Hiển thị các bài đăng có nhãn Firewall. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Firewall. Hiển thị tất cả bài đăng

11 thg 5, 2008

Firewall - Attack and defense

I. Tổng quan bức tường lửa

Hai kiểu bức tường lửa đang thống lĩnh thị trường hỉện nay: hệ giám quản ứng dụng (application proxies) và cổng lọc gói tin (packet filtering gateway). Tuy các hệ giám quản ứng dụng được xem là an ninh hơn cổng lọc gói tin, song bản chất hạn hẹp và các hạn chế khả năng vận hành của chúng đã giới hạn chúng vào luồng lưu thông đi ra công ty thay vì luồng lưu thông đi vào serverweb của công ty . mặt khác, trong nhiều tổ chức lớn có các yêu cầu khả năng vận hành cao.
Nhiều người tin rằng hiện chưa xuất hiện bức tường lửa hoàn hảo , nhưng tương lai đầy sán lạng. Một số hăng kinh doanh nh Network Associates Inc. (NAI), AXENT, Internet Dynamics, và Microsoft đã phát triển công nghệ cung cấp tính năng bảo mật ủy nhiệm với khả năng vận hành của công nghệ lọc gói tin (một dạng lai ghép giữa hai công nghệ),song vẫn chưa hoàn thiện .
Suốt từ khi bức tường lửa đầu tiên được cài đặt, các bức tường lửa đã bảo vệ vô số mạng tránh được những cặp mắt tò mò và bọn phá hoại nhưng còn lâu chúng mới trở thành phương thuốc trị bách bệnh bảo mật. Các chỗ yếu bảo mật đều được phát hiện hàng năm với hầu như mọi kiểu bức tường lửa trên thị trường.Tệ hại hơn, hầu hết các bức tường lửa thường bị cấu hình sai, không bảo trì, và không giám sát, ngưỡng cửa mở toang.

Nếu không phạm sai lầm, một bức tường lửa được thiết kế, cấu hình, và bảo trì kỹ lưỡng hầu như không thể đột nhập. Thực tế, hầu hết các kẻ tấn công có tay nghề cao đều biết điều này và sẽ đơn giản tránh vòng qua bức tường lửa bằng cách khai thác các mối quan hệ tin tưởng (trust relationships) và các chỗ yếu bảo mật nối kết lỏng lẻo nhất, hoặc tránh nó hoàn toàn bằng cách tấn công qua một tài khoản quay số.

Ðiểm căn bản: hầu hết attacker dồn mọi nỗ lực để vòng qua một bức tường lửa mạnh - mục tiêu ở đây là tạo một bức tường lửa mạnh.
Với tư cách là điều hành viên bức tường lửa, ta biết rõ tầm quan trọng của việc tìm hiểu kẻ địch. Nắm được các bước đầu tiên mà một attacker thực hiện để bỏ qua các bức tường lửa sẽ giúp bạn rất nhiều trong việc phát hiện và phản ứng lại một cuộc tấn công. Chương này sẽ hướng dẫn bạn qua các kỹ thuật thường dùng hiện nay để phát hiện và điểm danh các bức tường lửa, đồng thời mô tả vài cách mà attacker gắng bỏ qua chúng. Với từng kỹ thuật, ta sẽ tìm hiểu cách phát hiện và ngăn chặn các cuộc tấn công.

II. Ðịnh danh các bức tường lửa

Hầu hết mọi bức tường lửa đều mang một "mùi hơng" điện tử duy nhất. Nghĩa là, với một tiến trình quét cổng, lập cầu lửa, và nắm giữ biểu ngữ đơn giản, bọn tấn cô ng có thể hiệu quả xác định kiểu, phiên bản, và các quy tắc của hầu hết mọi bức tường lửa trên mạng. Tại sao việc định danh này lại quan trọng? Bởi vì một khi đã ánh xạ được các bức tường lửa, chúng có thể bắt đầu tìm hìểu các điểm yếu và gắng khai thác chúng.

1. Quét trực tiếp : Kỹ thuật Noisy

Cách dễ nhất để tìm kiếm các bức tường lửa đó là quét các cổng ngầm định cụ thể. Một số bức tường lửa trên thị trường sẽ tự định danh duy nhất bằng các đợt quét cổng đơn giản bạn chỉ cần biết nội dung tìm kiếm.
Ví dụ, Firewall-1 của Check point lắng chờ trên các cổng TCP 256, 257, 258, và Proxy Server của Microsoft thường lắng chờ trên các cổng TCP 1080 và 1745. Với sự hiểu biết này, quá trình tìm kiếm các kiểu bức tường lửa này chẳng có gì khó với một bộ quét cổng như nmap:

Code:

# nmap -n -vv -P0 -p256,1080,1745 192.168.50.1 - 60.254


Dùng khóa chuyển -PO để vô hiệu hóa tính năng ping ICMP trước khi quét. Ðiều này quan trọng bởi hầu hết bức tường lửa không đáp ứng các yêu cầu dội ICMP.
Cả attacker nhút nhát lẫn hung bạo đều tiến hành quét rộng rãi mạng của bạn theo cách này, tìm kiếm các bức tường lửa này và tìm kiếm mọi khe hở trong két sắt vành đai của bạn. Nhưng attacker nguy hiểm hơn sẽ lùng sục vành đai của bạn càng lén lút càng tốt. Có nhiều kỹ thuật mà attacker có thể sử dụng để hạ sập radar của bạn, bao gồm ngẫu nhiên hóa các ping, các cổng đích, các địa chỉ đích, và các cổng nguồn;dùng các server cò mồi; và thực hiện các đợt quét nguồn có phân phối.
Nếu cho rằng hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS) của bạn như RealSecure của Internet Security Systems hoặc SessionWall-3 của Abirnet sẽ phát hiện attacker nguy hiểm này, bạn nên suy nghĩ lại.
Hầu hết các IDS đều ngầm định cấu hình để chỉ nghe các đợt quét cổng ngu đần và ồn ào nhất. Trừ phi bạn sử dụng IDS nhanh nhạy và tinh chỉnh các ký danh phát hiện, hầu hết các cuộc tấn công sẽ hoàn toàn làm ngơ. Bạn có thể tạo một đợt quét ngẫu nhiên hóa nh vậy bằng cách dùng các ký mã Perl cung cấp trên chuyên khu web www.osborne.com/hacking .

Các biện pháp phòng chống

Bạn cần phong tỏa các kiểu quét này tại các bộ định tuyến biên hoặc dùng một kiểu công cụ phát hiện đột nhập nào đó miễn phí hoặc thương mại. Mặc dù thế, các đợt quét cổng đơn lẻ sẽ không đợc thu nhặt theo ngầm định trong hầu hết các IDS do đó bạn phải tinh chỉnh độ nhạy cảm của nó trước khi có thể dựa vào tính năng phát hiện.

Phát Hiện

Ðể chính xác phát hiện các đợt quét cổng bằng tính năng ngẫu nhiên hóa và các server cò mồi, bạn cần tinh chỉnh từng lý danh phát hiện quét cổng. Tham khảo tài liệu hướng dẫn sử dụng của hãng kinh doanh IDS để biết thêm chi tiết.
Nêu muốn dùng RealSecure 3.0 để phát hiện tiến trình quét trên đây, bạn ắt phải nâng cao độ nhạy cảm của nó theo các đợt quét cổng đơn lẻ bàng cách sửa đổi các tham số của ký danh quét cổng. Bạn nên thay đổi các nội dung dới đây để tạo độ nhạy cảm cho quét này:


1. Lựa và tùy biến (Customize) Network Engine Policy.
2. Tìm "Port Scan" và lựa tùy chọn Options.
3. Thay đổi ports thành 5 cổng.
4. Thay đổi Delta thành 60 giây.

Nếu đang dùng Firewall-l với UNIX, bạn có thể dùng trình tiện ích của Lance Spitzner để phát hiện các đợt quét cổng Firewall-1 www.enteract.com/~lspitz/intrusion.html. Ký mã alert.sh của ng sẽ cấu hình Check point để phát hiện và giám sát các đợt quét cổng và chạy một User Defined Alert khi đợc ứng tác.

Phòng Chống

Ðể ngăn cản các đợt quét cổng bức tường lửa từ Internet, bạn cần phong tỏa các cổng này trên các bộ định tuyến đứng trước các bức tường lửa. Nếu các thiết bị này do ISP quản lý, bạn cần liên hệ với họ để tiến hành phong tỏa. Nếu tự bạn quản lý chúng, bạn có thể dùng các Cisco ACL dớí đây để phong tỏa rõ rệt các đợt quét đã nêu trên đây:
Code:

access - list 101 deny tcp any any eq 256 log ! Block Firewall-l scans access - list 101 deny tcp any any eq 257 log ! Block Firewall-l scans access - list 101 deny tcp any any eq 258 log ! Block Firewall-l scans access - list 101 deny tcp any any eq 1080 log ! Block Socks scans access - list 101 deny tcp any any eq 1745 log ! Block Winsock scans


Ghi chú : Nếu phong tỏa các cổng của Check Point (256-258) tại các bộ dịnh tuyến biên, bạn sẽ không thể quản lửa bừc từờng lửa từ lnternet. Ngoài ra, tất cả các bộ định tuyến phải có một quy tắc dọn dẹp (nếu không khước từ các gói tìn
theo ngầm định), sẽ có cùng hiệu ứng nh khi chỉ định các tác vụ khước từ:

access - list 101 deny ip any any log ! Deny and log any packet that got through our ACLs above

2. Rà Tuyến Ðường

Một cách thinh lặng và tinh tế hơn để tìm các bức tường lửa trên một mạng đó là dùng traceroute . Bạn có thể dùng traceroute của UNIX hoặc tracert.exe của NT để tìm từng chặng dọc trên trên đường truyền đến đích và tiến hành suy diễn. Traceroute của Linux có tùy chọn -I, thực hiện rà đường bằng cách gửi các gói tin ICMP, trái với kỹ thuật gói tin UDP ngầm định.

Code:

$ traceroute - I www.yourcompany.com traceroute to www.yourcompany.com ( 172.17.100.2 ) , 30 hops max, 140 byte packets 1 attack-gw ( 192.168.50.21) 5.801 ms 5.105 ms 5.445 ms 2 gw1.smallisp.net ( 192.168.51.l) 3 gw2.smallisp.net ( 192.168.52.2) ..... 13 hssi.bigisp.net ( 10.55.201.2 ) 14 seriall.bigisp.net ( 10.55.202.l) 15 www.yourcompany.com ( 172.29.11.2)


Có cơ may chặng đứng ngay trước đích ( 10.55.202.1) là bức tường lửa, nhưng ta cha biết chắc. Cần phải đào sâu thêm một chút.

Ví dụ trên đây là tuyệt vời nếu các bộ định tuyến giữa bạn và các serverđích đáp ứng các gói tin có TTL hết hạn. Nhưng một số bộ định tuyến và bức tường lửa đợc xác lập để không trả về các gói tin ICMP có TTL hết hạn (từ các gói tin ICMP lẫn UDP). Trong trờng hợp này, sự suy diễn ít khoa học hơn. Tất cả những gì bạn có thể thực hiện đó là chạy traceroute và xem chặng nào đáp ứng cuối cùng, và suy ra đây là một bức tường lửa hoặc chí ít là bộ định tuyến đầu tiên trong đường truyền bắt đầu phong tỏa tính năng tracerouting. Ví dụ, ở đây ICMP đang bị phong tỏa đến đích của nó, và không có đáp ứng nào từ các bộ định tuyến vợt quá client - gw.smallisp.net :

Code:

1 stoneface (192.168.10.33) 12.640 ms 8.367 ms 2 gw1.localisp.net (172.31.10.1) 214.582 ms 197.992 ms 3 gw2.localisp.net (172.31.10.2) 206.627 ms 38.931 ms 4 dsl.localisp.net (172.31.12.254) 47.167 ms 52.640 ms ........ 14 ATM6.LAX2.BIGISP.NET (10.50.2.1) 250.030 ms 391.716 ms 15 ATM7.SDG.BIGISP.NET (10.50.2.5) 234.668 ms 384.525 ms 16 client-gw.smallisp.net (10.50.3.250) 244.065 ms ! X * * 17 * * * 18 * * *


Các Biện Pháp Phòng Chống

Việc chỉnh sửa sự rò rỉ thông tin traceroute đó là hạn chế tối đa các bức tường lửa và bộ định tuyến đáp ứng các gói tin có TTL hết hạn. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng n m dới sự kiểm soát của bạn vì nhiều bộ định tuyến có thể n m dới s điều khiển cúa ISP.
Phát Hiện
Ðể phát hiện các traceroute chuẩn trên biên, bạn cần giám sát các gói tin UDP và ICMP có giá trị TTL là 1. Ðể thực hiện điều này với RealSecure 3.0, bạn bảo đảm đánh dấu TRACE_ROUTE decode name trong Security Events của Network Engine Policy.
Phòng chống
Ðể ngăn cản các traceroute chạy trên biên, bạn có thể cấu hình các bộ định tuyến không đáp ứng các thông điệp TTL EXPI#800000 khi nó nhận một gói tin có TTL là 0 hoặc 1. ACL dới đây sẽ làm việc với các bộ định tuyến Cisco:
Code:

access - list 101 deny ip any any 11 0 ! ttl-exceeded

Hoặc theo lý tởng, bạn nên phong tỏa toàn bộ luồng lu thông UDP không cần thiết tại các bộ định tuyến biên.

3. Nắm Giữ Biểu Ngữ

Kỹ thuật quét tìm các cổng bức tường lừa là hữu ích trong việc định vị các bức tường lửa, nhưng hầu hết các bức tường lửa không lắng chờ trên các cổng ngầm định như Check point và Microsoft, do đó việc phát hiện phải đợc suy diễn. Nhiều bức tường lứa phổ dụng sẽ công bố sự hiện diện của chúng bằng cách đơn giản nối với chúng. Ví dụ , nhiều bức tường lửa giám quản sẽ công bố chức năng cúa chúng với cách một bức tường lửa, và một số sẽ quảng cáo kiểu và phiên bản của chúng. Ví dụ, khi ta nối với một máy được tin là một bức tường lửa bằng netcat trên cổng 21 (FTP ), ta sẽ thấy một số thông tin thú vị :

Code:

C:\TEMP>nc -v -n 192.168.51.129 2 l [UNKNOWN] [ 192.168.5l.129 ] 2 l ( ? ) open 220 Secure Gateway FTP server ready .

Biểu ngữ "Secure Gateway server FTP ready" là một dấu hiệu lộ tẩy của một hộp Eagle Raptor cũ. Việc nối thêm với cổng 23 (telnet) sẽ xác nhận tên bức tường lửa là "Eagle."

Code:

C:\TEMP>nc -v -n 192.168.51.129 23 [UNKNOWN] [ 192.168.5l.129 ] 23 ( ? ) open Eagle Secure Gateway . Hostname :


Và cuối cùng. nếu vẫn chưa bị thuyết phục server của bạn là một bức tường lửa. bạn có thể netcat với cổng 25 ( SMTP ), và nó sê báo cho ban biết nó là gì:

Code:

C:\TEMP>nc -v -n 192.168.51.129 25 [UNKNOWN] [ 192.168.5l.129 ] 25 ( ? ) open 421 fw3.acme.com Sorry, the firewall does not provide mail service to you.

Như đã thấy trong các ví dụ trên đây, thông tin biều ngữ có thể cung cấp các thông tin quý giá cho attacker trong khi định danh các bức tường lửa. Dùng thông tin này, chúng có thể khai thác các chỗ yếu phổ biến hoặc các cấu hình sai chung.

Biện Pháp Phòng Chống

Ðể chỉnh sửa chỗ yếu rò rỉ thông tin này, bạn giới hạn thông tin biểu ngữ quảng cáo. Một biểuu ngữ tốt có thể kèm theo một mục cảnh giác mang tính pháp lý và tất cả mọi nỗ lực giao kết sẽ đợc ghi sổ. Các chi tiết thay đổi cụ thể của các biểu ngữ ngầm định sẽ tùy thuộc nhiều vào bức tường lửa cụ thể, do đó bạn cần liên hệ hãng kinh doanh bức tường lửa.

Phòng Chống

Ðể ngăn cản attacker giành được quá nhiều thông tin về các bức tường lửa từ các biểu ngữ quảng cáo, bạn có thể thay đổi các tập tin cấu hình biểu ngữ. Các khuyến nghị cụ thể thờng tùy thuộc vào hãng kinh doanh bức tường lửa. Trên các bức tường lửa Eagle Raptor, bạn có thể thay đổi các biểu ngữ ftp và telnet bằng cách sửa đổi các tập tin thông báo trong ngày: tập tin ftp.motd và telnet.motd.

4. Kỹ Thuật Phát Hiện Bức tường Lửa Cao Cấp

Nếu tiến trình quét cổng tìm các bức tường lửa trực tiếp, dò theo đường truyền, và nắm giữ biểu ngữ không mang lại hiệu quả, attacker sẽ áp dụng kỹ thuật điểm danh bức tường lửa theo cấp kế tiếp. Có thể suy diễn các bức tường lửa và các quy tắc ACL của chúng bằng cách dò tìm các đích và lu ý các lộ trình phải theo (hoặc không theo) để đến đó.

Suy Diễn Ðơn Giản với nmap

Nmap là một công cụ tuyệt vời để phát hiện thông tin bức tường lửa và chúng t i liên tục dùng nó. Khi nmap quét một hệ chủ, nó không chỉ báo cho bạn biết các cổng nào đang mở hoặc đóng, mà còn cho biết các cổng nào đang bị phong tỏa. Lợng (hoặc thiếu) thông tin nhận đợc từ một đợt quét cổng có thể cho biết khá nhiều về cấu hình của bức tường lửa. Một cổng đã lọc trong nmap biểu hiện cho một trong ba nội dung sau:


• không nhận gói tin SYN/ACK nào.
• không nhận gói tin RST/ACK nào.
• Ðã nhận một thông báo ICMP type 3 (Destination Unreachable ) có một mã 13 (Communication Administratively Prohibited - [RFC1812])

Nmap gom chung cả ba điều kiện này và báo cáo nó dới dạng một cổng "đã lọc." Ví dụ, khi quét www.mycompany.com ta nhận hai gói tin ICMP cho biết bức tường lửa đã phong tỏa các cổng 23 và 111 từ hệ thống cụ thể của chúng ta.
Code:

# nmap -p20, 21, 23, 53, 80, 111 - P0 -vv www.mycompany.com Starting nmap V. 2.08 by Fyodor ( fyodor@dhp.com , www.insecure.org/nmap/ ) Initiating TCP connect ( ) scan agains t ( 172.32.12.4 ) Adding TCP port 53 (state Open) Adding TCP port 111 ( state Firewalled ) Adding TCP port 80 ( state Open) Adding TCP port 23 ( state Firewalled) . Interesting ports on ( 172.17.12.4 ) : port State Protocol Service 23 filtered tcp telnet 53 open tcp domain 80 open tcp http 111 filtered tcp sunrpc

Trạng thái "Firewalled", trong kết quả trên đây, là kết quả của việc nhận một ICMP type 3, mã 13 (Admin Prohibited Filter), như đã gặp trong kết xuất tcpdump:
Code:

23 : 14 : 01.229743 10.55.2.1 > 172.29.11.207 : icmp : host 172.32.12.4 nreachable - admin prohibited filter 23 : 14 : 01.97 9743 10.55.2.l > 172.29.11.207 : icmp : host 172.32.12.4 nreachable - admin prohibited filter


Làm sao để nmap kết hợp các gói tin này với các gói tin ban đầu, nhất là khi chúng chỉ là một vài trong biển cả các gói tin đang ríu rít trên mạng? Vâng, gói tin ICMP đợc gửi trở lại cho máy quét sẽ chứa đựng tất cả các dữ liệu cần thiết để tìm hiều nội dung đang xảy ra. Cổng đang bị phong tỏa là phần một byte trong phần đầu ICMP tại byte 0x41 ( 1 byte), và bức tường lửa lọc gửi thông điệp sẽ n m trong phần IP của gói tin tại byte
0x1b (4 byte).
Cuối cùng, một cổng cha lọc nmap chỉ xuất hiện khi bạn quét một số cổng và nhận trở lại một gói tin RST/ACK. Trong trạng thái "unfiltered", đợt quét của chúng ta hoặc đang đi qua bức tường lửa và hệ đích của chúng ta đang báo cho biết nó không lắng chờ trên cổng đó, hoặc bức tường lửa đang đáp ứng đích và đánh lừa địa chỉ IP của nó với cờ RST/ACK đợc ấn định. Ví dụ, đợt quét một hệ thống cục bộ cho ta hai cổng cha lọc khi nó nhận hai gói tin RST/ACK từ cùng hệ chủ. Sự kiện này cũng có thể xảy ra với một số bức tường lửa nh Check point (với quy tắc REJECT) khi nó đáp ứng đích đang gửi trả một gói tin RST/ACK và đánh lừa địa chỉ IP nguồn của đích. .

Code:

# nmap - sS -p1 -300 172.18.20.55 Starting nmap V . 2.08 by Fyodor ( fyodor@dhp.com , www.insecure.org/nmap/ ) Interesting ports on ( 172.18.20.55 ) : (Not showing ports in state : filtered) Port State Protocol Service 7 unfiltered tcp echo 53 unfilteres tcp domain 256 open tcp rap 257 open tcp set 258 open tcp yak-chat Nmap run completed - 1 IP address ( 1 host up ) scanned in 15 seconds Ðợt rà gói tin tcpdump kết hợp nêu các gói tin RST/ACK đã nhận. 21 :26 :22.742482 172.18.20.55.258 > 172.29.11.207.39667 : S 415920470 : 1415920470 ( 0 ) ack 3963453111 win 9112 (DF ) (ttl 254, id 50438 ) 21 :26 :23.282482 172.18.20.55.53 > 172.29.11.207.39667 : R 0 : 0 ( 0 ) ack 3963453111 win 0 (DF ) ( ttl 44, id 50439 ) 21 :2 6: 24.362482 172.18.20.55.257 > 172.29.111.207.39667 : S 1416174328 : 1416174328 ( 0 ) ack 396345311 win X112 ( DF ) ( ttl 254, id 504 0 ) 21: 26: 26.282482 172.18.20.55.7 > 17.2.29.11.207.39667 : R 0 : 0 ( 0 ) ack 3963453111 win 0 ( DF ) ( ttl 44, id 50441)


Các Biện Pháp Phòng Chống

Ðể ngăn cản attacker điểm danh các ACL bộ định tuyến và bức tường lửa thông qua kỹ thuật admin prohibited filter", bạn có thể v hiệu hóa khả năng đáp ứng với gói tin ICMP type 13 của bộ định tuyến. Trên Cisco, bạn có thể thực hiện điều này bàng cách phong tỏa thiết bị đáp ứng các thông điệp IP không thể đụng đến no ip unreachables

5. Ðịnh Danh Cổng

Một số bức tường lửa có một dấu ấn duy nhất xuất híện dới dạng một sêri con số phân biệt với các bức tường lửa khác. Ví dụ, Check Point sẽ hiển thì một sêri các con số khi bạn nối với cổng quản lý SNMP của chúng, TCP 257. Tuy sự hiện diện đơn thuần của các cổng 256-259 trên một hệ thống thờng cũng đủ là một dấu chỉ báo về sự hiện diện của Firewall-1 của Check Point song trắcônghiệm sau đây sẽ xác nhận nó :
Code:

[ root@bldg_043]# nc -v -n 192.168.51.1 257 ( UNKNOWN) [ 192.168.51.1] 257 ( ? ) open 30000003 [ root@bldg_043 # nc -v -n 172.29.11.19l 257 (UNKNOWN ) [ 172.29.11.191] 257 ( ? ) open 31000000


Các Biện Pháp Phòng Chống

Phát Hiện
Ðể phát hiện tuyến nối của một kẻ tấn công với các cổng của bạn. bạn bố sung một sự kiện tuyến nối trong RealSecure. Theo các bớc sau:
1. Hiệu chỉnh nội quy
2. Lựa tab Connection Events.
3. Lựa nut Add Connection, và điền một mục cho Check Point.
4. Lựa đích kéo xuống và lựa nút Add.
5. Ðiền dịch vụ và cổng, nhắp OK.
6. Lựa cổng mới, và nhắp lại OK.
7. Giờ đây lựa OK và áp dụng lại nội quy cho động cơ.

Phòng Chống

Ðể ngăn cản các tuyến nối với cổng TCP 257, bạn phong tỏa chúng tại các bộ định tuyến thượng nguồn. Một Cisco ACL đơn giản nh dới đây có thể khước từ rõ rệt một nỗ lực của bọn tấn công:

Code:

access -list 101 deny tcp any any eq 257 log ! Block Firewall- l scans


III. Quét qua các bức tường lửa

Ðừng lo, đoạn này không có ý cung cấp cho bọn nhóc ký mã một số kỹ thuật ma thuật để vô hiệu hóa các bức tường lửa. Thay vì thế, ta sẽ tìm hiểu một số kỹ thuật để nhảy múa quanh các bức tường lửa và thu thập một số thông tin quan trọng về các lộ trình khác nhau xuyên qua và vòng quanh chúng.

1. hping

hping của Salvatore Sanfilippo, làm việc bằng cách gửi các gói tin TCP đến một cổng đích và báo cáo các gói tin mà nó nhận trở lại. hping trả về nhiều đáp ứng khác nhau tùy theo v số điều kiện. Mỗi gói tin từng phần và toàn thể có thể cung cấp một bức tranh khá rõ về các kiểu kiểm soát truy cập của bức tường lửa. Ví dụ, khi dùng hping ta có thể phát hlện các gói tin mở, bị phong tỏa, thả, và loại bỏ.

Trong ví dụ sau đây, hping báo cáo cổng 80 đang mở và sẵn sàng nhận một tuyến nối. Ta biết điều này bởi nó đã nhận một gói tin với cờ SA đợc ấn định (một gói tin SYN/ACK).

Code:

# hping www.yourcompany.com -c2 – S -p80 -n HPING www.yourcomapany.com ( eth0 172.30.1.2 0 ) : S set, 40 data bytes 60 bytes from 172.30.1.20 : flags=SA seq=0 ttl=242 id= 65121 win= 64240 time=144.4 ms


Giờ đây ta biết có một cống mở thông đến đích, nhưng chưa biết nơi của bức tường lửa. Trong ví dụ kế tiếp, hping báo cáo nhận một ICMP unreachable type 13 từ 192.168.70.2. Một ICMP type 13 là một gói tin lọc bị ICMP admin ngăn cấm, thờng đợc gửi từ một bộ định tuyến lọc gói tin.
Code:

# hping www.yourcompany.com -c2 –S -p23 -n HPING www.yourcompany.com ( eth0 172.30.1.20 ) : S set, 40 data bytes ICMP Unreachable type 13 f rom 192.168.70.2


Giờ đây nó đợc xác nhận, 192.168.70.2 ắt hẳn là bức tường lửa, và ta biết nó đang phong tỏa cổng 23 đến đích của chúng ta. Nói cách khác, nếu hệ thống là một bộ định tuyến Cisco nó ắt có một dòng như dưới đây trong tập tin config:
Code:

access -list 101 deny tcp any any 23 ! telnet


Trong ví dụ kế tiếp, ta nhận đợc một gói tin RST/ACK trả lại báo hiệu một trong hai viêc:

(1) gói tin lọt qua bức tường lửa và server không lắng chờ cổng đó
(2) bức tường lửa thải bỏ gói tin (như trường hợp của quy tắc reject của Check Point).

Code:

# hping 192.168.50.3 -c2 -S -p22 -n HPING 192.168.50.3 ( eth0 192.168.50.3 ) : S set, 40 data bytes 60 bytes from 192.168.50.3 : flags=RA seq= 0 ttl= 59 id= 0 win= 0 time=0.3 ms


Do đã nhận gói tin ICMP type 13 trên đây, nên ta có thể suy ra bức tường lửa ( 192.168.70.2) đang cho phép gói tin đi qua bức tường lửa, nhưng server không lắng chờ trên cổng đó. Nếu bức tường lửa mà bạn đang quét qua là Check point, hping sẽ báo cáo địa chỉ IP nguồn của đích, nhưng gói tin thực sự đang đợc gửi từ NIC bên ngoài của bức tường lửa Check Point. Ðiểm rắc rối về Check Point đó là nó sẽ đáp ứng các hệ thống bên trong của nó , gửi một đáp ứng và lừa bịp địa chỉ của đích. Tuy nhiên, khi attacker đụng một trong các điều kiện này trên Internet, chúng không hề
biết sự khác biệt bởi địa chỉ MAC sẽ không bao giờ chạm máy của chúng. Cuối cùng, khi một bức tường lửa đang phong toả các gói tin đến một cổng, bạn thờng không nhận đợc gì trở lại.
Code:

[ root@bldg_04 3 /opt ] # hping 192.168.50.3 -c2 -S -p2 2 -n

HPING 192.168.50.3 ( eth0 192.168.50.3 ) : S set, 40 data
Kỹ thuật hping này có thể có hai ý nghĩa: (1) gói tin không thể đạt đến đích và đã bị mất trên đường truyền, hoặc (2) có nhiều khả năng hơn, một thiết bị (ắt là bức tường lửa của chúng ta 192.168.70.2 ) đã bỏ gói tin trên sàn dới dạng một phần các quy tắc ACL của nó.

Biện Pháp Phòng Chống

Ngăn ngừa một cuộc tấn công hping không phải là dễ . Tốt nhất, ta chỉ việc phong tỏa các thông điệp ICMP type 13 ( nh m tả trong đoạn phòng chống tiến trình quét nmap trên đây ).

2. Firewalk

Firewalk là một công cụ nhỏ tiện dụng, nh một bộ quét cổng, đợc dùng để phát hiện các cổng mở đàng sau một bức tường lửa. Ðợc viết bởi Mike Schiffnlan, còn gọi là Route và Dave Goldsmith, trình tiện ích này sẽ quét một server xua dòng từ một bức tường lửa và báo cáo trở lại các quy tắc đợc phép đến server đó mà không phải thực tế chạm đến hệ đích. Firewalk làm việc bằng cách kiến tạo các gói tin với một IP TTL đợc tính toán để kết thúc một chãng vợt quá bức tường lửa. Về lý thuyết, nếu gói tin đợc bức tường lửa cho phép, nó sẽ đợc phép đi qua và sẽ kết thúc nh dự kiến, suy ra một thông điệp "ICMP TTL expired in transit." Mặt khác, nếu gói tin bị ACL của bức tường lửa phong tỏa, nó sẽ bị thả, và hoặc không có đáp ứng nào sẽ đợc gửi, hoặc một gói tin lọc bị ICMP type 13 admin ngăn cấm sẽ đợc gửi.

Code:

# firewalk -pTCP -S135 -140 10.22.3.1 192.168.1.1 Ramping up hopcounts to binding host . . . probe : 1 TTL : 1 port 33434 : expired from [exposed.acme.com] probe : 2 TTL : 2 port 33434 : expired from [rtr.isp.net] probe : 3 TTL : 3 port 33434 : Bound scan at 3 hops [rtr.isp.net] port open port 136 : open port 137 : open port 138 : open port 139 : * port 140 : open

Sự cố duy nhất mà chúng ta gặp khi dùng Firewalk đó là nó có thể ít hơn dự đoán, vì một số bức tường lửa sẽ phát hiện gói tin hết hạn trước khi kiểm tra các ACL của nó và cứ thế gửi trả một gói tin ICMP TTL EXPI#800000. Kết quả là, Firewalk mặc nhận tất cả các cổng đều mở.

Biện Pháp Phòng Chống

Bạn có thể phong tỏa các gói tin ICMP TTL EXPI#800000 tại cấp giao diện bên ngoài, nhưng điều này có thể tác động tiêu cực đến khả năng vận hành của nó, vì các clien hợp pháp đang nối sẽ không bao giờ biết điều gì đã xảy ra với tuyến nối của chúng.

IV. Lọc gói tin

Các bức tường lửa lọc gói tin nh Firewall-1 của Check Point, Cisco PIX, và IOS của Cisco (vâng, Cisco IOS có thể đợc xác lập dới dạng một bức tường lửa) tùy thuộc vào các ACL (danh sách kiểm soát truy cập) hoặc các quy tắc để xác định xem luồng traffic có đợc cấp quyền để truyền vào/ra mạng bên trong. Ða phần, các ACL này đợc sắp đặt kỹ và khó khắc phục. Nhưng thông thờng, bạn tình cờ gặp một bức tường lửa có các ACL tự do, cho phép vài gói tin đi qua ở tình trạng mở. .
Các ACL Tự Do
Các danh sách kiểm soát truy cập (ACL) tự do thờng gặp trên các bức tường lửa nhiều hơn ta tưởng. Hãy xét trờng hợp ở đó có thể một tổ chức phải cho phép ISP thực hiện các đợt chuyển giao miền. Một ACL tự do nh "Cho phép tất cả mọi hoạt động từ cổng nguồn 53" có thể đợc sử dụng thay vì cho phép hoạt động từ serverDNS của ISP với cổng nguồn 53 và cổng đích 53." Nguy cơ tồn tại các cấu hình sai này có thể gây tàn phá thực sự, cho phép một hắc cơ quét nguyên cả mạng từ bên ngoài. Hầu hết các cuộc tấn công này đều bắt đầu bằng một kẻ tấn công tiến hành quét một server đằng sau bức tường lửa và đánh lừa nguồn của nó dới dạng cống 53 (DNS).

Biện Pháp Phòng Chống

Bảo đảm các quy tắc bức tường lửa giới hạn ai có thể nối ở đâu. Ví dụ, nếu ISP yêu cầu khả năng chuyển giao miền, thì bạn phải rõ ràng về các quy tắc của mình. Hãy yêu cầu một địa chỉ IP nguồn và mã hóa cứng địa chỉ IP đích (serverDNS bên trong của bạn) theo quy tắc mà bạn nghĩ ra. Nếu đang dùng một bức tường lửa Checkpoint, bạn có thể dùng quy tắc sau đây để hạn chế một cổng nguồn 53 (DNS) chỉ đến DNS của ISP. Ví dụ, nếu DNS của ISP là 192.168.66.2 và DNS bên trong của bạn là 172.30.140.1, bạn có thể dùng quy tắc dới đây:
Nguồn gốc Ðích Dịch vụ Hành động Dấu vết
192.168.66.2 172.30. 140.1 domain-tcp Accept Short

V. Tunneling ICMP và UDP

Tunneling ICMP là khả năng đóng khung dữ liệu thực trong một phần đầu ICMP.
Nhiều bộ định tuyến và bức tường lửa cho phép ICMP ECHO, ICMP ECHO REPLY, và các gói tin UDP mù quáng đi qua, và như vậy sẽ dễ bị tổn thơng trước kiểu tấn công này. Cũng như chỗ yếu Checkpoint DNS, cuộc tấn công Tunneling ICMP và UDP dựa trên một hệ thống đã bị xâm phạm đứng sau bức tường lửa.
Jeremy Rauch và Mike D. Shiffman áp dụng khái niệm Tunneling vào thực tế và đã tạo các công cụ để khai thác nó : loki và lokid (clien và server) -xem
http://www.phrack.com/search.phtml?view&article=p49-6.
Nếu chạy công cụ serverlokid trên một hệ thống đứng sau bức tường lửa cho phép ICMP ECHO và ECHO REPLY, bạn cho phép attacker chạy công cụ clien (loki), đóng khung mọi lệnh gửi đi trong các gói tin ICMP ECHO đến server(lokid). công cụ lokid sẽ tháo các lệnh, chạy các lệnh cục bộ , và đóng khung kết xuất của các lệnh trong các gói tin ICMP ECHO REPLY trả lại cho bọn tấn công. Dùng kỹ thuật này, attacker có thể hoàn toàn bỏ qua bức tường lửa.

Biện Pháp Phòng Chống

Ðể ngăn cản kiểu tấn công này, bạn v hiệu hóa khả năng truy cập ICMP thông qua bức tường lừa hoặc cung cấp khả năng truy cập kiểm soát chi tiết trên luồng lu thông ICMP. Ví dụ, Cisco ACL dới đây sẽ v hiệu hóa toàn bộ luồng lu thông ICMP phía ngoài mạng con 172.29.10.0 (DMZ) vì các mục tiêu điều hành:

Code:

access - list 101 permit icmp any 172.29.10.0 0.255.255.255 8 ! echo access - list 101 permit icmp any 172.29.10.0 0.255.255.255 0 ! echo- reply access - list 102 deny ip any any log ! deny and log all else


Cảnh giác: nếu ISP theo dõí thời gian hoạt động của hệ thống bạn đằng sau bức tường lửa của bạn với các ping ICMP (hoàn toàn không nên!), thì các ACL này sẽ phá vỡ chức năng trọng yếu của chúng. Hãy liên hệ với ISP để khám phá xem họ có dùng các ping ICMP để kiểm chứng trên các hệ thống của bạn hay không.

Tóm Tắt

Trong thực tế một bức tường lửa đợc cấu hình kỹ có thể cũng khó vợt qua. Nhưng dùng các công cụ thu thập thông tin như traceroute, hping, và nmap, attacker có thể phát hiện (hoặc chí ít suy ra) các lộ trình truy cập thông qua bộ định tuyến và bức tường lửa cũng như kiểu bức tường lửa mà bạn đang dùng. Nhiều chỗ yếu hiện hành là do cấu hình sai trong bức tường lửa hoặc thiếu sự giám sát cấp điều hành, nhưng dẫu thế nào, kết quả có thể dẫn đến một cuộc tấn công đại họa nếu được khai thác. Một số điểm yếu cụ thể tồn tại trong các hệ uỷ nhiệm lẫn các bức tường lửa lọc gói tin, bao gồm các kiểu đăng nhập web, telnet, và localhost không thẩm định quyền. Ða phần, có thể áp dụng các biện pháp phòng chống cụ thể để ngăn cấm khai thác chỗ yếu này, và trong vài trờng hợp chỉ có thể đúng kỹ thuật phát hiện. Nhiều người tin rằng tương lai tất yếu của các bức tường lửa sẽ là một dạng lai ghép giữa uỷ nhiệm ứng dụng và công nghệ lọc gói tin hữu trạng [stateful] sẽ cung cấp vài kỹ thuật để hạn chế khả năng cấu hình sai. Các tính năng phản ứng cũng sẽ là một phần của bức tường lửa thế hệ kế tiếp. NAI đã thực thi một dạng như vậy với kiến trúc Active Security. Nhờ đó, ngay khi phát hiện cuộc xâm phạm, các thay đổi đã đợc thiết kế sẵn sẽ tự động khởi phát và áp dụng cho bức tường lửa bị ảnh hưởng. Ví dụ, nếu một IDS có thể phát hiện tiến trình Tunneling ICMP, sản phẩm có thể hướng bức tường lửa đóng các yêu cầu ICMP ECHO vào trong bức tường lửa. Bối cảnh như vậy luân là cơ hội cho một cuộc tấn công DDoS; đó là lý do tại sao luân cần có mặt các nhân viên bảo mật kinh nghiệm.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Theo: Hacking exposed

http://www.hocquantrimang.net/forum/showthread.php?t=262

Tổng Hợp Cách Vượt Bức Tường Lửa (FireWall)

Tường lửa là gì?

Tường lửa (firewall) là hệ thống phần cứng / phần mềm làm nhiệm vụ ngăn chặn các truy nhập "không mong muốn" từ bên ngoài vào hoặc từ bên trong ra. Tường lửa thường được đặt tại cổng ra / vào giữa hai hệ thống mạng, ví dụ giữa mạng trong nước Việt Nam và mạng quốc tế. Tường lửa thực hiện việc lọc bỏ những truy cập không hợp lệ dựa theo các quy tắc hay chỉ tiêu định trước, ví dụ:

+ Lọc theo địa chỉ IP: Mọi cố gắng truy cập tới địa chỉ IP của các trang www.vidu1.net, www.vidu2.org... đều bị lọc bỏ và trả về thông báo "Page not found" hoặc "The page cannot be displayed".

+ Lọc theo ứng dụng: Mỗi ứng dụng có một cổng (port) riêng, có giá trị từ 0 tới 65535, cho việc truy cập, ví dụ dịch vụ web dùng cổng 80, dịch vụ email dùng cổng 125... Hiện nay ở Việt Nam chỉ có một số cổng ứng dụng chuẩn được mở. Mọi truy cập qua các cổng không tiêu chuẩn đều bị chặn.

Như vậy, để vượt tường lửa, chúng ta phải làm sao cho gói tin (packet) truy cập tới các trang web / dịch vụ "không được phép" trông giống như gói tin tới từ các trang web / dịch vụ "được phép".

Proxy là gì?

Theo định nghĩa đơn giản nhất, proxy là một máy tính trung gian, đứng phía ngoài tường lửa, giúp lấy tin từ các trang web "không được phép" theo yêu cầu và gửi tới người đọc phía sau tường lửa. Nếu địa chỉ IP và cổng mà proxy dùng để gửi thông tin không nằm trong danh sách bị ngăn cản (block) của tường lửa, người đọc sẽ nhận được thông tin, hay nói cách khác là vượt tường lửa thành công.

Các phương pháp vượt tường lửa:

1/ Sử dụng proxy server: Trong các trình duyệt đều có chức năng thiết lập proxy. Ví dụ với Internet Explore:

Bước 1: Chọn Tool > Internet Options > Connections > LAN settings

Bước 2: Gõ vào ô 'Address' địa chỉ của proxy server muốn dùng và ở ô 'Port' gõ giá trị cổng của proxy server.

Bước 3: Nhấn OK và thử vào các trang web "bị ngăn cản". Nếu proxy server của bạn hoạt động và không bị chặn, bạn sẽ thấy nội dung của các trang web kia.

Có rất nhiều proxy server miễn phí trên mạng. Các bạn có thể tìm danh sách này bằng Google với từ khóa "free proxy". Các proxy server được viết dưới dạng:

customer-148-223-48-114.uninet.net.mx:80

hoặc

163.24.133.117:80

Trong đó phần trước dấu ":" là địa chỉ, và phần sau đó là cổng. Nên chọn các proxy có cổng "tiêu chuẩn" (ví dụ cổng 80) vì các cổng "không tiêu chuẩn" (ví dụ 3128 hay 8080) có thể bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam.

2/ Sử dụng web proxy: Có một số trang web cho phép bạn đánh vào địa chỉ web mà mình muốn xem, và trang web đó sẽ đem nội dung về cho bạn. Thuận lợi khi dùng trang web kiểu này là bạn không phải mất công đặt proxy setting như ở cách thứ nhất (ví dụ khi ra hàng internet người ta không cho phép thay đổi setting).

Có thể tìm ra các trang web kiểu này trên Google với từ khóa "free surf anonymous". Một trang tiêu biểu dạng này là:

http://www.the-cloak.com

Tuy nhiên rất có thể trang này cũng đã bị đặt vào danh mục cấm của Việt Nam

3/ Sử dụng các trang web cá nhân: Nếu bạn có bạn bè hay người thân ở nước ngoài, những người này có thể thiết lập các trang web cá nhân có gắn nội dung các trang "bị ngăn cản" theo kiểu Inline frame. Như vậy, bạn có thể đọc trang web cấm bằng cách tới xem các trang web cá nhân của bạn bè hay người thân của mình ở nước ngoài.

Ví dụ, các bạn trong nước có thể thử đọc bài từ Mạng Ý kiến ở đây:

http://www.vidu.dk/files/misc/ykien.html

Mã HTML để thực hiện điều này ở đây:

http://www.vidu.dk/files/misc/ykien.html.txt

Hãy xóa đuôi txt và upload lên trang web của mình ở nước ngoài, thay địa chỉ "http://vidu.net" bằng địa chỉ trang web mà bạn muốn hiển thị.

Phương pháp này có nhược điểm là trình duyệt của người xem phải hỗ trợ Inline Frame. Tuy nhiên Internet Explorer và Firefox đều hỗ trợ tính năng này.

4/ Vượt tường lửa bằng công cụ của Google: Google cung cấp phương tiện chuyển ngữ trang Web (Translation service), rất tiện cho việc vượt tường lửa. Chỉ cần thay địa chỉ trang cần tới vào địa chỉ "x-cafe.dk" ở dòng lệnh dưới đây, các bạn có thể xem trang web đó dù nó đã bị firewall:

http://www.google.com/translate?langpair=en|en&u=www.vidu.dk

Nên dùng proxy lấy ở đây :

http://www.proxy4free.com/index.html

Hoặc vào trang này :http://anonymouse.org/anonwww.html
Lấy phần mềm này: http://anon.inf.tu-dresden.de/index_en.html khi dùng thì mở trương trình đó lên trước sau đó trong IE chẳng hạn : Chọn Tool > Internet Options > Connections > LAN settings . Address gõ 127.0.0.1 port là 4001 . Cái này free mà chạy rất nhanh , một sản phẩm của Đức dành cho các bạn VN , nếu ai không dành cứ hỏi tui hoặc vào trang web (ở trên ) đó nó nói rất cụ thể . cái này dịch vụ intrenet mà dùng thì quá ngon .

Hide.IP.Platinum.v2.7

Lấy phần mềm Hide .IP.platinum 1.73 này dùng :
download , có cả keygen kèm theo
http://www.hide-ip-soft.com/


Phần 2 - Để vượt bức tường lửa.

Có một số cách để vượt khỏi bức tường lửa của Việt Nam. Đa số các cách nằm trong bốn loại sau đây : 1) giấu tung tích của địa chỉ, 2) dùng những trang đã được lưu trữ sẵn, 3) dùng máy điện toán của người khác làm điểm truy cập thay vì điểm proxy của Hà Nội, và loại chót, 4) dùng dịch vụ của công ty chuyển thư WebMailer.

Tóm tắt những cách vượt bức tường lửa:

Giấu tung tích của địa chỉ muốn tới

Đây là cách nhanh nhất để truy cập những trang bị cấm. Có nhiều trang trên mạng internet giúp chúng ta giấu địa chỉ truy cập để qua mắt được Hà Nội. Giả thử bạn muốn truy cập trang nào đó, bạn sẽ chẳng thấy gì trên màn hình bởi trang này bị bức tường lửa chặn. Nhưng khi muốn giấu tung tích của nơi bạn muốn tới, trang www.anonymizer.com sẽ giúp bạn. Từ ngay trong trang www.anonymizer.com, bạn có thể đánh vào địa chỉ trang www của minh muốn tới để giấu tung tích. Khi địa chỉ www đó đã bị dấu, điểm proxy ở Hà Nội sẽ không chặn được.

Nhưng, bạn có thấy một điểm nhỏ cần chú ý không? Người ta cũng có thể chặn không cho chúng ta truy cập www.anonymizer.com. Họ có thể cho www.anonymizer.com vào danh sách đen, vì vậy, không thể truy cập trang internet này ở Việt Nam nữa. Sau đây là danh sách của một số trang internet cũng có chức năng giống như www.anonymizer.com. Một số đã bị vô sổ đen của họ:
http://www.anonymizer.com , http://www.phantomip.com, https://proxy1.autistici.org/, http://www.the-cloak.com/login.html, http://www.guardster.com/

Ngoài những trang này ra, bạn có thể vào trangwww.google.com và đánh vào chữ web anonymizer hoặc web mailers để tìm thêm những trang tương tự. Mong bạn có thể tìm thấy những trang chưa hân hạnh được liệt vào sổ đen bức tường lửa của nhà nước.

Dùng những trang đã được lưu trữ sẵn

Những trang được lưu trữ cũng giống như một cuốn sách lịch sử. Dịch vụ lưu trữ những trang internet được miễn phí tại các địa chỉ sau đây: www.archive.org và www.google.com. Cũng giống như phần trên, khi bạn truy cập www.archive.org, bức tường lửa sẽ không biết bạn đang truy cập những gì. www.archive.org rất dễ xài, bạn chỉ việc vào đó và đánh tên địa chỉ mình muốn tới, bạn sẽ thấy trang www đó được lưu trữ. Dịch vụ lưu trữ này thường không cho ta thấy trang internet trực tiếp nhưng cho ta thấy trang này trong tình trạng được lưu trữ, có thể đã cũ một vài tuần hoặc vài tháng. Còn www.google.com thì cũng một phần tương tự. Google cũng lưu trữ toàn thể các trang của internet. Thí dụ để coi trang www nào đó, bạn truy cập trang www.google.com và đánh địa chỉ www mình muốn, Google sẽ hiện ra những gì kiếm được, bạn chỉ bấm vô "Show Google's cache of www của mình" thì sẽ thấy được trang lưu trữ cách đây vài tháng.

Dùng máy điện toán khác để tránh điểm proxy của Hà Nội

Bây giờ bạn hãy tưởng tượng nếu chúng ta dùng một loại kỹ thuật mới tránh né proxy của Hà Nội. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta nối cả triệu máy điện toán cá nhân trên thế giới lại? Câu trả lời như sau: Nối hàng triệu máy điện toán cá nhân của tất cả thế giới tự do là mục đích của hai chương trình Peekabooty và Six/Four . Khi bạn ra lệnh truy cập www của mình, thì điểm proxy của Hà Nội sẽ phải gửi lệnh tới một trong hàng triệu máy điện toán cá nhân. Một máy cá nhân này sẽ lập tức giúp và gửi lệnh cho bạn xem nội dung của www của mình đó. Proxy của Hà Nội sẽ tưởng rằng địa chỉ của máy cá nhân này là địa chỉ vô hại. Đây là điều rất khó cấm đoán. Thứ nhất, đây là tập hợp của hàng triệu máy điện toán và địa chỉ của mỗi máy (IP address) đổi từng giây từng phút, không thể kiểm soát nổi. Thứ hai, cả triệu máy điện toán được tập hợp của toàn thế giới, VN sẽ phải bó tay vì không thể biết hết ai là ai. Vấn đề này y hệt như những gì đã sảy ra cho kỹ nghệ âm nhạc và phim của Hoa Kỳ, khi các chương trình nổi tiếng như Napster, Kazaar, AudioGalaxy, Morpheus, và iMesh đã dùng hàng triệu máy trên thế giới để trao đổi dữ liệu nhạc và phim. Hai chương trình Peekabooty ( www.peek-a-booty.org ) và Six/Four ( www.hacktivismo.com ) đã được ra đời trong năm 2002. Bạn hãy theo dõi và thu thập.

Trang internet nằm trong Thư Điện Tử - Webmailer

Kỹ thuật thư điện tử này rất khác với 3 cách trên. Thư điện tử sẽ giúp bạn coi trang internet bị cấm trong thư email của bạn. Dùng một địa chỉ điện thư miễn phí như Yahoo hoặc Hotmail, bạn ghi địa chỉ muốn coi vô phần Subject: và gửi tới một địa chỉ dịch vụ internet miễn phí www.web2mail.com. Sau đó, dịch vụ này sẽ gửi trang internet mà bạn muốn coi tới hộp thư điện tử của bạn. Người khác không thể kiểm soát nổi cách này vì không thể nào chặn được hộp thư miễn phí của Yahoo hoặc Hotmail. Với dịch vụ này, bảo đảm bạn sẽ được coi các trang bị bức tường lửa cấm, nhưng bạn phải kiên nhẫn đợi cho dịch vụ gửi lại trang internet, có thể đợi 10 phút hoặc một ngày sau.
_________________

Những mánh khoé sử dụng Internet!!!

Vì vậy, các bạn nên dùng địa chỉ như Hotmail hoặc Yahoo. Vì không ai có thể chặn những dịch vụ hộp thư điện tử miễn phí này (thư của bạn có thể bị người khác mở ra đọc). Khi tôi sử dụng Yahoo hoặc Hotmail, người khác không đọc được hộp thư của tôi? Sai, tất cả giao thông của xa lộ internet vào Việt Nam phải qua cổng Hà Nội. Yahoo và Hotmail không mã hóa làn thông tin email. Vì vậy có người có thể mở thấy được thư của bạn. Để an toàn, bạn có thể làm một hộp thư dùng riêng nhưng không có tin tức thật về bạn.

Như vậy có cách nào để không ai đọc được thư điện tử của tôi không?

Nếu bạn không muốn ai đọc email của bạn, bạn hãy sử dụng kỹ thuật mã hóa gọi là encryption. PGP Encryption ( www.pgpi.org ) sẽ giúp bạn sử dụng kỹ thuật này nếu xài đúng cách. Nhưng trang internet này cũng hơi khó sử dụng. Cho nên cách thứ 2 là tới trang www.hushmail.com để đăng ký sử dụng. Cách này an toàn khi cả hai, người gửi lẫn người nhận, đều dùng www.hushmail.com.

Làm sao đây? Tôi muốn tẩy xóa dấu vết của tôi sau khi xài internet tại quán café? Đúng vậy, bạn có thể tẩy xóa dấu vết của bạn khi đã xài internet khi bạn dùng Internet Explorer. Để cho người quản lý khỏi được quyền quản lí quyền tự do của bạn, hãy bấm vô chữ Tools / Internet Options. Bấm vô nút "Delete all offline content" và sau đó, "Delete Files", rồi "OK". Nếu thấy nút "Delete Cookies" hãy bấm vô nút đó luôn. Sau đó, bấm vô "Settings" rồi bấm vô "View Files". Nếu mà còn một số file trong đây, bạn bấm Ctrl-A để chọn tất cả rồi bấm nút Delete trên bàn phím. Như vậy bạn đã xóa đi rất nhiều vết chân lang thang trên internet. Cho chắc ăn, bạn cũng có thể bấm nút "Clear History" và bấm "OK". Bây giờ, bấm vô nút "Content" và sau đó vô nút "AutoComplete". Sau đó bấm vô nút "Clear Forms" và "Clear Passwords" để xóa tất cả mọi ô mật mã. Chúc may mắn.

Còn tự gửi địa chỉ của những trang internet bị cấm đến với hộp thư Yahoo hoặc Hotmail của chính tôi. Làm như vậy thì lệnh truy cập của tôi qua Yahoo hoặc Hotmail chứ không phải proxy Hà Nội phải không? Sai. Nhưng đây là ý rất hay. Khi tác giả thử phương pháp này tại Việt Nam, phương pháp đã không hiệu nghiệm. Lý do là sao? Bởi vì proxy Hà Nội cũng có thể đánh hơi được nội dung của trang internet và bức tường lửa sẽ hoạt động trở lại.

Khi dùng những chương trình chat như AOL Instant Messeger (AIM) hoặc mIRC, nhà nước không kiểm soát nổi? Sai. Nhà nước không có chặn khi bạn chat, nhưng có thể thấy những gì bạn viết.

Nhiều quán internet café dựng nên một trang chính giúp bạn truy cập những trang như Hotmail và Yahoo cho nhanh chóng. Nguy hiểm không? Vấn đề là, những trang chính có thể giữ lại tên và mật mã của bạn, nên họ có thể vô lại hộp thư điện tử của bạn. Nên coi chừng.

Và đây là 1 số giải pháp của Vidu giúp bạn đọc trong nước vượt tường lửa: sử dụng kỹ thuật RSS (Really Simple Syndication), một kỹ thuật trao đổi thông tin nhanh trên Internet, với địa chỉ có nhúng sẳn địa chỉ của những proxy mới. Sau đó nối RSS vào Google, Yahoo, hay bất cứ một trang web có dịch vụ đọc tin RSS nào. Trách nhiệm tìm kiếm proxy sẽ thuộc về Vidu. Bạn đọc vào Google, Yahoo để đọc trang web Vidu.

1. Với Google

Gõ, hoặc cát dán, vào duyệt trình IE địa chỉ sau:

http://www.google.com/reader/preview/*/feed/http://Vidu.com/rss

Trên duyệt trình IE, bạn đọc sẽ thấy hiện lên một mục lục của những bài viết mới nhất trên DCVOnline. Khi bấm lên những tựa đề trong mục lục này, bạn đọc sẽ tự động được dẫn đến trang web qua một proxy đã nhúng sẵn trong các links.

2. Với Yahoo

Tương tự, gõ, hoặc cắt dán, vào duyệt trình IE địa chỉ:

Code:http://add.my.yahoo.com/rss?url=http://Vidu.com/rss

3. Ngoài ra, bạn đọc có thể dùng địa chỉ RSS của Vidu, http://vidu.com/rss, với các trang web có dịch vụ đọc tin RSS thông dụng như MSN (www.msn.com), Bloglines (www.bloglines.com), v.v…

Các proxy có thể bị tường lửa ngăn chặn và phải thay đổi nhưng các địa chỉ đến Vidu qua Google hoặc Yahoo ở trên sẽ không thay đổi. Điều bất tiện còn lại là bạn đọc phải “thuộc lòng” các địa chỉ này. Cách tiện lợi nhất để ghi nhớ các địa chỉ này là bằng cách bấm lên “Favorites”, “Add to Favorites” trên IE để đưa các địa chỉ này vào danh sách những website ưa thích của mình.


nay em xin trình bày một phương pháp vượt tường lửa nhanh, rẻ và an toàn mà em vẫn thường sử dụng. Nhanh vì không phải cấu hình lằng nhằng, rẻ vì miễn phí, an toàn vì có mã hoá: đó là proxy https.
đây là một số Https ổn định nhất, nếu trong khi dùng mà bị gián đoạn thì chuyển sang cái tiếp theo, nhưng nói chung trường hợp này hãn hữu:

https://tong.ziyoulonglive.com/dmirror/
https://www.bejing163.com/dmirror/
https://w8.coopsdomain.com/dmirror/

Còn đây là một số proxy vét đĩa:

https://www1.chao168.com/dmirror/
https://w8.db-systems.nl/dmirror/
https://w8.ccnwebsite.com/dmirror/
https://u1.horizonnewspaper.com/dmirror/
https://u1.craigsmusichut.com/dmirror/
https://www1.way2005.org/dmirror/
https://www1.yun2005.net/dmirror/
https://w8.clasa.net/dmirror/
https://w8.coteyr.net/dmirror/
https://u1.seeneed.com/dmirror/
https://w8.clell.com/dmirror/
https://w8.chickenkiller.com/dmirror/

Bi giờ em thí dụ là trang www.vidu.net bị firewall chẳng hạn, các bác lưu ý: địa chỉ đầy đủ của nó là http://www.vidu.net nhá

Muốn xem trang đó thì chỉ cần:
-Chọn lấy một proxy, vd https://tong.ziyoulonglive.com/dmirror/
-Thay http:// thành http/ để http://www.vidu.net biến thành http/www.vidu.net
-Dán vào proxy, trở thành https://tong.ziyoulonglive.com/dmirror/http/www.vidu.net
-Chép lên thanh address, gõ Enter, OK 2 lần.
-Xong.

Nếu các bác muốn download một file nào đó từ trang web ykien.net chẳng hạn như file https://tong.ziyoulonglive.com/dmirror/http/www.vidu.net/abc.zip chẳng hạn, thì phải:

-Một là biến cái dòng loằng ngoằng trên thành địa chỉ thật của nó là http://www.vidu.net/abc.zip, sau đó dùng Flashget tải về.
-->Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tường lửa mạnh đến nỗi có thể chặn được cả quy trình tải file, các bác sẽ 0 tải được gì.
-Lúc đó thì phải:
+Download chương trình NETTransport từ www.xi-soft.com
+Cài đặt.
+Dùng nó mà tải về.
Em cũng khuyến cáo các bác dùng Net Trans thay cho FlashGet vì nó hỗ trợ tất tần tật từ HTTP, HTTPS, FPT cho đến NMN, RTSP (của file REAL), trong khi FG chỉ hỗ trợ mỗi HTTP; NET Trans cũng có chế độ chia mảnh như Flashget, tối đa 10 mảnh, tốc độ nhanh hơn flashget.
Dùng NET trans có thể tải được cả file REAL, bình thường thì các bác phải nghe trực tuyến, phải không ạ? Bây giờ chỉ mất 5 phút là các bác đã có thể ôm trọn bộ BBC, VOA mang về nhà nghe cho đỡ tốn.
Cách làm như sau: Mở NETTrans, bấn phím Insert, lần lượt tải những file sau đây:

http://www.voanews.com/real/voa/eap/viet/viet2230a.ram
http://www.voanews.com/real/voa/eap/viet/viet1500a.ram
http://www.voanews.com/real/voa/eap/viet/viet1300a.ram
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/meta...2300_au_nb.ram
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/meta...1430_au_nb.ram

Sau khi tải về sẽ được 10 file trong đó có 5 file đuôi RAM, dung lượng 1kb, xoá đi, còn lại 5 file đuôi RM thì dùng REAL hay Media Player Classic để nghe.

Dùng proxy HTTPS rất an toàn vì được mã hoá, ngoại trừ máy của chính các bác ra không có máy nào đọc được, các bác cảnh nhà ta sẽ không làm gì nổi. Hè hè.

Các bác nếu dùng email thì nên chọn gmail vì có chế độ bảo mật SSL, dùng Thunderbird Portable tải về đọc tại gia, nếu cẩn thận hơn nữa thì kiếm cái Hide IP Platinum giấu địa chỉ IP của mình đi cho ăn chắc.
_________________
dùng 3 thằng proxy này, trang nào cũng vào được, kể cả trang không tường lửa

1. http://www.unipeak.net

2.http://www.shadowbrowser.com/?pin=trial

3. Tên trang này kêu nhất
http://www.hidemyass.com/

http://www.hocquantrimang.net/forum/showthread.php?t=421

Firewall + Phương pháp của Hacker + Cách phòng chống

1. Tổng quan về tường lửa :

- Theo tớ được biết thì hiện nay trên thị trường có 2 loại tường lửa : ủy nhiệm ứng dụng(application proxies) và cổng lọc gói tin ( packet filtering getways ).

2. Nhận dạng tương lửa

-Hầu hết thì các tường lửa thường có 1 số dạng đặc trưng, chỉ cần thực hiện một số thao tác như quét cổng và firewalking và lấy banner (thông tin giới thiệu-tiêu đề ) là hacker có thể xác định được loại tường lửa, phiên bản và quy luật của chúng.

-Theo các bạn thì tại sao nhận dạng tường lửa lại quan trọng ? và câu trả lời là
Bởi nếu như đã biết được các thông tin đích xác về tường lửa và cách khai thác những điểm yếu này .

a. Quét trực tiếp - kỹ thuật lộ liễu
+ Cách tiến hành
-Một cách đơn giản nhất để tìm ra tường lửa là quét các cổng mặc định. Theo tớ được biết thì một vài tường lửa trên thị trường tự nhận dạng mình bằng việc quét cổng - ta chỉ cần biết những cổng nào cần quét . Ví dụ như Proxy Sever của Microsoft nghe các cổng TCP 1080 va 1745 etc..

Như vậy để tìm tường lửa ta sử dụng nmap đơn giản như sau :

Nmap -n -vv -p0 -p256,1080,1745 192.168.50.1 -60.250

Từ những kẻ tấn công vụng về cho đến những kẻ sành sỏi đều dùng phương pháp quét diện rộng đối với mạng làm việc của bạn để nhận diện tường lửa.Tuy nhiên , những hacker nguy hiểm sẽ tiến hành công việc quét càng thầm lặng , càng kín đáo càng tốt . Các hacker có thềdung nhiều kĩ thuật để thoát khỏi sự phát hiện của chúng ta bao gồm ping ngẫu nhiên ... Các hệ thống dò xâm nhập ( IDS - Intruction Detection System ) không thể phát hiện những hành động quét cổng áp dụng những kĩ thuật tinh vi để lẩn tránh bởi chúng được ngầm định lập cấu hình chỉ để nghe những hành động quét cổng lộ liễu nhất mà thôi .

Trừ khi chúng ta có những thiết lập đúng đắn cho IDS , nếu không việc quét cổng sẽ diễn ra rất âm thầm và nhanh chóng. Chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra những hành vi quét cổng như vậy khi sử dụng những đoạn script có sẵn trên nhiều trang web như :
www.hackingexposed.com

*** Cách đối phó ***
Nếu các bồ dùng RealSecure 3.0 thì có thể làm như sau:

-Để RealSecure 3.0 có thể phát hiện ra các hành vi quét cổng , chúng ta cần phải nâng cao tính nhạy cảm của nó , có thể sử dụng những thay đổi sau :
- Chọn Network Engine Policy
- Tìm "Port Scan " và chọn nút Options
- Sửa Ports thành 5 ports
- Sửa Delta thành 60 seconds

- Để ngăn chặn việc quét cổng tường lửa từ Internet ta cần phải khóa các cổng này ở những router đứng trước Firewall.Trong trường hợp những thiết bị này do ISP quản lý, ta phải liên hệ với họ.

b. Lần theo tuyến (Route tracking )-
Sử dụng chương trình traceroute để nhận diện tương lửa trên một mạng làm việc là một phương pháp âm thầm và không khéo hơn. Chúng ta có thể sử dụng traceroute trên môi trường UNIX và tracert.exe trên môi trường Windows NT để tìm đường đến mục tiêu. Traceroute của LINUX có khóa lựa chọn -I để thực hiện việc lần theo tuyến bằng cách gửi đi các gói ICMP

[vtt]$ traceroute -I 192.168.51.100
traceroute to 192.168.51.101 (192.168.51.100), 30 hops max, 40 byte packages
1 attack-gw (192.168.50.21) 5.801 ms 5.105 ms 5.445 ms
2 gw1.smallisp.net (192.168.51.1)
....
15 192.168.51.101 (192.168.51.100)


3.Lấy banner (banner grabbing)

- Quét cổng là một biện pháp rất hiệu quả trong việc xác định firewall nhưng chỉ có Checkpoint và Microsoft nghe trên các cổng ngầm định , còn hầu hết các tường lửa thì không như vậy , do đó chúng ta cần phải suy diễn thêm . Nhiều tường lửa phổ biến thường thông báo sự có mặt của mình mỗi khi có kết nối tới chúng.Bằng việc kết nối tới một địa chỉ nào đó,ta có thể biết được chức năng hoạt động , loại và phiên bản tương lửa. Ví dụ khi chúng ta dùng chương trình netcat để kết nối tới một máy tính nghi nghờ có tường lửa qua cổng 21( F b sờ tê) ta có thể thấy một số thông tin thú vị như sau :
c:\>nc -v -n 192.168.51.129 21
(unknown) [192.168.51.129] 21 (?) open
220 Secure Gateway FTP sever ready

-Dòng thông báo (banner) "Secure Gateway FTP sever ready" là dấu hiệu của một loại tường lửa cũ của Eagle Raptor. Để chắc chắn hơn chúng ta có thể kết nối tới cổng 23 (telnet) :
C:\>nc -v -n 192.168.51.129 23
(unknown) [192.168.51.129] 23 (?) open
Eagle Secure Gateway.
Hostname :

-Cuối cùng nếu vẫn chưa chắc chắn ta có thể sử dụng netcat với cổng 25(SMTP)

C:\>nc -v -n 192.168.51.129 25
(unknown) [192.168.51.129] 25 (?) open
421 fw3.acme.com Sorry, the firewall does not provide mail service to you

-Với những thông tin và giá trị thu thập được từ banner,hacker có thể khai thác các điểm yếu của Firewall( đã dc phát hiện ra từ trước ) để tấn công .

Cách đối phó -
Theo tớ hiểu thì để đối phó thì chugns ta cần phải giảm thiểu thông tin banner, điều này phụ thuộc rất nhiều vào các nhà cung câp firewall. Ta có thể ngăn chặn việc bị lộ quá nhiều thông tin tường lửa bằng cách thường xuyên sủa đổi các file cấu hình banner. Điều này thì các bạn nên tham khảo thêm từ các nhà cung cấp dịch vụ.

4.Nhận diện cổng (port identification)

Một vài firewall có "dấu hiệu nhận dạng " có thể được dùng để phân biệt với các loại tường lửa khác bằng cách hiện ra một sẻi các con số .Ví dụ như CheckPoint Firewall khi ta kết nối tới cổng TCP 257 quản lý SNMP. Sự hiện diện của các cổng từ 256 tới 259 trên hệ thống chính là dấu hiệu báo trước sự có mặt của CheckPoint Firewall-1 , ta có thể thử như sau:

[vtt]# nc -v -n 192.168.51.1 257
(unknown) [192.168.51.1] 257 (?) open
30000003


[vtt]# nc -v -n 172.29.11. 191 257
(unknown) [172.29.11. 191] 257 (?) open
30000000

http://www.hocquantrimang.net/forum/showthread.php?t=395

Tổng quan về Firewall

Firewall là gì ?
Thuật ngữ Firewall có nguồn gốc từ một kỹ thuật thiết kế trong xây dựng để ngăn chặn, hạn chế hỏa hoạn. Trong công nghệ thông tin, Firewall là một kỹ thuật được tích hợp vào hệ thống mạng để chống sự truy cập trái phép, nhằm bảo vệ các nguồn thông tin nội bộ và hạn chế sự xâm nhâp không mong muốn vào hệ thống. Firewall được miêu tả như là hệ phòng thủ bao quanh với các “chốt” để kiểm soát tất cả các luồng lưu thông nhập xuất. Có thể theo dõi và khóa truy cập tại các chốt này.

Các mạng riêng nối với Internet thường bị đe dọa bởi những kẻ tấn công. Để bảo vệ dữ liệu bên trong người ta thường dùng firewall. Firewall có cách nào đó để cho phép người dùng hợp đi qua và chặn lại những người dùng không hợp lệ.
Firewall có thể là thiết bị phần cứng hoặc chương trình phần mềm chạy trên host bảo đảm hoặc kết hợp cả hai. Trong mọi trường hợp, nó phải có ít nhất hai giao tiếp mạng, một cho mạng mà nó bảo vệ, một cho mạng bên ngoài. Firewall có thể là gateway hoặc điểm nối liền giữa hai mạng, thường là một mạng riêng và một mạng công cộng như là Internet. Các firewall đầu tiên là các router đơn giản.

Chức năng của Firewall
Chức năng chính của Firewall là kiểm soát luồng thông tin từ giữa Intranet và Internet. Thiết lập cơ chế điều khiển dòng thông tin giữa mạng bên trong (Intranet) và mạng Internet.
• Cho phép hoặc cấm những dịch vụ truy cập ra ngoài.
• Cho phép hoặc cấm những dịch vụ từ ngoài truy cập vào trong.
• Theo dõi luồng dữ liệu mạng giữa Internet và Intranet
• Kiểm soát địa chỉ truy nhập, cấm địa chỉ truy nhập
• Kiểm soát người sử dụng và việc truy cập của người sử dụng. Kiểm soát nội dung thông tin lưu chuyển trên mạng.
Một firewall khảo sát tất cả các luồng lưu lượng giữa hai mạng để xem nó có đạt chuẩn hay không. Nếu nó đạt, nó được định tuyến giữa các mạng, ngược lại nó bị hủy. Một bộ lọc firewall lọc cả lưu lượng ra lẫn lưu lượng vào. Nó cũng có thể quản lý việc truy cập từ bên ngoài vào nguồn tài nguyên mạng bên trong. Nó có thể được sử dụng để ghi lại tất cả các cố gắng để vào mạng riêng và đưa ra cảnh báo nhanh chóng khi kẻ thù hoặc kẻ không được phân quyền đột nhập. Firewall có thể lọc các gói dựa vào địa chỉ nguồn, địa chỉ đích và số cổng của chúng. Điều này còn được gọi là lọc địa chỉ. Firewall cũng có thể lọc các loại đặc biệt của lưu lượng mạng. Điều này được gọi là lọc giao thức bởi vì việc ra quyết định cho chuyển tiếp hoặc từ chối lưu lượng phụ thuộc vào giao thức được sử dụng, ví dụ HTTP, FTP hoặc Telnet. Firewall cũng có thể lọc luồng lưu lượng thông qua thuộc tính và trạng thái của gói.
Một số firewall có chức năng thú vị và cao cấp, đánh lừa được những kẻ xâm nhập rằng họ đã phá vỡ được hệ thống an toàn. Về cơ bản, nó phát hiện sự tấn công và tiếp quản nó, dẫn dắt kẻ tấn công đi theo bằng tiếp cận “nhà phản chiếu” (hall of mirrors). Nếu kẻ tấn công tin rằng họ đã vào được một phần của hệ thống và có thể truy cập xa hơn, các hoạt động của kẻ tấn công có thể được ghi lại và theo dõi.
Nếu có thể giữ kẻ phá hoại trong một thời gian, người quản trị có thể lần theo dấu vết của họ. Ví dụ, có thể dùng lệnh finger để theo vết kẻ tấn công hoặc tạo tập tin “bẫy mồi” để họ phải mất thời gian truyền lâu, sau đó theo vết việc truyền tập tin về nơi của kẻ tấn công qua kết nối Internet.

Nguyên lý hoạt động của Firewall
Firewall hoạt động chặt chẽ với giao thức TCP/IP, vì giao thức này làm việc theo thuật tón chia nhỏ các dữ liệu nhận được từ các ứng dụng trên mạng, hay nói chính xác hơn là các dịch vụ chạy trên các giao thức (Telnet, SMTP, DNS, SMNP, NFS …) thành các gói dữ liệu (data packets) rồi gán cho các packet này những địa chỉ có thể nhận dạng, tái lập lại ở đích cần gửi đến, do đó các loại Firewall cũng liên quan rất nhiều đến các packet và những con số địa chỉ của chúng.
Bộ lọc packet cho phép hay từ chối mỗi packet mà nó nhận được. Nó kiểm tra toàn bộ đoạn dữ liệu để quyết định xem đoạn dữ liệu đó có thỏa mãn một trong số các luật lệ của lọc packet hay không. Các luật lệ lọc packet này là dựa trên các thông tin ở đầu mỗi packet (header), dùng để cho phép truyền các packet đó ở trên mạng. Bao gồm:
• Địa chỉ IP nơi xuất phát (Source)
• Địa chỉ IP nơi nhận ( Destination)
• Những thủ tục truyền tin (TCP, UDP, ICMP, IP tunnel …)
• Cổng TCP/UDP nơi xuất phát
• Cổng TCP/UDP nơi nhận
• Dạng thông báo ICMP
• Giao diện packet đến
• Giao diện packet đi
Nếu packet thỏa các luật lệ đã được thiết lập trước của Firewall thì packet đó được chuyển qua, nếu không thỏa thì sẽ bị loại bỏ. Việc kiểm soát các cổng làm cho Firewall có khả năng chỉ cho phép một số loại kết nối nhất định được phép mới vào được hệ thống mạng cục bộ. Cũng nên lưu ý là do việc kiểm tra dựa trên header của các packet nên bộ lọc không kiểm soát được nội dụng thông tin của packet. Các packet chuyển qua vẫn có thể mang theo những hành động với ý đồ ăn cắp thông tin hay phá hoại của kẻ xấu. Trong các phần sau chúng ta sẽ cùng tìm hiểu các kỹ thuật để vượt tường lửa.

Firewall trong các mô hình mạng OSI và TCP/IP
Firewall hoạt động ở các lớp khác nhau sử dụng các chuẩn khác nhau để hạn chế lưu lượng. Lớp thấp nhất mà firewall hoạt động là lớp 3. Trong mô hình OSI đây là lớp mạng. Trong mô hình TCP/IP đây là lớp IP (Internet Protocol). Lớp này có liên quan tới việc định tuyến các gói tới đích của chúng. Ở lớp này, một firewall có thể xác định rằng một gói từ một nguồn đáng tin cậy, nhưng không xác định gói chứa những gì. Ở lớp transport, firewall biết một ít thông tin về gói và có thể cho phép hoặc từ chối truy cập dựa vào các tiêu chuẩn. Ở lớp ứng dụng, firewall biết nhiều về những gì đang diễn ra và có sự lựa chọn trong việc gán quyền truy cập.

IP spoofing (sự giả mạo IP)
Nhiều firewall nghiên cứu các địa chỉ IP nguồn của các gói để xác nhận nếu chúng hợp lý. Một firewall có thể cho phép luồng lưu thông nếu nó đến từ một host đáng tin cậy. Một cracker giả mạo địa chỉ IP nguồn của các gói gửi tới firewall. Nếu firewall nghĩ rằng các gói đến từ một host tin cậy, nó có thể cho chúng đi qua trừ khi một vài chuẩn khác không thỏa. Tất nhiên cracker muốn tìm hiểu về luật của firewall để khai thác vào điểm yếu này.
Một biện pháp hiệu quả chống lại sự giả mạo IP là việc sử dụng giao thức mạng riêng ảo (Virtual Private Network - VPN) như là IPSec. Biện pháp này đòi hỏi việc mã hóa dữ liệu trong các gói cũng như địa chỉ nguồn. Phần mềm hoặc phần sụn VPN giải mã gói và địa chỉ nguồn để tiến hành một cuộc kiểm tra (checksum). Nếu cả dữ liệu lẫn địa chỉ nguồn đã bị giả mạo thì gói sẽ bị hủy.

IPSec
IPSec có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề mà chúng ta cố giải quyết nó với firewall.
IPSec (IP Security) đề ra một tập các chuẩn được phát triển bởi Internet Engineering Tast Force (IETF). IPSec giải quyết hai vấn đề gây hại cho bộ giao thức IP: Sự xác thực host-to-host (cho các host biết là chúng đang nói chuyện với nhau mà không phải là sự giả mạo) và việc mã hóa (ngăn chặn những kẻ tấn công xem dữ liệu trong luồng lưu lượng giữa hai máy).
Đây là các vấn đề mà firewall cần giải quyết. Mặc dù firewall có thể làm giảm nguy cơ tấn công trên Internet mà không cần sự xác thực và mã hóa, nhưng vẫn còn hai vấn đề lớn ở đây: tính toàn vẹn và sự riêng tư của thông tin đang truyền giữa hai host và sự giới hạn trong việc đặt ra các loại kết nối giữa các mạng khác nhau. IPSec giúp giải quyết các vấn đề này.
Có vài khả năng đặc biệt khi chúng ta xem xét sự kết hợp giữa các firewall với các host cho phép IPSec. Cụ thể là, VPN, việc lọc gói tốt hơn (lọc những gói mà có tiêu đề xác thực IPSec), và các firewall lớp ứng dụng sẽ cung cấp sự xác minh host tốt hơn bằng cách sử dụng tiêu đề xác thực IPSec thay cho “just trusting


http://www.hocquantrimang.net/forum/showthread.php?t=244