên hệ thống (liên quan đến chức năng người dùng). Các nhiệm vụ đó thường cần đến một số hoạt động được điều chỉnh sao cho hợp với dữ liệu kiểm định thích hợp. Bộ phân tích giữ một tập hợp nhiệm vụ có thể chấp nhận cho mỗi người dùng. Bất cứ khi nào một sự không hợp lệ được phát hiện thì một cảnh báo sẽ được sinh ra.
-Phân tích trạng thái phiên (State-transition analysis):
Quote:
Một tấn công được miêu tả bằng một tập các mục tiêu và phiên cần được thực hiện bởi một kẻ xâm nhập để gây tổn hại hệ thống. Các phiên được trình bày trong sơ đồ trạng thái phiên. Nếu phát hiện được một tập phiên vi phạm sẽ tiến hành cảnh báo hay đáp trả theo các hành động đã được định trước.
-Phương pháp phân tích thống kê (Statistical analysis approach):
Quote:
Đây là phương pháp thường được sử dụng.
Hành vi người dùng hay hệ thống (tập các thuộc tính) được tính theo một số biến thời gian. Ví dụ, các biến như là: đăng nhập người dùng, đăng xuất, số tập tin truy nhập trong một khoảng thời gian, hiệu suất sử dụng không gian đĩa, bộ nhớ, CPU,… Chu kỳ nâng cấp có thể thay đổi từ một vài phút đến một tháng. Hệ thống lưu giá trị có nghĩa cho mỗi biến được sử dụng để phát hiện sự vượt quá ngưỡng được định nghĩa từ trước. Ngay cả phương pháp đơn giản này cũng không thế hợp được với mô hình hành vi người dùng điển hình. Các phương pháp dựa vào việc làm tương quan thông tin về người dùng riêng lẻ với các biến nhóm đã được gộp lại cũng ít có hiệu quả.
Vì vậy, một mô hình tinh vi hơn về hành vi người dùng đã được phát triển bằng cách sử dụng thông tin người dùng ngắn hạn hoặc dài hạn. Các thông tin này thường xuyên được nâng cấp để bắt kịp với thay đổi trong hành vi người dùng. Các phương pháp thống kê thường được sử dụng trong việc bổ sung trong IDS dựa trên thông tin hành vi người dùng thông thường.
II. Wireless IDS:
I.1. Wireless IDS là gì?
IDS trong mạng WLAN(WIDS) làm việc có nhiều khác biệt so với môi trường mạng LAN có dây truyền thống.
Trong WLAN, môi trường truyền là không khí, các thiết bị có hỗ trợ chuẩn 802.11 trong phạm vi phủ sóng đều có thể truy cập vào mạng. Do đó cần có sự giám sát cả bên trong và bên ngoài hệ thống mạng. Một hệ thống WIDS thường là một hệ thống máy tính có phần cứng và phần mềm đặc biệt để phát hiện các hoạt động bất thường. Phần cứng wireless có nhiều tính năng so với card mạng wireless thông thường , nó bao gồm việc giám sát tần số sóng(RF_Radio frequency), phát hiện nhiễu,…. Một WIDS bao gồm một hay nhiều thiết bị lắng nghe để thu thập địa chỉ MAC (Media Access Control), SSID, các đặc tính được thiết lập ở các trạm, tốc độ truyền, kênh hiện tại, trạng thái mã hóa, …..
Quote:
Tóm lại Wireless IDS có :
+ Vị trí cần phải giám sát (rất chặt chẽ) : bên trong và bên ngoài mạng.
+Thiết bị và chức năng : phần cứng và phần mềm chuyên dụng có nhiều tín năng : thu thập địa chỉ MAC, SSID, đặc tính : thiết lập các trạm + tốc độ truyền + kênh + trạng thái mã hóa.
II.2. Nhiệm vụ của WIDS:
-Giám sát và phân tích các hoạt động của người dùng và hệ thống.
-Nhận diện các loại tấn công đã biết.
-Xác định các hoạt động bất thường của hệ thống mạng.
-Xác định các chính sách bảo mật cho WLAN.
-Thu thập tất cả truyền thông trong mạng không dây và đưa ra các cảnh báo dựa trên những dấu hiệu đã biết hay sự bất thường trong truyền thông.
II.3. Mô hình hoạt động:
WIDS có 2 mô hình hoạt động là: tập trung và phân tán:
II.3.1. WIDS tập trung (centralized WIDS):
WIDS tập trung có một bộ tập trung để thu thập tất cả các dữ liệu của các cảm biến mạng riêng lẻ và chuyển chúng tới thiết bị quản lý trung tâm, nơi dữ liệu IDS được lưu trữ và xử lý.
Hầu hết các IDS tập trung đều có nhiều cảm biến để có thể phát hiện xâm nhập trong phạm vi toàn mạng. Các log file và các tín hiệu báo động đều được gửi về thiết bị quản lý trung tâm, thiết bị này có thể dùng quản lý cũng như cập nhật cho tất cả các cảm biến. WIDS tập trung phù hợp với mạng WLAN phạm vi rộng vì dễ quản lý và hiệu quả trong việc xử lý dữ liệu.
II.3.2. WIDS phân tán (decentralize WIDS):
WIDS phân tán thực hiện cả chức năng cảm biến và quản lý. Mô hình này phù hợp với mạng WLAN nhỏ và có ít Access Point, wireless IDS phân tán tiết kiệm chi phí hơn so với WIDS tập trung.
II.4. Giám sát lưu lượng mạng( Traffic monitoring)
II.4.1. Xây dựng hệ thống WIDS để phân tích hiệu suất hoạt động của mạng wireless
Phân tích khả năng thực thi của mạng wireless là đề cập đến việc thu thập gói và giải mã. Sau đó tái hợp gói lại để thực hiện kết nối mạng. Việc phân tích giúp ta biết được sự cố xảy ra đối với mạng đang hoạt động.
Hệ thống WIDS giám sát toàn bộ WLAN, chuyển tiếp lưu lượng đã được tổng hợp và thu thập lưu lượng từ các bộ cảm biến. Sau đó phân tích lưu lượng đã thu thập được. Nếu lưu lượng đã được phân tích có sự bất thường thì cảnh báo sẽ được hiển thị.
Lưu lượng thu thập được có thể được lưu trữ trên một hệ thống khác hoặc được log vào database.
Quote:
WIDS -> thu thập lưu lượng mạng-> phân tích-> phát hiện bất thường-> cảnh báo
II.4.2. Hệ thống WIDS có thể gửi cảnh báo trong một số trường hợp sau:
-AP bị quá tải khi có quá nhiều trạm kết nối vào.
-Kênh truyền quá tải khi có quá nhiều AP hoặc lưu lượng sử dụng cùng kênh.
-AP có cấu hình không thích hợp hoặc không đồng nhất với các AP khác trong hệ thống mạng.
-Số các gói fragment quá nhiều.
-WIDS dò ra được các trạm ẩn.
-Số lần thực hiện kết nối vào mạng quá nhiều.
-…
I.1.3. Lập báo cáo về khả năng thực thi mạng
Thông tin thu thập được bởi WIDS tạo ra cơ sở dữ liệu được sử dụng để lập báo cáo về tình trạng hoạt động của mạng và lập ra kế hoạch cho hệ thống mạng
Báo cáo của WIDS có thể bao gồm 10 AP có cảnh báo nhiều nhất, biểu đồ hoạt động của các trạm theo thời gian, cách sử dụng trãi phổ…
Xu hướng gửi cảnh báo là khi AP biểu hiện một số vấn đề mới, hay là hoạt động mạng bị gián đoạn. Khảo sát cảnh báo của các AP khác ở cùng vị trí giúp ta nhận ra được sự khác nhau của các thiết bị bất thường và điều kiện môi trường đã làm ảnh hưởng đến mỗi AP trong vùng như thế nào. Mặt khác, so sánh cảnh báo của các AP qua nhiều vị trí có thể giúp ta xác định được vấn đề gây ra do bởi sự khác nhau về các dòng sản phẩm, phiên bản về phần mềm hệ thống( firmware), và về cấu hình.
Đến đây chúng ta hầu như đã có cái nhìn sơ bộ về WIDS, và việc cần làm là dùng những thiết bị WIDS để áp dụng vào mạng không dây của doanh nghiệp.
III. Một số sản phẩm WIDS
IV. Cấu hình cho AP tham gia vào IDS
III. Một số sản phẩm WIDS:
III.1. AirDefense:
Liên hệ:http://www.airdefense.net/products/index.php
Là một hệ thống ngăn ngừa sự xâm nhập máy và cung cấp cho giải pháp tiện lợi nhất phát hiện , dò tìm sự xâm nhập, chính sách giám sát, tự bảo vệ, phân tích sự cố và sửa chữa từ xa.
III.2. Airmagnet:
Liên hệ:http://www.airmagnet.com/
Cung cấp rất nhiều giải pháp về Wireless IDS. AirMagnet cung cấp giải pháp phân tích WLAN từ xa cho Cisco.
IV. Cấu hình cho AP tham gia vào IDS
IV.1. Cấu hình cho AP ở chế độ scanner mode
Ở chế độ scanner mode, AP sẽ quét tất cả các kênh đang được kích hoạt . Một AP ở chế độ scanner sẽ không chấp nhận sự kết nối của client. Dùng CLI để cấu hình AP tham gia vào chế độ scanner:
AP(config)# int dot11radio 0
AP(config)# station role scanner
AP(config)#end
1.Cấu hình AP ở chế độ monitor
Khi AP được cấu hình ở chế độ scanner nó cũng thực hiện bắt gói ở chế độ monitor. Ở chế độ monitor AP bắt gói 802.11 và chuyển tiếp đến máy có cài đặt IDS. AP thêm 28 byte header vào mỗi frame mà nó chuyển tiếp, và bộ máy có cài đặt IDS sử dụng thông tin header để phân tích. AP sử dụng giao thức UDP để để chuyển tiếp gói đã được bắt. Nhiều gói được bắt sẽ kết hợp với một gói UDP để hạn chế việc tiêu tốn băng thông.
Ở chế độ scanner, AP sẽ quét tất cả các kênh đang được kích hoạt. Tuy nhiên, ở chế độ monitor AP chỉ quét kênh đã được cấu hình. Những bước cấu hình cho AP tham gia bắt gói và chuyển gói 802.11:
AP(config)# int dot11radio 0
AP(config)# monitor frames endpoint ip address 192.168.1.10 port 2000 truncate 512
Kiểm tra cấu hình đang chạy:
AP#show runBuilding configuration...
Current configuration : 1525 bytes
!
version 12.4
no service pad
service timestamps debug datetime msec
service timestamps log datetime msec
service password-encryption!
hostname ap
!
enable secret 5 $1$dEaG$.lrLC4DffBIIXqHJEcsMy1
!no aaa new-model
!
resource policy!
ip subnet-zero
!!!
dot11 ssid BCVT authentication open
!
dot11 ssid bcvt
!
!
!
username Cisco password 7 1531021F0725
!
bridge irb
!!interface Dot11Radio0
no ip address
no ip route-cache
!
ssid BCVT !
station-role scanner
monitor frames endpoint ip address 192.168.1.10 port 2000 truncate 512
bridge-group 1
bridge-group 1 subscriber-loop-control
bridge-group 1 block-unknown-source
no bridge-group 1 source-learning
unicast-flooding
bridge-group 1 spanning-disabled
!
interface Dot11Radio1
no ip address
no ip route-cache
shutdown
dfs band 3 block
channel dfs
station-role root
bridge-group 1
bridge-group 1 subscriber-loop-control
bridge-group 1 block-unknown-source
no bridge-group 1 source-learning
no bridge-group 1 unicast-flooding
bridge-group 1 spanning-disabled
!
interface FastEthernet0
no ip address no ip route-cache
duplex auto
speed auto
bridge-group 1 source-learning
bridge-group 1 spanning-disabled
!
interface BVI1
ip address 192.168.1.1 255.255.255.0
no ip route-cache
!
ip http server
no ip http secure-server
ip http help-path
http://www.cisco.com/warp/public/779...onfig/help/eag
!
control-plane
!
bridge 1 route ip
!
!
!
line con 0
line vty 0 4
login local
!End
Đến đây ta xem như đã hoàn thành xong bước đầu tiên của WIDS : Lí thuyết tổng quát.
Chương 5 :
XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁT HIỆN XÂM NHẬP WIDS
Sẽ giúp các bạn có thể xây dựng một hệ thống phát hiện xâm nhập cho mạng WLAN của doanh nghiệp mình.
Nhầm giúp cho các bạn dễ dàng lưu trữ và sử dụng , tôi đã tập hợp chương 4 thành 2 file tài liệu
http://www.ddth.com/showthread.php?t=159638&highlight=qu%E1%BA%A3n+tr%E1%BB%8B+m%E1%BA%A1ng
WLAN là một loại mạng máy tính nhưng việc kết nối giữa các thành phần trong mạng không sử dụng các loại cáp như một mạng thông thường, môi trường truyền thông của các thành phần trong mạng là không khí. Các thành phần trong mạng sử dụng sóng điện từ để truyền thông với nhau.
I.2. Lịch sử ra đời:
Công nghệ WLAN lần đầu tiên xuất hiện vào cuối năm 1990, khi những nhà sản xuất giới thiệu những sản phẩm hoạt động trong băng tần 900Mhz. Những giải pháp này (không được thống nhất giữa các nhà sản xuất) cung cấp tốc độ truyền dữ liệu 1Mbps, thấp hơn nhiều so với tốc độ 10Mbps của hầu hết các mạng sử dụng cáp hiện thời.
Năm 1992, những nhà sản xuất bắt đầu bán những sản phẩm WLAN sử dụng băng tần 2.4Ghz. Mặc dầu những sản phẩm này đã có tốc độ truyền dữ liệu cao hơn nhưng chúng vẫn là những giải pháp riêng của mỗi nhà sản xuất không được công bố rộng rãi. Sự cần thiết cho việc hoạt động thống nhất giữa các thiết bị ở những dãy tần số khác nhau dẫn đến một số tổ chức bắt đầu phát triển ra những chuẩn mạng không dây chung.
Năm 1997, Institute of Electrical and Electronics Engineers(IEEE) đã phê chuẩn sự ra đời của chuẩn 802.11, và cũng được biết với tên gọi WIFI (Wireless Fidelity) cho các mạng WLAN. Chuẩn 802.11 hỗ trợ ba phương pháp truyền tín hiệu, trong đó có bao gồm phương pháp truyền tín hiệu vô tuyến ở tần số 2.4Ghz.
Năm 1999, IEEE thông qua hai sự bổ sung cho chuẩn 802.11 là các chuẩn 802.11a và 802.11b (định nghĩa ra những phương pháp truyền tín hiệu). Và những thiết bị WLAN dựa trên chuẩn 802.11b đã nhanh chóng trở thành công nghệ không dây vượt trội. Các thiết bị WLAN 802.11b truyền phát ở tần số 2.4Ghz, cung cấp tốc độ truyền dữ liệu có thể lên tới 11Mbps. IEEE 802.11b được tạo ra nhằm cung cấp những đặc điểm về tính hiệu dụng, thông lượng (throughput) và bảo mật để so sánh với mạng có dây.
Năm 2003, IEEE công bố thêm một sự cải tiến là chuẩn 802.11g mà có thể truyền nhận thông tin ở cả hai dãy tần 2.4Ghz và 5Ghz và có thể nâng tốc độ truyền dữ liệu lên đến 54Mbps. Thêm vào đó, những sản phẩm áp dụng 802.11g cũng có thể tương thích ngược với các thiết bị chuẩn 802.11b. Hiện nay chuẩn 802.11g đã đạt đến tốc độ 108Mbps-300Mbps.
II.CÁC MÔ HÌNH WLAN:
Quote:
Mạng 802.11 linh hoạt về thiết kế, gồm 3 mô hình mạng sau:
· Mô hình mạng độc lập(IBSSs) hay còn gọi là mạng Ad hoc
· Mô hình mạng cơ sở (BSSs)
· Mô hình mạng mở rộng(ESSs)
II.1. MÔ HÌNH MẠNG AD HOC(Independent Basic Service sets (BSSs) ):
Quote:
Adhoc : wireless clients communicate directly with each other without the use of a wireless AP or a wired network
Ad hoc mode is also called peer-to-peer mode. Wireless clients in ad hoc mode form an Independent Basic Service Set (IBSS), which is two or more wireless clients who communicate directly without the use of a wireless AP.
Các nút di động(máy tính có hỗ trợ card mạng không dây) tập trung lại trong một không gian nhỏ để hình thành nên kết nối ngang cấp (peer-to-peer) giữa chúng. Các nút di động có card mạng wireless là chúng có thể trao đổi thông tin trực tiếp với nhau , không cần phải quản trị mạng. Vì các mạng ad-hoc này có thể thực hiện nhanh và dễ dàng nên chúng thường được thiết lập mà không cần một công cụ hay kỹ năng đặc biệt nào vì vậy nó rất thích hợp để sử dụng trong các hội nghị thương mại hoặc trong các nhóm làm việc tạm thời. Tuy nhiên chúng có thể có những nhược điểm về vùng phủ sóng bị giới hạn, mọi người sử dụng đều phải nghe được lẫn nhau.
II.2. MÔ HÌNH MẠNG CƠ SỞ (Basic service sets (BSSs) )
Bao gồm các điểm truy nhập AP (Access Point) gắn với mạng đường trục hữu tuyến và giao tiếp với các thiết bị di động trong vùng phủ sóng của một cell. AP đóng vai trò điều khiển cell và điều khiển lưu lượng tới mạng. Các thiết bị di động không giao tiếp trực tiếp với nhau mà giao tiếp với các AP.Các cell có thể chồng lấn lên nhau khoảng 10-15 % cho phép các trạm di động có thể di chuyển mà không bị mất kết nối vô tuyến và cung cấp vùng phủ sóng với chi phí thấp nhất. Các trạm di động sẽ chọn AP tốt nhất để kết nối. Một điểm truy nhập nằm ở trung tâm có thể điều khiển và phân phối truy nhập cho các nút tranh chấp, cung cấp truy nhập phù hợp với mạng đường trục, ấn định các địa chỉ và các mức ưu tiên, giám sát lưu lượng mạng, quản lý chuyển đi các gói và duy trì theo dõi cấu hình mạng. Tuy nhiên giao thức đa truy nhập tập trung không cho phép các nút di động truyền trực tiếp tới nút khác nằm trong cùng vùng với điểm truy nhập như trong cấu hình mạng WLAN độc lập. Trong trường hợp này, mỗi gói sẽ phải được phát đi 2 lần (từ nút phát gốc và sau đó là điểm truy nhập) trước khi nó tới nút đích, quá trình này sẽ làm giảm hiệu quả truyền dẫn và tăng trễ truyền dẫn.
II.3. MÔ HÌNH MẠNG MỞ RỘNG( Extended Service Set (ESSs))
Quote:
A set of two or more wireless APs connected to the same wired network is known as an Extended Service Set (ESS).
An ESS is a single logical network segment (also known as a subnet), and is identified by its SSID.
Mạng 802.11 mở rộng phạm vi di động tới một phạm vi bất kì thông qua ESS. Một ESSs là một tập hợp các BSSs nơi mà các Access Point giao tiếp với nhau để chuyển lưu lượng từ một BSS này đến một BSS khác để làm cho việc di chuyển dễ dàng của các trạm giữa các BSS, Access Point thực hiện việc giao tiếp thông qua hệ thống phân phối. Hệ thống phân phối là một lớp mỏng trong mỗi Access Point mà nó xác định đích đến cho một lưu lượng được nhận từ một BSS. Hệ thống phân phối được tiếp sóng trở lại một đích trong cùng một BSS, chuyển tiếp trên hệ thống phân phối tới một Access Point khác, hoặc gởi tới một mạng có dây tới đích không nằm trong ESS. Các thông tin nhận bởi Access Point từ hệ thống phân phối được truyền tới BSS sẽ được nhận bởi trạm đích.
II.4. Ưu điểm của WLAN:
Quote:
Sự tiện lợi: Mạng không dây cũng như hệ thống mạng thông thường. Nó cho phép người dùng truy xuất tài nguyên mạng ở bất kỳ nơi đâu trong khu vực được triển khai(nhà hay văn phòng). Với sự gia tăng số người sử dụng máy tính xách tay(laptop), đó là một điều rất thuận lợi.
Khả năng di động: Với sự phát triển của các mạng không dây công cộng, người dùng có thể truy cập Internet ở bất cứ đâu. Chẳng hạn ở các quán Cafe, người dùng có thể truy cập Internet không dây miễn phí.
Hiệu quả: Người dùng có thể duy trì kết nối mạng khi họ đi từ nơi này đến nơi khác.
Triển khai: Việc thiết lập hệ thống mạng không dây ban đầu chỉ cần ít nhất 1 access point. Với mạng dùng cáp, phải tốn thêm chi phí và có thể gặp khó khăn trong việc triển khai hệ thống cáp ở nhiều nơi trong tòa nhà.
Khả năng mở rộng: Mạng không dây có thể đáp ứng tức thì khi gia tăng số lượng người dùng. Với hệ thống mạng dùng cáp cần phải gắn thêm cáp
.II.5. Nhược điểm của WLAN:
Quote:
-Bảo mật: Môi trường kết nối không dây là không khí nên khả năng bị tấn công của người dùng là rất cao.
-Phạm vi: Một mạng chuẩn 802.11g với các thiết bị chuẩn chỉ có thể hoạt động tốt trong phạm vi vài chục mét. Nó phù hợp trong 1 căn nhà, nhưngvới một tòa nhà lớn thì không đáp ứng được nhu cầu. Để đáp ứng cần phải mua thêm Repeater hay access point, dẫn đến chi phí gia tăng.
Độ tin cậy: Vì sử dụng sóng vô tuyến để truyền thông nên việc bị nhiễu, tín hiệu bị giảm do tác động của các thiết bị khác(lò vi sóng,….) là không tránh khỏi. Làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động của mạng.
-Tốc độ: Tốc độ của mạng không dây (1- 125 Mbps) rất chậm so với mạng sử dụng cáp(100Mbps đến hàng Gbps).
Chương 2
CÁC THIẾT BỊ HẠ TẦNG MẠNG KHÔNG DÂY
I.Các thiết bị hạ tầng mạng không dây(WLAN)
I.1. Điểm truy cập: AP(access point)
Cung cấp cho các máy khách(client) một điểm truy cập vào mạng "Nơi mà các máy tính dùng wireless có thể vào mạng nội bộ của công ty". AP là một thiết bị song công(Full duplex) có mức độ thông minh tương đương với một chuyển mạch Ethernet phức tạp(Switch).
I.2. Các chế độ hoạt động của AP:
AP có thể giao tiếp với các máy không dây, với mạng có dây truyền thống và với các AP khác. Có 3 Mode hoạt động chính của AP:
Quote:
-Chế độ gốc (Root mode): Root mode được sử dụng khi AP được kết nối với mạng backbone có dây thông qua giao diện có dây (thường là Ethernet) của nó. Hầu hết các AP sẽ hỗ trợ các mode khác ngoài root mode, tuy nhiên root mode là cấu hình mặc định. Khi một AP được kết nối với phân đoạn có dây thông qua cổng Ethernet của nó, nó sẽ được cấu hình để hoạt động trong root mode. Khi ở trong root mode, các AP được kết nối với cùng một hệ thống phân phối có dây có thể nói chuyện được với nhau thông qua phân đoạn có dây. Các client không dây có thể giao tiếp với các client không dây khác nằm trong những cell (ô tế bào, hay vùng phủ sóng của AP) khác nhau thông qua AP tương ứng mà chúng kết nối vào, sau đó các AP này sẽ giao tiếp với nhau thông qua phân đoạn có dây
như ví dụ trong hình 2-3.
-
Quote:
Chế độ cầu nối(bridge Mode): Trong Bridge mode, AP hoạt động hoàn toàn giống với một cầu nối không dây. AP sẽ trở thành một cầu nối không dây khi được cấu hình theo cách này. Chỉ một số ít các AP trên thị trường có hỗ trợ chức năng Bridge, điều này sẽ làm cho thiết bị có giá cao hơn đáng kể. Chúng ta sẽ giải thích một cách ngắn gọn cầu nối không dây hoạt động như thế nào,
từ hình 4-3 Client không kết nối với cầu nối, nhưng thay vào đó, cầu nối được sử dụng để kết nối 2 hoặc nhiều đoạn mạng có dây lại với nhau bằng kết nối không dây.
Quote:
Chế độ lặp(repeater mode): AP có khả năng cung cấp một đường kết nối không dây upstream vào mạng có dây thay vì một kết nối có dây bình thường. Một AP hoạt động như là một root AP và AP còn lại hoạt động như là một Repeater không dây. AP trong repeater mode kết nối với các client như là một AP và kết nối với upstream AP như là một client.
I.3. Các thiết bị máy khách trong WLAN:
Là những thiết bị WLAN được các máy khách sử dụng để kết nối vào WLAN.
I.3.a.Card PCI Wireless:
Là thành phần phổ biến nhất trong WLAN. Dùng để kết nối các máy khách vào hệ thống mạng không dây. Được cắm vào khe PCI trên máy tính. Loại này được sử dụng phổ biến cho các máy tính để bàn(desktop) kết nối vào mạng không dây.
I.3.b.Card PCMCIA Wireless:
Trước đây được sử dụng trong các máy tính xách tay(laptop) và cácthiết bị hỗ trợ cá nhân số PDA(Personal Digital Associasion). Hiện nay nhờ sự phát triển của công nghệ nên PCMCIA wireless ít được sử dụng vì máy tính xách tay và PDA,…. đều được tích hợp sẵn Card Wireless bên trong thiết bị.
I.3.c.Card USB Wireless:
Loại rất được ưu chuộng hiện nay dành cho các thiết bị kết nối vào mạng không dây vì tính năng di động và nhỏ gọn . Có chức năng tương tự như Card PCI Wireless, nhưng hỗ trợ chuẩn cắm là USB (Universal ************ Bus). Có thể tháo lắp nhanh chóng (không cần phải cắm cố định như Card PCI Wireless) và hỗ trợ cắm khi máy tính đang hoạt động.
BẢO MẬT MẠNG KHÔNG DÂY
I.Tại sao phải bảo mật mạng không dây(WLAN)
Để kết nối tới một mạng LAN hữu tuyến ta cần phải truy cập theo đường truyền bằng dây cáp, phải kết nối một PC vào một cổng mạng. Với mạng không dây ta chỉ cần có máy của ta trong vùng sóng bao phủ của mạng không dây. Điều khiển cho mạng có dây là đơn giản: đường truyền bằng cáp thông thường được đi trong các tòa nhà cao tầng và các port không sử dụng có thể làm cho nó disable bằng các ứng dụng quản lý. Các mạng không dây (hay vô tuyến) sử dụng sóng vô tuyến xuyên qua vật liệu của các tòa nhà và như vậy sự bao phủ là không giới hạn ở bên trong một tòa nhà. Sóng vô tuyến có thể xuất hiện trên đường phố, từ các trạm phát từ các mạng LAN này, và như vậy ai đó có thể truy cập nhờ thiết bị thích hợp. Do đó mạng không dây của một công ty cũng có thể bị truy cập từ bên ngoài tòa nhà công ty của họ.
Để cung cấp mức bảo mật tối thiểu cho mạng WLAN thì ta cần hai thành phần sau:
Quote:
·Cách thức để xác định ai có quyền sử dụng WLAN - yêu cầu này được thỏa mãn bằng cơ chế xác thực( authentication) .
·Một phương thức để cung cấp tính riêng tư cho các dữ liệu không dây – yêu cầu này được thỏa mãn bằng một thuật toán mã hóa ( encryption).
II.Bảo mật mạng không dây(WLAN)
Một WLAN gồm có 3 phần: Wireless Client, Access Points và Access Server.
Quote:
+ Wireless Client điển hình là một chiếc laptop với NIC (Network Interface Card) không dây được cài đặt để cho phép truy cập vào mạng không dây.
+ Access Points (AP) cung cấp sự bao phủ của sóng vô tuyến trong một vùng nào đó (được biết đến như là các cell (tế bào)) và kết nối đến mạng không dây.
+ Còn Access Server điều khiển việc truy cập. Một Access Server (như là Enterprise Access Server (EAS) ) cung cấp sự điều khiển, quản lý, các đặc tính bảo mật tiên tiến cho mạng không dây Enterprise
Một bộ phận không dây có thể được kết nối đến các mạng không dây tồn tại theo một số cách. Kiến trúc tổng thể sử dụng EAS trong “Gateway Mode” hay “Controller Mode”.
Trong Gateway Mode ( hình 3-4) EAS được đặt ở giữa mạng AP và phần còn lại của mạng Enterprise. Vì vậy EAS điều khiển tất cả các luồng lưu lượng giữa các mạng không dây và có dây và thực hiện như một tường lửa.
Hình ảnh này đã được thu nhỏ lại. Hãy click vào đây để xem hình gốc. Kích thước của hình gốc là 805x485.
Trong Controll Mode (hình 3-3), EAS quản lý các AP và điều khiển việc truy cập đến mạng không dây, nhưng nó không liên quan đến việc truyền tải dữ liệu người dùng. Trong chế độ này, mạng không dây có thể bị phân chia thành mạng dây với firewall thông thường hay tích hợp hoàn toàn trong mạng dây Enterprise. Kiến trúc WLAN hỗ trợ một mô hình bảo mật được thể hiện trên hình 4. Mỗi một phần tử bên trong mô hình đều có thể cấu hình theo người quản lý mạng để thỏa mãn và phù hợp với những gì họ cần.
Hình ảnh này đã được thu nhỏ lại. Hãy click vào đây để xem hình gốc. Kích thước của hình gốc là 747x488.
Quote:
1.Device Authorization: Các Client không dây có thể bị ngăn chặn theo địa chỉ phần cứng của họ (ví dụ như địa chỉ MAC). EAS duy trì một cơ sở dữ liệu của các Client không dây được cho phép và các AP riêng biệt khóa hay lưu thông lưu lượng phù hợp.
2.Encryption: WLAN cũng hỗ trợ WEP, 3DES và chuẩn TLS(Transport Layer Sercurity) sử dụng mã hóa để tránh người truy cập trộm. Các khóa WEP có thể tạo trên một per-user, per session basic.
3.Authentication: WLAN hỗ trợ sự ủy quyền lẫn nhau (bằng việc sử dụng 802.1x EAP-TLS) để bảo đảm chỉ có các Client không dây được ủy quyền mới được truy cập vào mạng. EAS sử dụng một RADIUS server bên trong cho sự ủy quyền bằng việc sử dụng các chứng chỉ số. Các chứng chỉ số này có thể đạt được từ quyền chứng nhận bên trong (CA) hay được nhập từ một CA bên ngoài. Điều này đã tăng tối đa sự bảo mật và giảm tối thiểu các thủ tục hành chính.
4.Firewall: EAS hợp nhất packet filtering và port blocking firewall dựa trên các chuỗi IP. Việc cấu hình từ trước cho phép các loại lưu lượng chung được enable hay disable.
5.VPN: EAS bao gồm một IPSec VPN server cho phép các Client không dây thiết lập các session VPN vững chắc trên mạng..
III. MÃ HÓA
Quote:
Mã hóa là biến đổi dữ liệu để chỉ có các thành phần được xác nhận mới có thể giải mã được nó. Quá trình mã hóa là kết hợp plaintext với một khóa để tạo thành văn bản mật (Ciphertext). Sự giải mã được bằng cách kết hợp Ciphertext với khóa để tái tạo lại plaintext gốc như hình 3-6. Quá trình xắp xếp và phân bố các khóa gọi là sự quản lý khóa.
Có hai loại mật mã:
Quote:
•Mật mã dòng (stream ciphers)
•Mật mã khối ( block ciphers)
Cả hai loại mật mã này hoạt động bằng cách sinh ra một chuỗi khóa ( key stream) từ một giá trị khóa bí mật. Chuỗi khóa sau đó sẽ được trộn với dữ liệu (plaintext) để sinh dữ liệu đã được mã hóa. Hai loại mật mã này khác nhau về kích thước của dữ liệu mà chúng thao tác tại một thời điểm.
Quote:
Mật mã dòng phương thức mã hóa theo từng bit, mật mã dòng phát sinh chuỗi khóa liên tục dựa trên giá trị của khóa, ví dụ một mật mã dòng có thể sinh ra một chuỗi khóa dài 15 byte để mã hóa một frame và môt chuỗi khóa khác dài 200 byte để mã hóa một frame khác.
Mật mã dòng là một thuật toán mã hóa rất hiệu quả, ít tiêu tốn tài nguyên (CPU).
Quote:
Ngược lại, mật mã khối sinh ra một chuỗi khóa duy nhất và có kích thước cố định(64 hoặc 128 bit). Chuỗi kí tự chưa được mã hóa( plaintext) sẽ được phân mảnh thành những khối(block) và mỗi khối sẽ được trộn với chuỗi khóa một cách độc lập. Nếu như khối plaintext nhỏ hơn khối chuỗi khóa thì plaintext sẽ được đệm thêm vào để có được kích thước thích hợp. Tiến trình phân mảnh cùng với một số thao tác khác của mật mã khối sẽ làm tiêu tốn nhiều tài nguyên CPU.
Tiến trình mã hóa dòng và mã hóa khối còn được gọi là chế độ mã hóa khối mã điện tử ECB ( Electronic Code Block). Chế độ mã hóa này có đặc điểm là cùng một đầu vào plaintext ( input plain) sẽ luôn luôn sinh ra cùng một đầu ra ciphertext (output ciphertext). Đây chính là yếu tố mà kẻ tấn công có thể lợi dụng để nhận dạng của ciphertext và đoán được plaintext ban đầu.
Một số kỹ thuật mã hóa có thể khắc phục được vấn đề trên:
Quote:
•Sử dụng vector khởi tạo IV ( Initialization Vector)
•Chế độ phản hồi (FeedBack)
a)Vector khởi tạo IV
Vector khởi tạo IV là một số được thêm vào khóa và làm thay đổi khóa . IV được nối vào khóa trước khi chuỗi khóa được sinh ra, khi IV thay đổi thì chuỗi khóa cũng sẽ thay đổi theo và kết quả là ta sẽ có ciphertext khác nhau. Ta nên thay đổi giá trị IV theo từng frame. Theo cách này nếu một frame được truyền 2 lần thì chúng ta sẽ có 2 ciphertext hoàn toàn khác nhau cho từng frame.
a)Chế độ phản hồi (Feedback Modes)
Chế độ phản hồi cải tiến quá trình mã hóa để tránh việc một plaintext sinh ra cùng một ciphertext trong suốt quá trình mã hóa. Chế độ phản hồi thường được sử dụng với mật mã khối.
b)Thuật toán WEP(Wired Equivalent Privacy )
Chuẩn 802.11 cung cấp tính riêng tư cho dữ liệu bằng thuật toán WEP. WEP dựa trên mật mã dòng đối xứng RC4( Ron’s code 4) được Ron Rivest thuộc hãng RSA Security Inc phát triển..
Quote:
Thuật toán mã hóa RC4 là thuật toán mã hóa đối xứng( thuật toán sử dụng cùng một khóa cho việc mã hóa và giải mã). WEP là thuật toán mã hóa được sử dụng bởi tiến trình xác thực khóa chia sẻ để xác thực người dùng và mã hóa dữ liệu trên phân đoạn mạng không dây.
Để tránh chế độ ECB(Electronic Code Block) trong quá trình mã hóa, WEP sử dụng 24 bit IV, nó được kết nối vào khóa WEP trước khi được xử lý bởi RC4. Giá trị IV phải được thay đổi theo từng frame để tránh hiện tượng xung đột. Hiện tượng xung đột IV xảy ra khi sử dụng cùng một IV và khóa WEP kết quả là cùng một chuỗi khóa được sử dụng để mã hóa frame.
Chuẩn 802.11 yêu cầu khóa WEP phải được cấu hình trên cả client và AP khớp với nhau thì chúng mới có thể truyền thông được. Mã hóa WEP chỉ được sử dụng cho các frame dữ liệu trong suốt tiến trình xác thực khóa chia sẻ. WEP mã hóa những trường sau đây trong frame dữ liệu:
Quote:
•Phần dữ liệu (payload)
•Giá trị kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu ICV (Integrity Check value)
Tất cả các trường khác được truyền mà không được mã hóa. Giá trị IV được truyền mà không cần mã hóa để cho trạm nhận sử dụng nó để giải mã phần dữ liệu và ICV
Ngoài việc mã hóa dữ liệu 802.11 cung cấp một giá trị 32 bit ICV có chức năng kiểm tra tính toàn vẹn của frame. Việc kiểm tra này cho trạm thu biết rằng frame đã được truyền mà không có lỗi nào xảy ra trong suốt quá trình truyền.
ICV được tính dựa vào phương pháp kiểm tra lỗi bits CRC-32( Cyclic Redundancy Check 32). Trạm phát sẽ tính toán giá trị và đặt kết quả vào trong trường ICV, ICV sẽ được mã hóa cùng với frame dữ liệu.
Trạm thu sau nhận frame sẽ thực hiện giải mã frame, tính toán lại giá trị ICV và so sánh với giá trị ICV đã được trạm phát tính toán trong frame nhận được. Nếu 2 giá trị trùng nhau thì frame xem như chưa bị thay đổi hay giả mạo, nếu giá trị không khớp nhau thì frame đó sẽ bị hủy bỏ.
Do WEP sử dụng RC4, nếu RC4 được cài đặt không thích hợp thì sẽ tạo nên một giải pháp bảo mật kém. Cả khóa WEP 64 bit và 128 bit đều có mức độ yếu kém như nhau trong việc cài đặt 24 bit IV và cùng sử dụng tiến trình mã hóa có nhiều lỗ hỏng. Tiến trình này khởi tạo giá trị ban đầu cho IV là 0, sau đó tăng lên 1 cho mỗi frame được truyền. Trong một mạng thường xuyên bị nghẽn, những phân tích thống kê cho thấy rằng tất cả các giá trị IV(224 )sẽ được sử dụng hết trong nửa ngày. Điều này có nghĩa là sẽ khởi tạo lại giá trị IV ban đầu là 0 ít nhất một lần trong ngày. Đây chính là lổ hỏng cho các hacker tấn công. Khi WEP được sử dụng, IV sẽ được truyền đi mà không mã hóa cùng với mỗi gói tin đã được mã hóa cách làm này tạo ra những lỗ hỏng bảo mật sau:
Quote:
• Tấn công bị động để giải mã lưu lượng, bằng cách sử dụng những phân tích thống kê, khóa WEP có thể bị giải mã
• Dùng các phần mềm miễn phí để tìm kiếm khóa WEP như là: AirCrack , AirSnort, dWepCrack, WepAttack, WepCrack, WepLab. Khi khóa WEP đã bị ******** thì việc giải mã các gói tin có thể được thực hiện bằng cách lắng nghe các gói tin đã được quảng bá, sau đó dùng khóa WEP để giải mã chúng.
vKhóa WEP
Chức năng chính của WEP là dựa trên khóa, là yếu tố cơ bản cho thuật toán mã hóa. Khóa WEP là một chuỗi kí tự và số được sử dụng theo 2 cách: -Khóa WEP được sử dụng để định danh xác thực client -Khóa WEP được dùng để mã hóa dữ liệu Khi client sử dụng WEP muốn kết nối với AP thì AP sẽ xác định xem client có giá trị khóa chính xác hay không? Chính xác ở đây có nghĩa là client đã có khóa là một phần của hệ thống phân phát khóa WEP được cài đặt trong WLAN. Khóa WEP phải khớp ở cả hai đầu xác thực client và AP. Hầu hết các AP và client có khả năng lưu trữ 4 khóa WEP đồng thời. Một lý do hữa ích của việc sử dụng nhiều khóa WEP chính là phân đoạn mạng. Giả sử mạng có 80 client thì ta sử dụng 4 khóa WEP cho 4 nhóm khác nhau thay vì sử dụng 1 khóa. Nếu khóa WEP bị ******** thì ta chỉ cần thay đổi khóa WEP cho 20 client thay vì phải thay đổi cho toàn bộ mạng.Một lí do khác để có nhiều khóa WEP là trong môi trường hỗn hợp có card hỗ trợ 128 bit và có card chỉ hỗ trợ 64 bit. Trong trường hợp này chúng ta có thể phân ra hai nhóm người dùng.
vGiải pháp WEP tối ưu:
Với những điểm yếu nghiêm trọng của WEP và sự phát tán rộng rãi của các công cụ dò tìm khóa WEP trên Internet, giao thức này không còn là giải pháp bảo mật được chọn cho các mạng có mức độ nhạy cảm thông tin cao. Tuy nhiên, trong rất nhiều các thiết bị mạng không dây hiện nay, giải pháp bảo mật dữ liệu được hỗ trợ phổ biến vẫn là WEP. Dù sao đi nữa, các lỗ hổng của WEP vẫn có thể được giảm thiểu nếu được cấu hình đúng, đồng thời sử dụng các biện pháp an ninh khác mang tính chất hỗ trợ. Để gia tăng mức độ bảo mật cho WEP và gây khó khăn cho hacker, các biện pháp sau được đề nghị:
Quote:
- Sử dụng khóa WEP có độ dài 128 bit: Thường các thiết bị WEP cho phép cấu hình khóa ở ba độ dài: 40 bit, 64 bit, 128 bit. Sử dụng khóa với độ dài 128 bit gia tăng số lượng gói dữ liệu hacker cần phải có để phân tích IV, gây khó khăn và kéo dài thời gian giải mã khóa WEP
- Thực thi chính sách thay đổi khóa WEP định kỳ: Do WEP không hỗ trợ phương thức thay đổi khóa tự động nên sự thay đổi khóa định kỳ sẽ gây khó khăn cho người sử dụng. Tuy nhiên, nếu không đổi khóa WEP thường xuyên thì cũng nên thực hiện ít nhất một lần trong tháng hoặc khi nghi ngờ có khả năng bị lộ khóa.
- Sử dụng các công cụ theo dõi số liệu thống kê dữ liệu trên đường truyền không dây: Do các công cụ dò khóa WEP cần bắt được số lượng lớn gói dữ liệu và hacker có thể phải sử dụng các công cụ phát sinh dữ liệu nên sự đột biến về lưu lượng dữ liệu có thể là dấu hiệu của một cuộc tấn công WEP, đánh động người quản trị mạng phát hiện và áp dụng các biện pháp phòng chống kịp thời.
IV. Các giải pháp bảo mật nổi bật:
IV.1. WLAN VPN:
Mạng riêng ảo VPN bảo vệ mạng WLAN bằng cách tạo ra một kênh che chắn dữ liệu khỏi các truy cập trái phép. VPN tạo ra một tin cậy cao thông qua việc sử dụng một cơ chế bảo mật như IPSec (Internet Protocol Security). IPSec dùng các thuật toán mạnh như Data Encryption Standard (DES) và Triple DES (3DES) để mã hóa dữ liệu, và dùng các thuật toán khác để xác thực gói dữ liệu. IPSec cũng sử dụng thẻ xác nhận số để xác nhận khóa mã (public key). Khi được sử dụng trên mạng WLAN, cổng kết nối của VPN đảm nhận việc xác thực, đóng gói và mã hóa.
IV.2. TKIP (Temporal Key Integrity Protocol)
Là giải pháp của IEEE được phát triển năm 2004. Là một nâng cấp cho WEP nhằm vá những vấn đề bảo mật trong cài đặt mã dòng RC4 trong WEP. TKIP dùng hàm băm(hashing) IV để chống lại việc giả mạo gói tin, nó cũng cung cấp phương thức để kiểm tra tính toàn vẹn của thông điệp MIC(message integrity check ) để đảm bảo tính chính xác của gói tin. TKIP sử dụng khóa động bằng cách đặt cho mỗi frame một chuỗi số riêng để chống lại dạng tấn công giả mạo.
IV.3. AES(Advanced Encryption Standard)
Là một chức năng mã hóa được phê chuẩn bởi NIST(Nation Instutute of Standard and Technology). IEEE đã thiết kế một chế độ cho AES để đáp ứng nhu cầu của mạng WLAN. Chế độ này được gọi là CBC-CTR(Cipher Block Chaining Counter Mode) với CBC-MAC(Cipher Block Chaining Message Authenticity Check). Tổ hợp của chúng được gọi là AES-CCM . Chế độ CCM là sự kết hợp của mã hóa CBC-CTR và thuật toán xác thực thông điệp CBC-MAC. Sự kết hợp này cung cấp cả việc mã hóa cũng như kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu gửi.
Quote:
Mã hóa CBC-CTR sử dụng một biến đếm để bổ sung cho chuỗi khóa. Biến đếm sẽ tăng lên 1 sao khi mã hóa cho mỗi khối(block). Tiến trình này đảm bảo chỉ có duy nhất một khóa cho mỗi khối. Chuỗi ký tự chưa được mã hóa sẽ được phân mảnh ra thành các khối 16 byte.
Quote:
CBC-MAC hoạt động bằng cách sử dụng kết quả của mã hóa CBC cùng với chiều dài frame, địa chỉ nguồn, địa chỉ đích và dữ liệu. Kết quả sẽ cho ra giá trị 128 bit và được cắt thành 64 bit để sử dụng lúc truyền thông.
AES-CCM yêu cầu chi phí khá lớn cho cả quá trình mã hóa và kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu gửi nên tiêu tốn rất nhiều năng lực xữ lý của CPU khá lớn.
IV.4. 802.1x và EAP
802.1x là chuẩn đặc tả cho việc truy cập dựa trên cổng(port-based) được định nghĩa bởi IEEE. Hoạt động trên cả môi trường có dây truyền thống và không dây. Việc điều khiển truy cập được thực hiện bằng cách:
Quote:
Khi một người dùng cố gắng kết nối vào hệ thống mạng, kết nối của người dùng sẽ được đặt ở trạng thái bị chặn(blocking) và chờ cho việc kiểm tra định danh người dùng hoàn tất.
EAP là phương thức xác thực bao gồm yêu cầu định danh người dùng(password, cetificate,…), giao thức được sử dụng(MD5, TLS_Transport Layer Security, OTP_ One Time Password,…) hỗ trợ tự động sinh khóa và xác thực lẫn nhau.
Mô hình xác thực 802.1X-EAP cho Client diễn ra như sau:
IV.5. WPA (Wi-Fi Protected Access)
WEP được xây dựng để bảo vệ một mạng không dây tránh bị nghe trộm. Nhưng nhanh chóng sau đó người ta phát hiện ra nhiều lổ hỏng ở công nghệ này. Do đó, công nghệ mới có tên gọi WPA (Wi-Fi Protected Access) ra đời, khắc phục được nhiều nhược điểm của WEP.
Trong những cải tiến quan trọng nhất của WPA là sử dụng hàm thay đổi khoá TKIP (Temporal Key Integrity Protocol). WPA cũng sử dụng thuật toán RC4 như WEP, nhưng mã hoá đầy đủ 128 bit. Và một đặc điểm khác là WPA thay đổi khoá cho mỗi gói tin. Các công cụ thu thập các gói tin để phá khoá mã hoá đều không thể thực hiện được với WPA. Bởi WPA thay đổi khoá liên tục nên hacker không bao giờ thu thập đủ dữ liệu mẫu để tìm ra mật khẩu.
Không những thế, WPA còn bao gồm kiểm tra tính toàn vẹn của thông tin (Message Integrity Check). Vì vậy, dữ liệu không thể bị thay đổi trong khi đang ở trên đường truyền. WPA có sẵn 2 lựa chọn: WPA Personal và WPA Enterprise. Cả 2 lựa chọn đều sử dụng giao thức TKIP, và sự khác biệt chỉ là khoá khởi tạo mã hoá lúc đầu. WPA Personal thích hợp cho gia đình và mạng văn phòng nhỏ, khoá khởi tạo sẽ được sử dụng tại các điểm truy cập và thiết bị máy trạm.
Trong khi đó, WPA cho doanh nghiệp cần một máy chủ xác thực và 802.1x để cung cấp các khoá khởi tạo cho mỗi phiên làm việc.
Quote:
Có một lỗ hổng trong WPA và lỗi này chỉ xảy ra với WPA Personal. Khi mà sử dụng hàm thay đổi khoá TKIP được sử dụng để tạo ra các khoá mã hoá bị phát hiện, nếu hacker có thể đoán được khoá khởi tạo hoặc một phần của mật khẩu, họ có thể xác định được toàn bộ mật khẩu, do đó có thể giải mã được dữ liệu. Tuy nhiên, lỗ hổng này cũng sẽ bị loại bỏ bằng cách sử dụng những khoá khởi tạo không dễ đoán (đừng sử dụng những từ như "PASSWORD" để làm mật khẩu).
Quote:
Điều này cũng có nghĩa rằng kỹ thuật TKIP của WPA chỉ là giải pháp tạm thời, chưa cung cấp một phương thức bảo mật cao nhất. WPA chỉ thích hợp với những công ty mà không truyền dữ liệu "mật" về những thương mại, hay các thông tin nhạy cảm... WPA cũng thích hợp với những hoạt động hàng ngày và mang tính thử nghiệm công nghệ.
IV.6. WPA 2
Một giải pháp về lâu dài là sử dụng 802.11i tương đương với WPA2, được chứng nhận bởi Wi-Fi Alliance. Chuẩn này sử dụng thuật toán mã hoá mạnh mẽ và được gọi là Chuẩn mã hoá nâng cao AES(Advanced Encryption Standard). AES sử dụng thuật toán mã hoá đối xứng theo khối Rijndael, sử dụng khối mã hoá 128 bit, và 192 bit hoặc 256 bit. Để đánh giá chuẩn mã hoá này, Viện nghiên cứu quốc gia về Chuẩn và Công nghệ của Mỹ, NIST (National Institute of Standards and Technology), đã thông qua thuật toán mã đối xứng này.
Quote:
Và chuẩn mã hoá này được sử dụng cho các cơ quan chính phủ Mỹ để bảo vệ các thông tin nhạy cảm.
Trong khi AES được xem như là bảo mật tốt hơn rất nhiều so với WEP 128 bit hoặc 168 bit DES (Digital Encryption Standard). Để đảm bảo về mặt hiệu năng, quá trình mã hoá cần được thực hiện trong các thiết bị phần cứng như tích hợp vàochip. Tuy nhiên, rất ít người sử dụng mạng không dây quan tâm tới vấn đề này. Hơn nữa, hầu hết các thiết bị cầm tay Wi-Fi và máy quét mã vạch đều không tương thích với chuẩn 802.11i.
IV.7. Lọc (Filtering)
Lọc là cơ chế bảo mật cơ bản có thể sử dụng cùng với WEP. Lọc hoạt động giống như Access list trên router, cấm những cái không mong muốn và cho phép những cái mong muốn. Có 3 kiểu lọc cơ bản có thể được sử dụng trong wireless lan:
Quote:
- Lọc SSID
- Lọc địa chỉ MAC
- Lọc giao thức
a) Lọc SSID:
Quote:
Lọc SSID là một phương thức cơ bản của lọc và chỉ nên được sử dụng cho việc điều khiển truy cập cơ bản.
SSID của client phải khớp với SSID của AP để có thể xác thực và kết nối với tập dịch vụ. SSID được quảng bá mà không được mã hóa trong các Beacon nên rất dễ bị phát hiện bằng cách sử dụng các phần mềm. Một số sai lầm mà người sử dụng WLAN mắc phải trong việc quản lí SSID gồm:
Quote:
+ Sử dụng giá trị SSID mặc định tạo điều kiện cho hacker dò tìm địa chỉ MAC của AP.
+ Sử dụng SSID có liên quan đến công ty.
+ Sử dụng SSID như là phương thức bảo mật của công ty.
+ Quảng bá SSID một cách không cần thiết.
b) Lọc địa chỉ MAC
Hầu hết các AP đều có chức năng lọc địa chỉ MAC. Người quản trị có thể xây dựng danh sách các địa chỉ MAC được cho phép.
Nếu client có địa chỉ MAC không nằm trong danh sách lọc địa chỉ MAC của AP thì AP sẽ ngăn chặn không cho phép client đó kết nối vào mạng.
Nếu công ty có nhiều client thì có thể xây dựng máy chủ RADIUS có chức năng lọc địa chỉ MAC thay vì AP. Cấu hình lọc địa chỉ MAC là giải pháp bảo mật có tính mở rộng cao.
c) Lọc giao thức
Mạng Lan không dây có thể lọc các gói đi qua mạng dựa trên các giao thức từ lớp 2 đến lớp 7. Trong nhiều trường hợp người quản trị nên cài đặt lọc giao thức trong môi trường dùng chung, ví dụ trong trường hợp sau:
Quote:
Có một nhóm cầu nối không dây được đặt trên một Remote building trong một mạng WLAN của một trường đại học mà kết nối lại tới AP của tòa nhà kỹ thuật trung tâm. Vì tất cả những người sử dụng trong remote building chia sẻ băng thông 5Mbs giữa những tòa nhà này, nên một số lượng đáng kể các điều khiển trên các sử dụng này phải được thực hiện. Nếu các kết nối này được cài đặt với mục đích đặc biệt của sự truy nhập internet của người sử dụng, thì bộ lọc giao thức sẽ loại trừ tất cả các giao thức, ngoại trừ HTTP, SMTP, HTTPS, FTP…
V.CÁC KIỂU TẤN CÔNG TRONG MẠNG WLAN
Một số hình tấn công xâm nhập mạng không dây phổ biến:
V.1. ROGUE ACCESS POINT
1.Định nghĩa:
Access Point giả mạo được dùng để mô tả những Access Point được tạo ra một cách vô tình hay cố ý làm ảnh hưởng đến hệ thống mạng hiện có. Nó được dùng để chỉ các thiết bị hoạt động không dây trái phép mà không quan tâm đến mục đích sử dụng của chúng.
2.Phân loại:
a)Access Point được cấu hình không hoàn chỉnh
Một Access Point có thể bất ngờ trở thành 1 thiết bị giả mạo do sai sót trong việc cấu hình. Sự thay đổi trong Service Set Identifier(SSID), thiết lập xác thực, thiết lập mã hóa,… điều nghiêm trọng nhất là chúng sẽ không thể chứng thực các kết nối nếu bị cấu hình sai.
Ví dụ: trong trạng thái xác thực mở(open mode authentication) các người dùng không dây ở trạng thái 1(chưa xác thực và chưa kết nối) có thể gửi các yêu cầu xác thực đến một Access Point và được xác thực thành công sẽ chuyển sang trang thái 2 (được xác thực nhưng chưa kết nối). Nếu 1 Access Point không xác nhận sự hợp lệ của một máy khách do lỗi trong cấu hình, kẻ tấn công có thể gửi một số lượng lớn yêu cầu xác thực, làm tràn bảng yêu cầu kết nối của các máy khách ở Access Point , làm cho Access Point từ chối truy cập của các người dùng khác bao gồm cả người dùng được phép truy cập.
b)Access Point giả mạo từ các mạng WLAN lân cận
Các máy khách theo chuẩn 802.11 tự động chọn Access Point có sóng mạnh nhất mà nó phát hiện được để kết nối.
Ví dụ: Windows XP tự động kết nối đến kết nối tốt nhất có thể xung quanh nó. Vì vậy, những người dùng được xác thực của một tổ chức có thể kết nối đến các Access Point của các tổ chức khác lân cận. Mặc dù các Access Point lân cận không cố ý thu hút kết nối từ các người dùng, những kết nối đó vô tình để lộ những dữ liệu nhạy cảm.
c)Access Point giả mạo do kẻ tấn công tạo ra
Giả mạo AP là kiểu tấn công “man in the middle” cổ điển. Đây là kiểu tấn công mà tin tặc đứng ở giữa và trộm lưu lượng truyền giữa 2 nút. Kiểu tấn công này rất mạnh vì tin tặc có thể trộm tất cả lưu lượng đi qua mạng.
Rất khó khăn để tạo một cuộc tấn công “man in the middle” trong mạng có dây bởi vì kiểu tấn công này yêu cầu truy cập thực sự đến đường truyền. Trong mạng không dây thì lại rất dễ bị tấn công kiểu này. Tin tặc cần phải tạo ra một AP thu hút nhiều sự lựa chọn hơn AP chính thống. AP giả này có thể được thiết lập bằng cách sao chép tất cả các cấu hình của AP chính thống đó là: SSID, địa chỉ MAC v.v..Bước tiếp theo là làm cho nạn nhân thực hiện kết nối tới AP giả.
Quote:
-Cách thứ nhất là đợi cho nguời dùng tự kết nối.
-Cách thứ hai là gây ra một cuộc tấn công từ chối dịch vụ DoS trong AP chính thống do vậy nguời dùng sẽ phải kết nối lại với AP giả.
Trong mạng 802.11 sự lựa chọn AP được thực hiện bởi cường độ của tín hiệu nhận. Điều duy nhất tin tặc phải thực hiện là chắc chắn rằng AP của mình có cường độ tín hiệu mạnh hơn cả. Để có được điều đó tin tặc phải đặt AP của mình gần người bị lừa hơn là AP chính thống hoặc sử dụng kỹ thuật anten định hướng. Sau khi nạn nhân kết nối tới AP giả, nạn nhân vẫn hoạt động như bình thường do vậy nếu nạn nhân kết nối đến một AP chính thống khác thì dữ liệu của nạn nhân đều đi qua AP giả. Tin tặc sẽ sử dụng các tiện ích để ghi lại mật khẩu của nạn nhân khi trao đổi với Web Server. Như vậy tin tặc sẽ có được tất cả những gì anh ta muốn để đăng nhập vào mạng chính thống. Kiểu tấn công này tồn tại là do trong 802.11 không yêu cầu chứng thực 2 hướng giữa AP và nút. AP phát quảng bá ra toàn mạng. Điều này rất dễ bị tin tặc nghe trộm và do vậy tin tặc có thể lấy được tất cả các thông tin mà chúng cần. Các nút trong mạng sử dụng WEP để chứng thực chúng với AP nhưng WEP cũng có những lỗ hổng có thể khai thác. Một tin tặc có thể nghe trộm thông tin và sử dụng bộ phân tích mã hoá để trộm mật khẩu của người dùng
d)Access Point giả mạo được thiết lập bởi chính nhân viên của công ty
Vì sự tiện lợi của mạng không dây một số nhân viên của công ty đã tự trang bị Access Point và kết nối chúng vào mạng có dây của công ty. Do không hiểu rõ và nắm vững về bảo mật trong mạng không dây nên họ vô tình tạo ra một lỗ hỏng lớn về bảo mật. Những người lạ vào công ty và hacker bên ngoài có thể kết nối đến Access Point không được xác thực để đánh cắp băng thông, đánh cắp thông tin nhạy cảm của công ty, sự dụng hệ thống mạng của công ty tấn công người khác,…
V.2. De-authentication Flood Attack(tấn công yêu cầu xác thực lại )
Quote:
-Kẻ tấn công xác định mục tiêu tấn công là các người dùng trong mạng wireless và các kết nối của họ(Access Point đến các kết nối của nó).
-Chèn các frame yêu cầu xác thực lại vào mạng WLAN bằng cách giả mạo địa chỉ MAC nguồn và đích lần lượt của Access Point và các người dùng.
-Người dùng wireless khi nhận được frame yêu cầu xác thực lại thì nghĩ rằng chúng do Access Point gửi đến.
-Sau khi ngắt được một người dùng ra khỏi dịch vụ không dây, kẻ tấn công tiếp tục thực hiện tương tự đối với các người dùng còn lại.
-Thông thường người dùng sẽ kết nối lại để phục hồi dịch vụ, nhưng kẻ tấn công đã nhanh chóng tiếp tục gửi các gói yêu cầu xác thực lại cho người dùng.
V.3. Fake Access Point
Kẻ tấn công sử dụng công cụ có khả năng gửi các gói beacon với địa chỉ vật lý(MAC) giả mạo và SSID giả để tạo ra vô số Access Point giả lập.Điều này làm xáo trộn tất cả các phần mềm điều khiển card mạng không dây của người dùng.
V.4. Tấn công dựa trên sự cảm nhận sóng mang lớp vật lý
Quote:
Ta có thể hiểu nôm na là : Kẻ tất công lợi dụng giao thức chống đụng độ CSMA/CA, tức là nó sẽ làm cho tất cả ngừơi dùng nghĩ rằng lúc nào trong mạng cũng có 1 máy tính đang truyền thông. Điều này làm cho các máy tính khác luôn luôn ở trạng thái chờ đợi kẻ tấn công ấy truyền dữ liệu xong => dẫn đến tình trạng ngẽn trong mạng.
Tần số là một nhược điểm bảo mật trong mạng không dây. Mức độ nguy hiểm thay đổi phụ thuộc vào giao diện của lớp vật lý. Có một vài tham số quyết định sự chịu đựng của mạng là: năng lượng máy phát, độ nhạy của máy thu, tần số RF, băng thông và sự định hướng của anten. Trong 802.11 sử dụng thuật toán đa truy cập cảm nhận sóng mang (CSMA) để tránh va chạm. CSMA là một thành phần của lớp MAC. CSMA được sử dụng để chắc chắn rằng sẽ không có va chạm dữ liệu trên đường truyền. Kiểu tấn công này không sử dụng tạp âm để tạo ra lỗi cho mạng nhưng nó sẽ lợi dụng chính chuẩn đó. Có nhiều cách để khai thác giao thức cảm nhận sóng mang vật lý. Cách đơn giản là làm cho các nút trong mạng đều tin tưởng rằng có một nút đang truyền tin tại thời điểm hiện tại. Cách dễ nhất đạt được điều này là tạo ra một nút giả mạo để truyền tin một cách liên tục. Một cách khác là sử dụng bộ tạo tín hiệu RF. Một cách tấn công tinh vi hơn là làm cho card mạng chuyển vào chế độ kiểm tra mà ở đó nó truyền đi liên tiếp một mẫu kiểm tra. Tất cả các nút trong phạm vi của một nút giả là rất nhạy với sóng mang và trong khi có một nút đang truyền thì sẽ không có nút nào được truyền.
V.5. Tấn công ngắt kết nối (Disassociation flood attack)
Quote:
-Kẻ tấn công xác định mục tiêu ( wireless clients ) và mối liên kết giữa AP với các clients
-Kẻ tấn công gửi disassociation frame bằng cách giả mạo Source và Destination MAC đến AP và các client tương ứng
-Client sẽ nhận các frame này và nghĩ rằng frame hủy kết nối đến từ AP. Đồng thời kẻ tấn công cũng gởi disassociation frame đến AP.
-Sau khi đã ngắt kết nối của một client, kẻ tấn công tiếp tục thực hiện tương tự với các client còn lại làm cho các client tự động ngắt kết nối với AP.
-Khi các clients bị ngắt kết nối sẽ thực hiện kết nối lại với AP ngay lập tức. Kẻ tấn công tiếp tục gởi disassociation frame đến AP và client
Quote:
Tips : Có thể ta sẽ rất dễ nhầm lẫn giữa 2 kiều tấn công :Disassociation flood attack và De-authentication Flood Attack .
Giống nhau : về hình thức tấn công , có thể cho rằng chúng giống nhau vì nó giống như một đại bác 2 nòng , vừa tấn công Access Point vừa tấn công Client. Và quan trọng hơn hết , chúng "nả pháo" liên tục.
Khác nhau :
+ De-authentication Flood Attack : yêu cầu cả AP và client gởi lại frame xác thực=> xác thực failed
+ Disassociation flood attack : gởi disassociation frame làm cho AP và client tin tưởng rằng kết nối giữa chúng đã bị ngắt.
Câu hỏi đặt ra cho chúng ta bây giờ là : Kẻ tất công có thể dùng rất nhiều hành động đánh lừa cả Client và Access Point , vậy chúng ta sẽ phải làm gì để biết được "Bộ mặt thật của chúng cũng như cách phòng tránh". Các bạn xin vui lòng chuyển qua chương kế tiếp :Chương 4: TÌM HIỂU VỀ IDS (Hệ thống phát hiện xâm nhập) VÀ IDS TRONG MẠNG KHÔNG DÂY
Chương 4
TÌM HIỂU VỀ IDS VÀ IDS TRONG MẠNG KHÔNG DÂY
I. IDS(Intrusion Detection Systems)
I.1. Khái niệm về IDS
IDS(Intrusion Detection System_ hệ thống phát hiện xâm nhập) là một thống giám sát lưu thông mạng, các hoạt động khả nghi và cảnh báo cho hệ thống, nhà quản trị . Ngoài ra IDS cũng đảm nhận việc phản ứng lại với các lưu thông bất thường hay có hại bằng cách hành động đã được thiết lập trước như khóa người dùng hay địa chỉ IP nguồn đó truy cập hệ thống mạng,…..
IDS cũng có thể phân biệt giữa những tấn công bên trong từ bên trong (từ những người trong công ty) hay tấn công từ bên ngoài (từ các hacker). IDS phát hiện dựa trên các dấu hiệu đặc biệt về các nguy cơ đã biết (giống như cách các phần mềm diệt virus dựa vào các dấu hiệu đặc biệt để phát hiện và diệt virus) hay dựa trên so sánh lưu thông mạng hiện tại với baseline(thông số đo đạc chuẩn của hệ thống) để tìm ra các dấu hiệu khác thường.
Quote:
Ta có thể hiểu tóm tắt về IDS như sau :
+ Chức năng quan trọng nhất : giám sát -cảnh báo - bảo vệ
--------Giám sát : lưu lượng mạng + các hoạt động khả nghi.
--------Cảnh báo : báo cáo về tình trạng mạng cho hệ thống + nhà quản trị.
-------- Bảo vệ : Dùng những thiết lập mặc định và sự cấu hình từ nhà quản trị mà có những hành động thiết thực chống lại kẻ xâm nhập và phá hoại.
+ Chức năng mở rộng :
------- Phân biệt : "thù trong giặc ngoài"
------- Phát hiện : những dấu hiệu bất thường dựa trên những gì đã biết hoặc nhờ vào sự so sánh thông lượng mạng hiện tại với baseline
I.2. Phân loại IDS
Có 2 loại IDS là Network Based IDS(NIDS) và Host Based IDS (HIDS):
I.2.1. NIDS :
Được đặt giữa kết nối hệ thống mạng bên trong và mạng bên ngoài để giám sát toàn bộ lưu lượng vào ra.
Có thể là một thiết bị phần cứng riêng biệt được thiết lập sẵn hay phần mềm cài đặt trên máy tính. Chủ yếu dùng để đo lưu lượng mạng được sử dụng.Tuy nhiên có thể xảy ra hiện tượng nghẽn cổ chai khi lưu lượng mạng hoạt động ở mức cao.
Quote:
NIDS :
------Ví trí : mạng bên trong --NIDS---mạng bên ngoài
------Loại : hardware (phần cứng) hoặc software (phần mềm)
------Nhiệm vụ : chủ yếu giám sát lưu lượng ra vào mạng.
------Nhược điểm : Có thể xảy ra hiện tượng nghẽn khi lưu lượng mạng hoạt động ờ mức cao.
Một số sản phẩm NIDS :
-Cisco IDS
http://www.cisco.com/en/US/products/...113/index.html
-Dragon® IDS/IPS
http://www.enterasys.com/products/ad...rotection.aspx
I.2.2. HIDS
Được cài đặt cục bộ trên một máy tính làm cho nó trở nên linh hoạt hơn nhiều so với NIDS. Kiểm soát lưu lượng vào ra trên một máy tính, có thể được triển khai trên nhiều máy tính trong hệ thống mạng. HIDS có thể được cài đặt trên nhiều dạng máy tính khác nhau cụ thể như các máy chủ, máy trạm, máy tính xách tay. HIDS cho phép bạn thực hiện một cách linh hoạt trong các đoạn mạng mà NIDS không thể thực hiện được. Lưu lượng đã gửi tới máy tính HIDS được phân tích và chuyển qua nếu chúng không chứa mã nguy hiểm. HIDS được thiết kế hoạt động chủ yếu trên hệ điều hành Windows , mặc dù vậy vẫn có các sản phẩm hoạt động trong nền ứng dụng UNIX và nhiều hệ điều hành khác.
Quote:
HIDS :
------Ví trí : cài đặt cục bộ trên máy tính và dạng máy tính => linh hoạt hơn NIDS.
------Loại : software (phần mềm)
------Nhiệm vụ : phân tích lưu lượng ra vào mạng chuyển tới máy tính cài đặt HIDS
------Ưu điểm :
----------------+ Cài đặt trên nhiều dạng máy tính : xách tay, PC,máy chủ ...
----------------+ Phân tích lưu lượng mạng rồi mới forward.
------Nhược điểm : Đa số chạy trên hệ điều hành Window . Tuy nhiên cũng đã có 1 số chạy được trên Unix và những hệ điều hành khác.
Một số sản phẩm HIDS :
-Snort(Miễn phí_ open source)
Liên hệ: http://www.snort.org/
-GFI EventsManager 7
Liên hệ: http://www.gfi.com/lanselm/?adv=142&...ickid=13108213
-ELM 5.0 TNT software:
Liên hệ: http://www.tntsoftware.com/default.aspx
I.3. Các kỹ thuật xử lý dữ liệu được sử dụng trong các hệ thống phát hiện xâm nhập:
Phụ thuộc vào kiểu phương pháp được sử dụng để phát hiện xâm nhập, các cơ chế xử lý khác nhau cũng được sử dụng cho dữ liệu đối với một IDS.
-Hệ thống Expert (Expert systems)
Quote:
Hệ thống này làm việc trên một tập các nguyên tắc đã được định nghĩa từ trước để miêu tả các tấn công. Tất cả các sự kiện có liên quan đến bảo mật đều được kết hợp vào cuộc kiểm định và được dịch dưới dạng nguyên tắc if-then-else. Lấy ví dụ Wisdom & Sense và ComputerWatch (được phát triển tại AT&T).
-Phát hiện xâm nhập dựa trên luật(Rule-Based Intrusion Detection):
Quote:
Giống như phương pháp hệ thống Expert, phương pháp này dựa trên những hiểu biết về tấn công. Chúng biến đổi sự mô tả của mỗi tấn công thành định dạng kiểm định thích hợp. Như vậy, dấu hiệu tấn công có thể được tìm thấy trong các bản ghi(record). Một kịch bản tấn công có thể được mô tả, ví dụ như một chuỗi sự kiện kiểm định đối với các tấn công hoặc mẫu dữ liệu có thể tìm kiếm đã lấy được trong cuộc kiểm định. Phương pháp này sử dụng các từ tương đương trừu tượng của dữ liệu kiểm định. Sự phát hiện được thực hiện bằng cách sử dụng chuỗi văn bản chung hợp với các cơ chế. Điển hình, nó là một kỹ thuật rất mạnh và thường được sử dụng trong các hệ thống thương mại (ví dụ như: Cisco Secure IDS, Emerald eXpert-BSM(Solaris)).
-Phân biệt ý định người dùng(User intention identification):
Quote:
Kỹ thuật này mô hình hóa các hành vi thông thường của người dùng bằng một tập nhiệm vụ mức cao mà họ có thể thực hiện được trên hệ thống (liên quan đến chức năng người dùng). Các nhiệm vụ đó thường cần đến một số hoạt động được điều chỉnh sao cho hợp với dữ liệu kiểm định thích hợp. Bộ phân tích giữ một tập hợp nhiệm vụ có thể chấp nhận cho mỗi người dùng. Bất cứ khi nào một sự không hợp lệ được phát hiện thì một cảnh báo sẽ được sinh ra.
-Phân tích trạng thái phiên (State-transition analysis):
Quote:
Một tấn công được miêu tả bằng một tập các mục tiêu và phiên cần được thực hiện bởi một kẻ xâm nhập để gây tổn hại hệ thống. Các phiên được trình bày trong sơ đồ trạng thái phiên. Nếu phát hiện được một tập phiên vi phạm sẽ tiến hành cảnh báo hay đáp trả theo các hành động đã được định trước.
-Phương pháp phân tích thống kê (Statistical analysis approach):
Quote:
Đây là phương pháp thường được sử dụng.
Hành vi người dùng hay hệ thống (tập các thuộc tính) được tính theo một số biến thời gian. Ví dụ, các biến như là: đăng nhập người dùng, đăng xuất, số tập tin truy nhập trong một khoảng thời gian, hiệu suất sử dụng không gian đĩa, bộ nhớ, CPU,… Chu kỳ nâng cấp có thể thay đổi từ một vài phút đến một tháng. Hệ thống lưu giá trị có nghĩa cho mỗi biến được sử dụng để phát hiện sự vượt quá ngưỡng được định nghĩa từ trước. Ngay cả phương pháp đơn giản này cũng không thế hợp được với mô hình hành vi người dùng điển hình. Các phương pháp dựa vào việc làm tương quan thông tin về người dùng riêng lẻ với các biến nhóm đã được gộp lại cũng ít có hiệu quả.
Vì vậy, một mô hình tinh vi hơn về hành vi người dùng đã được phát triển bằng cách sử dụng thông tin người dùng ngắn hạn hoặc dài hạn. Các thông tin này thường xuyên được nâng cấp để bắt kịp với thay đổi trong hành vi người dùng. Các phương pháp thống kê thường được sử dụng trong việc bổ sung trong IDS dựa trên thông tin hành vi người dùng thông thường.
II. Wireless IDS:
I.1. Wireless IDS là gì?
IDS trong mạng WLAN(WIDS) làm việc có nhiều khác biệt so với môi trường mạng LAN có dây truyền thống.
Trong WLAN, môi trường truyền là không khí, các thiết bị có hỗ trợ chuẩn 802.11 trong phạm vi phủ sóng đều có thể truy cập vào mạng. Do đó cần có sự giám sát cả bên trong và bên ngoài hệ thống mạng. Một hệ thống WIDS thường là một hệ thống máy tính có phần cứng và phần mềm đặc biệt để phát hiện các hoạt động bất thường. Phần cứng wireless có nhiều tính năng so với card mạng wireless thông thường , nó bao gồm việc giám sát tần số sóng(RF_Radio frequency), phát hiện nhiễu,…. Một WIDS bao gồm một hay nhiều thiết bị lắng nghe để thu thập địa chỉ MAC (Media Access Control), SSID, các đặc tính được thiết lập ở các trạm, tốc độ truyền, kênh hiện tại, trạng thái mã hóa, …..
Quote:
Tóm lại Wireless IDS có :
+ Vị trí cần phải giám sát (rất chặt chẽ) : bên trong và bên ngoài mạng.
+Thiết bị và chức năng : phần cứng và phần mềm chuyên dụng có nhiều tín năng : thu thập địa chỉ MAC, SSID, đặc tính : thiết lập các trạm + tốc độ truyền + kênh + trạng thái mã hóa.
II.2. Nhiệm vụ của WIDS:
-Giám sát và phân tích các hoạt động của người dùng và hệ thống.
-Nhận diện các loại tấn công đã biết.
-Xác định các hoạt động bất thường của hệ thống mạng.
-Xác định các chính sách bảo mật cho WLAN.
-Thu thập tất cả truyền thông trong mạng không dây và đưa ra các cảnh báo dựa trên những dấu hiệu đã biết hay sự bất thường trong truyền thông.
II.3. Mô hình hoạt động:
WIDS có 2 mô hình hoạt động là: tập trung và phân tán:
II.3.1. WIDS tập trung (centralized WIDS):
WIDS tập trung có một bộ tập trung để thu thập tất cả các dữ liệu của các cảm biến mạng riêng lẻ và chuyển chúng tới thiết bị quản lý trung tâm, nơi dữ liệu IDS được lưu trữ và xử lý.
Hầu hết các IDS tập trung đều có nhiều cảm biến để có thể phát hiện xâm nhập trong phạm vi toàn mạng. Các log file và các tín hiệu báo động đều được gửi về thiết bị quản lý trung tâm, thiết bị này có thể dùng quản lý cũng như cập nhật cho tất cả các cảm biến. WIDS tập trung phù hợp với mạng WLAN phạm vi rộng vì dễ quản lý và hiệu quả trong việc xử lý dữ liệu.
II.3.2. WIDS phân tán (decentralize WIDS):
WIDS phân tán thực hiện cả chức năng cảm biến và quản lý. Mô hình này phù hợp với mạng WLAN nhỏ và có ít Access Point, wireless IDS phân tán tiết kiệm chi phí hơn so với WIDS tập trung.
II.4. Giám sát lưu lượng mạng( Traffic monitoring)
II.4.1. Xây dựng hệ thống WIDS để phân tích hiệu suất hoạt động của mạng wireless
Phân tích khả năng thực thi của mạng wireless là đề cập đến việc thu thập gói và giải mã. Sau đó tái hợp gói lại để thực hiện kết nối mạng. Việc phân tích giúp ta biết được sự cố xảy ra đối với mạng đang hoạt động.
Hệ thống WIDS giám sát toàn bộ WLAN, chuyển tiếp lưu lượng đã được tổng hợp và thu thập lưu lượng từ các bộ cảm biến. Sau đó phân tích lưu lượng đã thu thập được. Nếu lưu lượng đã được phân tích có sự bất thường thì cảnh báo sẽ được hiển thị.
Lưu lượng thu thập được có thể được lưu trữ trên một hệ thống khác hoặc được log vào database.
Quote:
WIDS -> thu thập lưu lượng mạng-> phân tích-> phát hiện bất thường-> cảnh báo
II.4.2. Hệ thống WIDS có thể gửi cảnh báo trong một số trường hợp sau:
-AP bị quá tải khi có quá nhiều trạm kết nối vào.
-Kênh truyền quá tải khi có quá nhiều AP hoặc lưu lượng sử dụng cùng kênh.
-AP có cấu hình không thích hợp hoặc không đồng nhất với các AP khác trong hệ thống mạng.
-Số các gói fragment quá nhiều.
-WIDS dò ra được các trạm ẩn.
-Số lần thực hiện kết nối vào mạng quá nhiều.
-…
I.1.3. Lập báo cáo về khả năng thực thi mạng
Thông tin thu thập được bởi WIDS tạo ra cơ sở dữ liệu được sử dụng để lập báo cáo về tình trạng hoạt động của mạng và lập ra kế hoạch cho hệ thống mạng
Báo cáo của WIDS có thể bao gồm 10 AP có cảnh báo nhiều nhất, biểu đồ hoạt động của các trạm theo thời gian, cách sử dụng trãi phổ…
Xu hướng gửi cảnh báo là khi AP biểu hiện một số vấn đề mới, hay là hoạt động mạng bị gián đoạn. Khảo sát cảnh báo của các AP khác ở cùng vị trí giúp ta nhận ra được sự khác nhau của các thiết bị bất thường và điều kiện môi trường đã làm ảnh hưởng đến mỗi AP trong vùng như thế nào. Mặt khác, so sánh cảnh báo của các AP qua nhiều vị trí có thể giúp ta xác định được vấn đề gây ra do bởi sự khác nhau về các dòng sản phẩm, phiên bản về phần mềm hệ thống( firmware), và về cấu hình.
Đến đây chúng ta hầu như đã có cái nhìn sơ bộ về WIDS, và việc cần làm là dùng những thiết bị WIDS để áp dụng vào mạng không dây của doanh nghiệp.
III. Một số sản phẩm WIDS
IV. Cấu hình cho AP tham gia vào IDS
III. Một số sản phẩm WIDS:
III.1. AirDefense:
Liên hệ:http://www.airdefense.net/products/index.php
Là một hệ thống ngăn ngừa sự xâm nhập máy và cung cấp cho giải pháp tiện lợi nhất phát hiện , dò tìm sự xâm nhập, chính sách giám sát, tự bảo vệ, phân tích sự cố và sửa chữa từ xa.
III.2. Airmagnet:
Liên hệ:http://www.airmagnet.com/
Cung cấp rất nhiều giải pháp về Wireless IDS. AirMagnet cung cấp giải pháp phân tích WLAN từ xa cho Cisco.
IV. Cấu hình cho AP tham gia vào IDS
IV.1. Cấu hình cho AP ở chế độ scanner mode
Ở chế độ scanner mode, AP sẽ quét tất cả các kênh đang được kích hoạt . Một AP ở chế độ scanner sẽ không chấp nhận sự kết nối của client. Dùng CLI để cấu hình AP tham gia vào chế độ scanner:
AP(config)# int dot11radio 0
AP(config)# station role scanner
AP(config)#end
1.Cấu hình AP ở chế độ monitor
Khi AP được cấu hình ở chế độ scanner nó cũng thực hiện bắt gói ở chế độ monitor. Ở chế độ monitor AP bắt gói 802.11 và chuyển tiếp đến máy có cài đặt IDS. AP thêm 28 byte header vào mỗi frame mà nó chuyển tiếp, và bộ máy có cài đặt IDS sử dụng thông tin header để phân tích. AP sử dụng giao thức UDP để để chuyển tiếp gói đã được bắt. Nhiều gói được bắt sẽ kết hợp với một gói UDP để hạn chế việc tiêu tốn băng thông.
Ở chế độ scanner, AP sẽ quét tất cả các kênh đang được kích hoạt. Tuy nhiên, ở chế độ monitor AP chỉ quét kênh đã được cấu hình. Những bước cấu hình cho AP tham gia bắt gói và chuyển gói 802.11:
AP(config)# int dot11radio 0
AP(config)# monitor frames endpoint ip address 192.168.1.10 port 2000 truncate 512
Kiểm tra cấu hình đang chạy:
AP#show runBuilding configuration...
Current configuration : 1525 bytes
!
version 12.4
no service pad
service timestamps debug datetime msec
service timestamps log datetime msec
service password-encryption!
hostname ap
!
enable secret 5 $1$dEaG$.lrLC4DffBIIXqHJEcsMy1
!no aaa new-model
!
resource policy!
ip subnet-zero
!!!
dot11 ssid BCVT authentication open
!
dot11 ssid bcvt
!
!
!
username Cisco password 7 1531021F0725
!
bridge irb
!!interface Dot11Radio0
no ip address
no ip route-cache
!
ssid BCVT !
station-role scanner
monitor frames endpoint ip address 192.168.1.10 port 2000 truncate 512
bridge-group 1
bridge-group 1 subscriber-loop-control
bridge-group 1 block-unknown-source
no bridge-group 1 source-learning
unicast-flooding
bridge-group 1 spanning-disabled
!
interface Dot11Radio1
no ip address
no ip route-cache
shutdown
dfs band 3 block
channel dfs
station-role root
bridge-group 1
bridge-group 1 subscriber-loop-control
bridge-group 1 block-unknown-source
no bridge-group 1 source-learning
no bridge-group 1 unicast-flooding
bridge-group 1 spanning-disabled
!
interface FastEthernet0
no ip address no ip route-cache
duplex auto
speed auto
bridge-group 1 source-learning
bridge-group 1 spanning-disabled
!
interface BVI1
ip address 192.168.1.1 255.255.255.0
no ip route-cache
!
ip http server
no ip http secure-server
ip http help-path
http://www.cisco.com/warp/public/779...onfig/help/eag
!
control-plane
!
bridge 1 route ip
!
!
!
line con 0
line vty 0 4
login local
!End
Đến đây ta xem như đã hoàn thành xong bước đầu tiên của WIDS : Lí thuyết tổng quát.
Chương 5 :
XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁT HIỆN XÂM NHẬP WIDS
Sẽ giúp các bạn có thể xây dựng một hệ thống phát hiện xâm nhập cho mạng WLAN của doanh nghiệp mình.
Nhầm giúp cho các bạn dễ dàng lưu trữ và sử dụng , tôi đã tập hợp chương 4 thành 2 file tài liệu
http://www.ddth.com/showthread.php?t=159638&highlight=qu%E1%BA%A3n+tr%E1%BB%8B+m%E1%BA%A1ng
Nhãn:
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT,
NETWORK,
WIRELESS
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)