5 thg 3, 2008

Subnetting..

Chúng ta đều đã biết Subnetting là một phần rất quan trọng. Việc hiểu và tính toán thành thạo trong Subnetting sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều khi làm việc trong thực tế. Ở đây chúng tôi xin đưa ra một số câu hỏi thường xuyên gặp trong việc tính toán subnetting và phương pháp giúp các bạn trả lời các câu hỏi đó:

1. Số bit mạng(Network), subnet, và host:

Khi cho trước một địa chỉ IP và subnet mask của nó thì ta có thể hoàn toàn xác định được đâu là phần network, subnet và host. Một quy tắc cần tuân theo đó là:

* Phần network sẽ tuân theo quy tắc của các lớp địa chỉ IP: Có nghĩa là địa chỉ thuộc lớp A, B, C sẽ có phần network tương ứng là 8, 16, 24 bit đầu tiên.
* Phần host là các bit “0” trong subnet mask.
* Phần subnet chính là phần còn lại sau khi lấy 32 bit trừ đi phần network và host.

Ví dụ:

2. Tính số Host trong một mạng con (subnet) và số subnet:

Khi ta đã xác định được số bit subnet và số bit host rồi thì ta có thể tính được số host trong một subnet và số subnet như sau:

Nhìn vào công thức trên ta thấy có hai subnet trong một network và hai host trong một subnet là không được dùng. Hai subnet này thực ra vẫn có thể dùng trong các Router Cisco, nhưng khi sử dụng chúng ta phải dùng câu lệnh ip subnet zero. Hai subnet đó là Zero Subnet và Broadcast Subnet , còn hai địa chỉ host không dùng là địa chỉ subnet và địa chỉ broadcast.

Ví dụ:

3. Tính Subnet Number:

Để tính subnet number ta cần thực hiện phép cộng logic (AND) giữa địa chỉ IP và subnet mask. Để làm được việc đó thì địa chỉ IP và subnet mask cần được chuyển sang dạng nhị phân, rồi sau đó mới thực hiện cộng logic. Sau đó ta lại chuyển sang dạng thập phân sẽ được kết quả (thập phân ).

Ví dụ:

4. Tính địa chỉ Subnet Broadcast:

Địa chỉ Sunet Broadcast được dùng để gửi gói tin tới tất cả các host trong một subnet. Việc tính ra địa chỉ này ta có thể thực hiện rất đơn giản:

Chỉ việc đổi tất cả các Host bit trong Subnet Number thành bit “1”

Ví dụ:

5. Tính tất cả các địa chỉ IP hợp lệ trong một subnet:

Ta đã biết là trong một subnet thì có hai địa chỉ dành riêng và không được dùng đến. Đó chính là Subnet Number và địa chỉ Subnet Broadcast. Giờ đây ta có thể tính được các địa chỉ IP nào thuộc một subnet hợp lệ:

* Địa chỉ đầu tiên có được bằng cách cộng thêm 1 vào Octet cuối cùng trong Subnet Number.
* Địa chỉ cuối cùng có được cũng bằng cách trừ đi 1 từ Octet cuối cùng trong địa chỉ Subnet Broadcast.

Ví dụ:



http://www.bkacad.com/tech.asp?id=61

mô hình tham chiếu OSI..

Chắc hẳn đã có lúc bạn băn khoăn thế nào là mô hình tham chiếu OSI và nó được ra đời để làm gì? Ban đầu khi mà mạng máy tính mới ra đời và đưa vào ứng dụng thì các máy tính trao đổi thông tin với nhau chỉ bằng những máy tính do chính một nhà cung cấp, và khi trong mạng tồn tại các máy tính từ hai nhà cung cấp trở lên thì chúng không thẻ trao đổi thông tin được với nhau. Nhưng đó chỉ là một trong những lý do khiến cho các mô hình tham chiếu ra đời.

Mô hình tham chiếu OSI ( Open Systems Interconnection) được International Organization for Standardization (ISO) đưa ra vào những năm cuối 1970. Điều này đem lại khả năng các thiết bị do các nhà cung cấp khác nhau có thể làm việc được với nhau trong một mạng, mà không còn cần yêu cầu từ một nhà cung cấp thiết bị nữa.

Trong trao đổi thong tin, quá trình trao đổi thông tin được chia ra làm các quá trình nhỏ hơn và các quá trình này được đặt vào các nhóm logic gọi là lớp – Layer. Các lớp này chỉ có nghĩa về mặt logic. Mô hình tham chiếu OSI được chia làm 7 lớp riêng biệt. Mỗi lớp sẽ có chức năng riêng trong quá trình trao đổi thông tin. Mỗi thiết bị có thể thuộc một hay nhiều lớp khác nhau, và mỗi lớp có thể có nhiều thiết bị đảm nhiệm chức năng của lớp đó. Khi này các thiết bị và các giao thức mạng ra đời sẽ dựa trên mô hình này, tạo ra một sự thống nhất cần thiết cho quá trình nghiên cứu và phát triển lâu dài, đây chính là lý do tại sao lại gọi là mô hình tham chiếu.

Thế vậy các mô hình tham chiếu này có những ưu điểm gì mà nó lại được xem như là xương sống cho các nhà cung cấp thiết bị và những tổ chức chuyên đưa ra các chuẩn mạng ? Đó chính là do các mô hình tham chiếu này đem lại một số ưu điểm:

· Cho phép nhiều nhà cung cấp thiết bị phát triển và đưa ra các thiết bị dựa theo các chuẩn của các thành phần mạng.

· Nhờ đó mà các thiết bị phần cứng và các loại phần mềm mạng mới có thể làm việc được với nhau trong cùng một mạng.

· Sự thay đổi của một lớp này không làm ảnh hưởng đến lớp khác. Điều này sẽ không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghệ.

Bên cạnh mô hình tham chiếu OSI còn có các mô hình khác, trong đó phải kể đến mô hình TCP/IP. Nếu như trong mô hình tham chiếu OSI có 7 lớp thì trong TCP/IP chỉ có 4 lớp, 3 lớp trên cùng của OSI đã được gộp lại thành một lớp, và hai lớp dưới cùng cũng được gộp lại thành một lớp. Về chức năng thì không có gì thay đổi, có ít lớp hơn không có nghĩa là giảm bớt được các chức năng trong trao đổi thông tin, mà chỉ là khác về cách nhìn nhận và phân tích vấn đề.

Trong thực tế có những thiết bị mạng làm việc ở cả 7 lớp trong mô hình OSI, như:

· Các trạm quản lý mạng (NMS: Network Management Stations)

· Các máy chủ Web, ứng dụng (Web and Application servers)

· Các host trên mạng.

· Các gateway (Nhưng không phải là “Default Gateway”)

Có thể tham khảo qua các chức năng của các lớp trong mô hình OSI như sau:

http://www.bkacad.com/tech.asp?id=73

Ngày nay, mạng máy tính, mà đặc biệt là mạng Internet không ít thì nhiều đang đóng góp những vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt động học tập, vui chơi, tìm hiểu, giải trí, công việc hàng ngày …. của mỗi cá nhân. Có thể định nghĩa đơn giản: Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được nối với nhau bởi đường truyền theo một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin qua lại cho nhau. .



Một mô hình liên kết các máy tính trong mạng

Vào giữa những năm 1970, các thiết bị đầu cuối sử dụng những phương pháp liên kết qua đường cáp nằm trong một khu vực đã được ra đời, với những ưu điểm của nó là nâng cao tốc độ truyền dữ liệu và qua đó kết hợp được khả năng tính toán của các máy tính lại với nhau. Ðể thực hiện việc nâng cao khả năng tính toán với nhiều máy tính các nhà sản xuất bắt đầu xây dựng các mạng phức tạp hơn. Vào những năm 1980 các hệ thống đường truyền tốc độ cao đã được thiết lập ở Bắc Mỹ và Châu Âu và từ đó cũng xuất hiện các nhà cung cấp các dịnh vụ truyền thông với những đường truyền có tốc độ cao hơn nhiều lần so với đường dây điện thoại. Với những chi phí thuê bao chấp nhận được, người ta có thể sử dụng được các đường truyền này để liên kết máy tính lại với nhau và bắt đầu hình thành các mạng một cách rộng khắp. Các mạng LAN, MAN, WAN ra đời và nhanh chóng phát triển cả về số lượng, quy mô, chất lượng, cũng như về công nghệ.Tuy nhiên, cũng ngay trong những năm 80, khi mà ưu thế của các loại mạng máy tính đang thể hiện rõ thì nó cũng đặt ra những thách thức về tiêu chuẩn kết nối các thiết bị ngoại vi. Kết quả là những hệ thống hiện có thời đó chỉ cho phép thiết bị (cả về phần cứng và phần mềm) của một nhà sản xuất kết nối được với nhau và được gọi là hệ thống đóng. Điều này là hết sức bất tiện cho việc triển khai mạng cũng như rất phiền toái cho người sử dụng khi muốn lắp đặt mạng phục vụ cho công việc, cũng như hạn chế ngăn cản việc mở rộng mạng một cách “thoải mái” cho những quy mô lớn hơn.

Chính vì những lý do đó mà các tổ chức quốc tế cần có những quy chuẩn chung nào đó cho việc thiết kế và lắp đặt mạng. Trên thế giới hiện có một số cơ quan định chuẩn, họ đưa ra hàng loạt chuẩn về mạng, tuy các chuẩn đó có tính chất khuyến nghị chứ không bắt buộc nhưng chúng rất được các cơ quan chuẩn quốc gia coi trọng. Hai trong số các cơ quan chuẩn quốc tế là:

ISO (The International Standards Organization) - Là tổ chức tiêu chuẩn quốc tế hoạt động dưới sự bảo trợ của Liên hợp Quốc với thành viên là các cơ quan chuẩn quốc gia với số lượng khoảng hơn 100 thành viên với mục đích hỗ trợ sự phát triển các chuẩn trên phạm vi toàn thế giới.

CCITT (Commité Consultatif International pour le Telegraphe et la Téléphone) - Tổ chức tư vấn quốc tế về điện tín và điện thoại làm việc dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc có trụ sở chính tại Geneva - Thụy sỹ. Các thành viên chủ yếu là các cơ quan bưu chính viễn thông các quốc gia. Tổ chức này có vai trò phát triển các khuyến nghị trong các lãnh vực viễn thông.

Mô hình OSI (Open system interconnection – Mô hình kết nối các hệ thống mở) là một cơ sở dành cho việc chuẩn hoá các hệ thống truyền thông, nó được nghiên cứu và xây dựng bởi ISO. Việc nghiên cứu về mô hình OSI được bắt đầu tại ISO vào năm 1971 với mục tiêu nhằm tới việc nối kết các sản phẩm của các hãng sản xuất khác nhau và phối hợp các hoạt động chuẩn hoá trong các lĩnh vực viễn thông và hệ thống thông tin. Đến năm 1984, mô hình tham chiếu OSI chính thức được đưa ra giới thiệu.

Trước hết cần chú ý rằng mô hình 7 lớp OSI chỉ là mô hình tham chiếu chứ không phải là một mạng cụ thể nào.Các nhà thiết kế mạng sẽ nhìn vào đó để biết công việc thiết kế của mình đang nằm ở đâu. Xuất phát từ ý tưởng “chia để trị’, khi một công việc phức tạp được module hóa thành các phần nhỏ hơn thì sẽ tiện lợi cho việc thực hiện và sửa sai, mô hình OSI chia chương trình truyền thông ra thành 7 tầng với những chức năng phân biệt cho từng tầng. Hai tầng đồng mức khi liên kết với nhau phải sử dụng một giao thức chung. Giao thức ở đây có thể hiểu đơn giản là phương tiện để các tầng có thể giao tiếp được với nhau, giống như hai người muốn nói chuyện được thì cần có một ngôn ngữ chung vậy. Trong mô hình OSI có hai loại giao thức chính được áp dụng là: giao thức có liên kết (connection - oriented) và giao thức không liên kết (connectionless).

Giao thức có liên kết: là trước khi truyền, dữ liệu hai tầng đồng mức cần thiết lập một liên kết logic và các gói tin được trao đổi thông qua liên kết náy, việc có liên kết logic sẽ nâng cao độ an toàn trong truyền dữ liệu.

Giao thức không liên kết: trước khi truyền, dữ liệu không thiết lập liên kết logic và mỗi gói tin được truyền độc lập với các gói tin trước hoặc sau nó.

Mô hình 7 tầng OSI

Nhiệm vụ của các tầng trong mô hình OSI có thể được tóm tắt như sau:

Tầng ứng dụng (Application layer – lớp 7): tầng ứng dụng quy định giao diện giữa người sử dụng và môi trường OSI, nó cung cấp các phương tiện cho người sử dụng truy cập vả sử dụng các dịch vụ của mô hình OSI. Điều khác biệt ở tầng này là nó không cung cấp dịch vụ cho bất kỳ một tầng OSI nào khác ngoại trừ tầng ứng dụng bên ngoài mô hình OSI đang hoạt động. Các ứng dụng cung được cấp như các chương trình xử lý kí tự, bảng biểu, thư tín … và lớp 7 đưa ra các giao thức HTTP, FTP, SMTP, POP3, Telnet.

Tầng trình bày (Presentation layer – lớp 6): tầng trình bày chuyển đổi các thông tin từ cú pháp người sử dụng sang cú pháp để truyền dữ liệu, ngoài ra nó có thể nén dữ liệu truyền và mã hóa chúng trước khi truyền đễ bảo mật.Nói đơn giản thì tầng này sẽ định dạng dữ liệu từ lớp 7 đưa xuống rồi gửi đi đảm bảo sao cho bên thu có thể đọc được dữ liệu của bên phát. Các chuẩn định dạng dữ liệu của lớp 6 là GIF, JPEG, PICT, MP3, MPEG …

Tầng giao dịch (Session layer – lớp 5): thực hiện thiết lập, duy trì và kết thúc các phiên làm việc giữa hai hệ thống. Tầng giao dịch quy định một giao diện ứng dụng cho tầng vận chuyển sử dụng. Nó xác lập ánh xạ giữa các tên đặt địa chỉ, tạo ra các tiếp xúc ban đầu giữa các máy tính khác nhau trên cơ sở các giao dịch truyền thông. Nó đặt tên nhất quán cho mọi thành phần muốn đối thoại riêng với nhau.Các giao thức trong lớp 5 sử dụng là NFS, X- Window System, ASP.

Tầng vận chuyển (Transport layer – lớp 4): tầng vận chuyển xác định địa chỉ trên mạng, cách thức chuyển giao gói tin trên cơ sở trực tiếp giữa hai đầu mút, đảm bảo truyền dữ liệu tin cậy giữa hai đầu cuối (end-to-end). Để bảo đảm được việc truyền ổn định trên mạng tầng vận chuyển thường đánh số các gói tin và đảm bảo chúng chuyển theo thứ tự.Bên cạnh đó lớp 4 có thể thực hiện chức năng đièu khiển luồng và điều khiển lỗi.Các giao thức phổ biến tại đây là TCP, UDP, SPX.

Tầng mạng (Network layer – lớp 3): tầng mạng có nhiệm vụ xác định việc chuyển hướng, vạch đường các gói tin trong mạng(chức năng định tuyến), các gói tin này có thể phải đi qua nhiều chặng trước khi đến được đích cuối cùng. Lớp 3 là lớp có liên quan đến các địa chỉ logic trong mạngCác giao thức hay sử dụng ở đây là IP, RIP, IPX, OSPF, AppleTalk.

Tầng liên kết dữ liệu (Data link layer – lớp 2): tầng liên kết dữ liệu có nhiệm vụ xác định cơ chế truy nhập thông tin trên mạng, các dạng thức chung trong các gói tin, đóng gói và phân phát các gói tin.Lớp 2 có liên quan đến địa chỉ vật lý của các thiết bị mạng, topo mạng, truy nhập mạng, các cơ chế sửa lỗi và điều khiển luồng.

Tầng vật lý (Phisical layer – lớp 1): tầng vật lý cung cấp phương thức truy cập vào đường truyền vật lý để truyền các dòng Bit không cấu trúc, ngoài ra nó cung cấp các chuẩn về điện, dây cáp, đầu nối, kỹ thuật nối mạch điện, điện áp, tốc độ cáp truyền dẫn, giao diện nối kết và các mức nối kết.

Mặc dù đã ra đời từ rất lâu, mô hình tham chiếu OSI vẫn đang là “kim chỉ nam’ cho các loại mạng viễn thông, và là công cụ đắc lực nhất được sử dụng để tìm hiểu xem dữ liệu được gửi và nhận ra sao trong một mạng máy tính nói chung.

http://www.bkacad.com/tech.asp?id=72

Cấu hình của mạng..

Cấu hình của mạng là cấu trúc hình học không gian của mạng mà thực chất là cách bố trí các phần tử của mạng cũng như cách nối giữa chúng với nhau. Thông thường có các loại cấu hình của mạng là :

· Bus (trục cáp thẳng)

· Star (hình sao)

· Ring (vòng khép kín)

· Mesh (lưới)

Nếu máy tính được nối với nhau theo hàng dọc trên một đường (đoạn) cáp đơn lẻ, cấu hình này được xem như là cấu hình bus. Nếu máy tính nối với nhiều phân đoạn cáp rẽ nhánh từ một trung tâm điểm (còn gọi là HUB) thì cấu hình này gọi là cấu hình Star (hình sao). Nếu máy tính được nối với đoạn cáp tạo thành vòng tròn khép kín, cấu hình này gọi là cấu hình Ring (hình vòng).

Cấu hình mạng Bus

Cấu hình mạng Bus là phương pháp nối mạng vi tính đơn giản và phổ biến nhất. Cấu hình mạng bus bao gồm một dây cáp đơn lẻ nối tất cả máy tính trong mạng theo một hàng.




Cấu hình mạng Bus

Máy tính trên mạng bus giao tiếp bằng cách gửi dữ liệu đến một máy tính xác định và đưa dữ liệu đó lên cáp dưới dạng tín hiệu điện tử. Muốn biết máy tính giao tiếp ra sao trên mạng bus, chúng ta cần nắm vững 3 khái niệm sau:

* Gửi tín hiệu

Dữ liệu mạng ở hình thái tín hiệu điện tử được gửi tới mọi máy tính trên mạng, tuy nhiên thông tin chỉ được máy tính có địa chỉ so khớp với địa chỉ mã hoá trong tín hiệu gốc chấp nhận. Mỗi lần chỉ có một máy có thể gửi thông điệp.

* Dội tín hiệu

Do tín hiệu, tức tín hiệu điện tử, được gửi lên toàn mạng nên dữ liệu sẽ đi từ đầu cáp này tới đầu cáp kia. Nếu tín hiệu được phép tiếp tục không ngừng, nó sẽ dội quay trở lại trong dây cáp và ngăn không cho máy tính khác được gửi tín hiệu. Do đó tín hiệu phải bị chặn lại sau khi đến được đúng địa chỉ đích.

* Terminator

Nhằm ngăn không cho tín hiệu dội lại, một thiết bị có tên gọi là terminator (điện trở cuối) được đặt ở mỗi đầu cáp để hấp thụ các tín hiệu tự do. Việc hấp thụ tín hiệu sẽ làm thông cáp và cho phép máy tính khác có thể gửi tín hiệu. Mỗi đầu cáp trên mạng phải được cắm cái gì đó. Ví dụ có thể cắm đầu cáp vào một máy tính hay một đầu dây nối để mở rộng chiều dài cáp. Mọi đầu cáp hở, tức đầu không cắm vào gì cả phải được chặn lại (bằng Terminator) nhằm tránh tín hiệu dội lại.

Cấu hình mạng Star

Trong cấu hình mạng Star (hình sao), các máy tính được nối cáp vào một thiết bị gọi là HUB (tức đầu nối trung tâm). Tín hiệu được truyền từ máy tính gửi dữ liệu qua HUB để đến tất cả các máy tính trên mạng. Cấu hình này bắt nguồn từ thời kỳ đầu, khi việc tính toán dựa trên hệ thống các máy tính nối vào một máy chính trung tâm.






Cấu hình mạng Star



Mạng Star cung cấp tài nguyên và chế độ quản lý tập trung. Tuy nhiên, do mỗi máy tính nối vào một trung tâm điểm, nên cấu hình này cần rất nhiều cáp nếu cài đặt mạng ở quy mô lớn. Ngoài ra, nếu trung tâm bị hỏng thì toàn bộ mạng cũng bị đứt. Trường hợp một máy tính hoặc đoạn cáp nối máy tính đó với HUB bị hỏng trên mạng Star, thì chỉ máy tính đó mới không còn có thể gửi hay nhận dữ liệu mạng. Các máy tính còn lại trên mạng vẫn hoạt động bình thường.

Cấu hình mạng Ring

Cấu hình mạng Ring (vòng khép kín) nối các máy tính trên một vòng cáp. Không có đầu nào bị hở. Tín hiệu truyền đi theo một chiều và đi qua từng máy tính. Khác với cấu hình bus thụ động, mỗi máy tính đóng vai trò như một bộ chuyển tiếp khuếch đại tín hiệu và gửi nó tới máy tính tiếp theo. Do tín hiệu đi qua từng máy nên sự hỏng hóc của một máy có thể ảnh hưởng đến toàn mạng.





Cấu hình mạng Ring



Ngoài ra còn có một số cấu hình mạng biến thể từ cấu hình chính. Cấu hình mạng đó là sự kết hợp từ 3 cấu hình mạng chính là Bus, Star, Ring.

Cấu hình mạng lai (Hybrib)

Cấu hình lai là sự kết hợp giữa cấu hình bus và cấu hình Star. Trong cấu hình Star bus, vài mạng có cấu hình Star được nối với các trục cáp chính Bus.


Cấu hình mạng Star Bus

Cấu hình dạng lưới (Mesh)

Là cấu hình mà một thiết bị được nối tới tất cả các thiết bị khác trong mạng. Thường dùng trong các kết nối mạng lõi, tạo các kết nối dự phòng khi một kết nối bị đứt.




Cấu hình dạng lưới

http://www.bkacad.com/tech.asp?id=60

tạo một mạng “LAN” nhỏ nhỏ..

Khi bạn có hai chiếc máy tính, bạn có thích thử nghịch ngợm với nó một chút không. Hãy thử kết nối 2 chiếc máy tính đó lại với nhau để tạo một mạng “LAN” nhỏ nhỏ của mình xem sao …



Có rất nhiều cách để kết nối hai máy tính lại với nhau. Việc này thường được thực hiện khi có nhu cầu truyền dữ liệu giữa hai máy hoặc chơi game giữa hai người với nhau. Dưới đây là hai cách để kết nối hai máy tính một cách rất rẻ :

Cáp truyền dữ liệu qua cổng song song (Parallel Data Transfer Cable) – Sử dụng một cáp DB25 female với một cáp DB25 female để kết nối hai máy tính thông qua cổng song song (hay cổng máy in). Việc này có thể thực hiện được với các hệ điều hành Windows 95/98/2000, kết nối trực tiếp thông qua cáp (Direct Cable Connection - DCC).



Cáp chéo Ethernet (Ethernet Crossover Cable) – Bạn phải có một card mạng ethernet (network interface card - NIC) ở cả hai máy tính trong trường hợp này. Nếu bạn sử dụng ethernet card với jack RJ45 (tương tự như là jack cắm điện thoại nhưng to hơn), bạn chỉ cần một đoạn cáp chéo RJ45 to RJ45 Category 5 (một loại cáp trong kỹ thuật kết nối mạng mà bạn có thể dễ dàng tìm đọc ở các tài liệu).





Tuy nhiên, bạn không cần phải có một cáp chéo nếu như bạn kết nối hai máy tính thông qua cổng ethernet hub. Trong trường hợp này bạn chỉ cần 2 đoạn dây cáp có hai đầu theo đúng chuẩn Category 5 để kết nối đến hub.



Điều đáng quan tâm ở đây là “phần mềm” để kết nối được hai máy tính, bạn sẽ phải thiết lập các thông số giao thức mạng dạng TCP/IP, NetBUI, hay IPX cho thích hợp với ethernet card của mình (có thể tìm ở trong Start --> Settings --> Control Panel --> Network --> Local area connection). Nếu bạn sử dụng giao thức TCP/IP, bạn sẽ phải cài đặt các địa chỉ IP khác nhau và subnet mask như nhau cho phần TCP/IP properties của mỗi máy tính. Ví dụ : Máy 1 có thể có địa chỉ IP 192.168.0.1 & subnet 255.255.255.0, và máy 2 có thể có địa chỉ IP là 192.168.0.2 & subnet 255.255.255.0. Bạn phải đánh tên Workgroup như nhau trong thanh tab Identification.



Ngoài ra bạn có thể sử dụng cáp nối trực tiếp USB (USB Direct Link Cable) – Loại cáp này được sử dụng bằng cách cắm trực tiếp vào hai cổng USB của hai máy tính. Cả hai máy tính đều phải chạy hệ điều hành Windows có hỗ trợ USB (Các versions sau cùng của Windows 95 hay Windows 98, và các phiên bản Windows sau này).

Một ví dụ cho cách kết nối này là sử dụng dây nối USB ADP3181 có cung cấp các giải pháp cho việc truyền file, nối mạng trong hộ gia đình, đặc biệt là trong các văn phòng nhỏ. Nó cung cấp một các nhanh chóng và dễ dàng cho việc thông tin host-to-host ở tốc độ kết nối Ethernet™ 10Base-T. Với cách này bạn sẽ không cần một chiếc card mạng nào cả và tốc độ đạt được có thể đến 6 Mbps.

Tuy nhiên khi tính đến giá cả thì nó đắt hơn nhiều hai phương pháp kể trên. Và có lẽ bạn nên thử bằng hai cách trên nếu nhu cầu của bạn chỉ là để “vọc” thử chứ không phải để kinh doanh hay làm việc với yêu cầu cao.





Cáp USB

http://www.bkacad.com/tech.asp?id=77

Tìm hiểu về thiết bị WLAN cơ bản..

Mạng không dây (Wireless Local Area Network) là hệ thống mạng không dây rất được ưu chuộng bởi cung cấp khả năng truyền tải dữ liệu có tốc độ cao, với khoảng cách xa mà không phải lo lắng về dây dẫn, cáp...

Trong bài viết này, bạn đọc sẽ được làm quen với những thiết bị WLAN cơ bản. Thiết bị WLAN cơ bản bao gồm các card mạng không dây, các điểm truy cập không dây (Access Point), và WBridge (Bridge không dây).

Card mạng không dây
Card mạng không dây giao tiếp máy tính với mạng không dây bằng cách điều chế tín hiệu dữ liệu với chuỗi trải phổ và thực hiện một giao thức truy nhập cảm ứng sóng mang. Máy tính muốn gửi dữ liệu lên trên mạng, card mạng không dây sẽ lắng nghe các truyền dẫn khác. Nếu không thấy các truyền dẫn khác, card mạng sẽ phát ra một khung dữ liệu. Trong khi đó, các trạm khác vẫn liên tục lắng nghe dữ liệu đến, chiếm khung dữ liệu phát và kiểm tra xem địa chỉ của nó có phù hợp với địa chỉ đích trong phần Header của khung phát bản tin hay không. Nếu địa chỉ đó trùng với địa chỉ của trạm, thì trạm đó sẽ nhận và xử lý khung dữ liệu được, ngược lại trạm sẽ thải hồi khung dữ liệu này.

Các card mạng không dây không khác nhiều so với các card mạng được sử dụng trong mạng LAN có dây. Card mạng không dây trao đổi thông tin với hệ điều hành mạng thông qua một bộ điều khiển chuyên dụng. Như vậy, bất kì ứng dụng nào cũng có thể sử dụng mạng không dây để truyền dữ liệu. Tuy nhiên, khác với các card mạng có dây, các card mạng không dây là không cần bất kỳ dây nối nào. Card mạng có dây có thể sử dụng khe cắm ISA (hiện nay ít sử dụng) hoặc khe cắm PCI (sử dụng phổ biến) trên máy tính để bàn hoặc sử dụng khe cắm PCMCIA trên các laptop. Card mạng không dây thường có một anten ngoài có thể gắn vào tường hoặc một vị trí nào đó trong phòng.


Các điểm truy cập không dây (Access Point)
Soạn: AM 678051 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Các điểm truy cập không dây AP (Acsses Point) tạo ra các vùng phủ sóng, nối các nút di động tới các cơ sở hạ tầng LAN có dây. Vì các điểm truy cập cho phép mở rộng vùng phủ sóng nên các mạng không dây WLAN có thể triển khai trong cả một toà nhà hay một khu trường đại học, tạo ra một vùng truy cập không dây rộng lớn. Các điểm truy cập này không chỉ cung cấp trao đổi thông tin với các mạng có dây mà còn lọc lưu lượng và thực hiện chức năng cầu nối với các tiêu chuẩn khác. Chức năng lọc giúp giữ gìn dải thông trên các kênh vô tuyến nhờ loại bỏ các lưu lượng thừa.

Do băng thông ghép đôi không đối xứng giữa thông tin vô tuyến và hữu tuyến nên các điểm truy cập cần có bộ đệm thích hợp và các tài nguyên của bộ nhớ. Các bộ đệm được dùng chủ yếu để lưu các gói dữ liệu ở điểm truy cập khi một nút di động cố gắng di chuyển khỏi vùng phủ sóng hoặc khi một nút di động hoạt động ở chế độ công suất thấp. Các điểm truy cập trao đổi với nhau qua mạng hữu tuyến để quản lý các nút di động. Một điểm truy cập không cần điều khiển truy cập từ nhiều nút di động (có nghĩa là có thể hoạt động với một giao thức ngẫu nhiên phân tán như CSMA). Tuy nhiên, một giao thức đa truy cập tập trung được điều khiển bởi một điểm truy cập có nhiều thuận lợi. Các lựa chọn giao diện mạng hữu tuyến chung với điểm truy cập gồm có 10Base2, 10BaseT, modem ADSL, ISDN.


WBridge - Bridge không dây
Soạn: AM 678057 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Các WBridge (Bridge không dây) tương tự như các điểm truy cập không dây trừ trường hợp chúng được sử dụng cho các kênh bên ngoài. Phụ thuộc vào khoảng cách và vùng mà cần dùng tới anten ngoài. WBridge được thiết kế để nối các mạng với nhau, đặc biệt trong các toà nhà có khoảng cách xa tới 32 km.

WBridge cung cấp một phương pháp nhanh chóng và rẻ tiền so với việc sử dụng cáp, hoặc đường điện thoại thuê riêng (lised-line) và thường được sử dụng khi các kết nối có dây truyền thống không thể thực hiện hoặc khó khăn như qua sông, địa hình hiểm trở, các khu vực riêng, đường cao tốc... Khác với các liên kết cáp và các mạch điện thoại chuyên dụng, WBridge có thể lọc lưu lượng và đảm bảo rằng các hệ thống mạng không dây được kết nối tốt mà không bị mất lưu lượng cần thiết.

http://www.vnn.vn/cntt/2006/01/534681/