Hiển thị các bài đăng có nhãn Security. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Security. Hiển thị tất cả bài đăng

11 thg 5, 2008

Firewall - Attack and defense

I. Tổng quan bức tường lửa

Hai kiểu bức tường lửa đang thống lĩnh thị trường hỉện nay: hệ giám quản ứng dụng (application proxies) và cổng lọc gói tin (packet filtering gateway). Tuy các hệ giám quản ứng dụng được xem là an ninh hơn cổng lọc gói tin, song bản chất hạn hẹp và các hạn chế khả năng vận hành của chúng đã giới hạn chúng vào luồng lưu thông đi ra công ty thay vì luồng lưu thông đi vào serverweb của công ty . mặt khác, trong nhiều tổ chức lớn có các yêu cầu khả năng vận hành cao.
Nhiều người tin rằng hiện chưa xuất hiện bức tường lửa hoàn hảo , nhưng tương lai đầy sán lạng. Một số hăng kinh doanh nh Network Associates Inc. (NAI), AXENT, Internet Dynamics, và Microsoft đã phát triển công nghệ cung cấp tính năng bảo mật ủy nhiệm với khả năng vận hành của công nghệ lọc gói tin (một dạng lai ghép giữa hai công nghệ),song vẫn chưa hoàn thiện .
Suốt từ khi bức tường lửa đầu tiên được cài đặt, các bức tường lửa đã bảo vệ vô số mạng tránh được những cặp mắt tò mò và bọn phá hoại nhưng còn lâu chúng mới trở thành phương thuốc trị bách bệnh bảo mật. Các chỗ yếu bảo mật đều được phát hiện hàng năm với hầu như mọi kiểu bức tường lửa trên thị trường.Tệ hại hơn, hầu hết các bức tường lửa thường bị cấu hình sai, không bảo trì, và không giám sát, ngưỡng cửa mở toang.

Nếu không phạm sai lầm, một bức tường lửa được thiết kế, cấu hình, và bảo trì kỹ lưỡng hầu như không thể đột nhập. Thực tế, hầu hết các kẻ tấn công có tay nghề cao đều biết điều này và sẽ đơn giản tránh vòng qua bức tường lửa bằng cách khai thác các mối quan hệ tin tưởng (trust relationships) và các chỗ yếu bảo mật nối kết lỏng lẻo nhất, hoặc tránh nó hoàn toàn bằng cách tấn công qua một tài khoản quay số.

Ðiểm căn bản: hầu hết attacker dồn mọi nỗ lực để vòng qua một bức tường lửa mạnh - mục tiêu ở đây là tạo một bức tường lửa mạnh.
Với tư cách là điều hành viên bức tường lửa, ta biết rõ tầm quan trọng của việc tìm hiểu kẻ địch. Nắm được các bước đầu tiên mà một attacker thực hiện để bỏ qua các bức tường lửa sẽ giúp bạn rất nhiều trong việc phát hiện và phản ứng lại một cuộc tấn công. Chương này sẽ hướng dẫn bạn qua các kỹ thuật thường dùng hiện nay để phát hiện và điểm danh các bức tường lửa, đồng thời mô tả vài cách mà attacker gắng bỏ qua chúng. Với từng kỹ thuật, ta sẽ tìm hiểu cách phát hiện và ngăn chặn các cuộc tấn công.

II. Ðịnh danh các bức tường lửa

Hầu hết mọi bức tường lửa đều mang một "mùi hơng" điện tử duy nhất. Nghĩa là, với một tiến trình quét cổng, lập cầu lửa, và nắm giữ biểu ngữ đơn giản, bọn tấn cô ng có thể hiệu quả xác định kiểu, phiên bản, và các quy tắc của hầu hết mọi bức tường lửa trên mạng. Tại sao việc định danh này lại quan trọng? Bởi vì một khi đã ánh xạ được các bức tường lửa, chúng có thể bắt đầu tìm hìểu các điểm yếu và gắng khai thác chúng.

1. Quét trực tiếp : Kỹ thuật Noisy

Cách dễ nhất để tìm kiếm các bức tường lửa đó là quét các cổng ngầm định cụ thể. Một số bức tường lửa trên thị trường sẽ tự định danh duy nhất bằng các đợt quét cổng đơn giản bạn chỉ cần biết nội dung tìm kiếm.
Ví dụ, Firewall-1 của Check point lắng chờ trên các cổng TCP 256, 257, 258, và Proxy Server của Microsoft thường lắng chờ trên các cổng TCP 1080 và 1745. Với sự hiểu biết này, quá trình tìm kiếm các kiểu bức tường lửa này chẳng có gì khó với một bộ quét cổng như nmap:

Code:

# nmap -n -vv -P0 -p256,1080,1745 192.168.50.1 - 60.254


Dùng khóa chuyển -PO để vô hiệu hóa tính năng ping ICMP trước khi quét. Ðiều này quan trọng bởi hầu hết bức tường lửa không đáp ứng các yêu cầu dội ICMP.
Cả attacker nhút nhát lẫn hung bạo đều tiến hành quét rộng rãi mạng của bạn theo cách này, tìm kiếm các bức tường lửa này và tìm kiếm mọi khe hở trong két sắt vành đai của bạn. Nhưng attacker nguy hiểm hơn sẽ lùng sục vành đai của bạn càng lén lút càng tốt. Có nhiều kỹ thuật mà attacker có thể sử dụng để hạ sập radar của bạn, bao gồm ngẫu nhiên hóa các ping, các cổng đích, các địa chỉ đích, và các cổng nguồn;dùng các server cò mồi; và thực hiện các đợt quét nguồn có phân phối.
Nếu cho rằng hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS) của bạn như RealSecure của Internet Security Systems hoặc SessionWall-3 của Abirnet sẽ phát hiện attacker nguy hiểm này, bạn nên suy nghĩ lại.
Hầu hết các IDS đều ngầm định cấu hình để chỉ nghe các đợt quét cổng ngu đần và ồn ào nhất. Trừ phi bạn sử dụng IDS nhanh nhạy và tinh chỉnh các ký danh phát hiện, hầu hết các cuộc tấn công sẽ hoàn toàn làm ngơ. Bạn có thể tạo một đợt quét ngẫu nhiên hóa nh vậy bằng cách dùng các ký mã Perl cung cấp trên chuyên khu web www.osborne.com/hacking .

Các biện pháp phòng chống

Bạn cần phong tỏa các kiểu quét này tại các bộ định tuyến biên hoặc dùng một kiểu công cụ phát hiện đột nhập nào đó miễn phí hoặc thương mại. Mặc dù thế, các đợt quét cổng đơn lẻ sẽ không đợc thu nhặt theo ngầm định trong hầu hết các IDS do đó bạn phải tinh chỉnh độ nhạy cảm của nó trước khi có thể dựa vào tính năng phát hiện.

Phát Hiện

Ðể chính xác phát hiện các đợt quét cổng bằng tính năng ngẫu nhiên hóa và các server cò mồi, bạn cần tinh chỉnh từng lý danh phát hiện quét cổng. Tham khảo tài liệu hướng dẫn sử dụng của hãng kinh doanh IDS để biết thêm chi tiết.
Nêu muốn dùng RealSecure 3.0 để phát hiện tiến trình quét trên đây, bạn ắt phải nâng cao độ nhạy cảm của nó theo các đợt quét cổng đơn lẻ bàng cách sửa đổi các tham số của ký danh quét cổng. Bạn nên thay đổi các nội dung dới đây để tạo độ nhạy cảm cho quét này:


1. Lựa và tùy biến (Customize) Network Engine Policy.
2. Tìm "Port Scan" và lựa tùy chọn Options.
3. Thay đổi ports thành 5 cổng.
4. Thay đổi Delta thành 60 giây.

Nếu đang dùng Firewall-l với UNIX, bạn có thể dùng trình tiện ích của Lance Spitzner để phát hiện các đợt quét cổng Firewall-1 www.enteract.com/~lspitz/intrusion.html. Ký mã alert.sh của ng sẽ cấu hình Check point để phát hiện và giám sát các đợt quét cổng và chạy một User Defined Alert khi đợc ứng tác.

Phòng Chống

Ðể ngăn cản các đợt quét cổng bức tường lửa từ Internet, bạn cần phong tỏa các cổng này trên các bộ định tuyến đứng trước các bức tường lửa. Nếu các thiết bị này do ISP quản lý, bạn cần liên hệ với họ để tiến hành phong tỏa. Nếu tự bạn quản lý chúng, bạn có thể dùng các Cisco ACL dớí đây để phong tỏa rõ rệt các đợt quét đã nêu trên đây:
Code:

access - list 101 deny tcp any any eq 256 log ! Block Firewall-l scans access - list 101 deny tcp any any eq 257 log ! Block Firewall-l scans access - list 101 deny tcp any any eq 258 log ! Block Firewall-l scans access - list 101 deny tcp any any eq 1080 log ! Block Socks scans access - list 101 deny tcp any any eq 1745 log ! Block Winsock scans


Ghi chú : Nếu phong tỏa các cổng của Check Point (256-258) tại các bộ dịnh tuyến biên, bạn sẽ không thể quản lửa bừc từờng lửa từ lnternet. Ngoài ra, tất cả các bộ định tuyến phải có một quy tắc dọn dẹp (nếu không khước từ các gói tìn
theo ngầm định), sẽ có cùng hiệu ứng nh khi chỉ định các tác vụ khước từ:

access - list 101 deny ip any any log ! Deny and log any packet that got through our ACLs above

2. Rà Tuyến Ðường

Một cách thinh lặng và tinh tế hơn để tìm các bức tường lửa trên một mạng đó là dùng traceroute . Bạn có thể dùng traceroute của UNIX hoặc tracert.exe của NT để tìm từng chặng dọc trên trên đường truyền đến đích và tiến hành suy diễn. Traceroute của Linux có tùy chọn -I, thực hiện rà đường bằng cách gửi các gói tin ICMP, trái với kỹ thuật gói tin UDP ngầm định.

Code:

$ traceroute - I www.yourcompany.com traceroute to www.yourcompany.com ( 172.17.100.2 ) , 30 hops max, 140 byte packets 1 attack-gw ( 192.168.50.21) 5.801 ms 5.105 ms 5.445 ms 2 gw1.smallisp.net ( 192.168.51.l) 3 gw2.smallisp.net ( 192.168.52.2) ..... 13 hssi.bigisp.net ( 10.55.201.2 ) 14 seriall.bigisp.net ( 10.55.202.l) 15 www.yourcompany.com ( 172.29.11.2)


Có cơ may chặng đứng ngay trước đích ( 10.55.202.1) là bức tường lửa, nhưng ta cha biết chắc. Cần phải đào sâu thêm một chút.

Ví dụ trên đây là tuyệt vời nếu các bộ định tuyến giữa bạn và các serverđích đáp ứng các gói tin có TTL hết hạn. Nhưng một số bộ định tuyến và bức tường lửa đợc xác lập để không trả về các gói tin ICMP có TTL hết hạn (từ các gói tin ICMP lẫn UDP). Trong trờng hợp này, sự suy diễn ít khoa học hơn. Tất cả những gì bạn có thể thực hiện đó là chạy traceroute và xem chặng nào đáp ứng cuối cùng, và suy ra đây là một bức tường lửa hoặc chí ít là bộ định tuyến đầu tiên trong đường truyền bắt đầu phong tỏa tính năng tracerouting. Ví dụ, ở đây ICMP đang bị phong tỏa đến đích của nó, và không có đáp ứng nào từ các bộ định tuyến vợt quá client - gw.smallisp.net :

Code:

1 stoneface (192.168.10.33) 12.640 ms 8.367 ms 2 gw1.localisp.net (172.31.10.1) 214.582 ms 197.992 ms 3 gw2.localisp.net (172.31.10.2) 206.627 ms 38.931 ms 4 dsl.localisp.net (172.31.12.254) 47.167 ms 52.640 ms ........ 14 ATM6.LAX2.BIGISP.NET (10.50.2.1) 250.030 ms 391.716 ms 15 ATM7.SDG.BIGISP.NET (10.50.2.5) 234.668 ms 384.525 ms 16 client-gw.smallisp.net (10.50.3.250) 244.065 ms ! X * * 17 * * * 18 * * *


Các Biện Pháp Phòng Chống

Việc chỉnh sửa sự rò rỉ thông tin traceroute đó là hạn chế tối đa các bức tường lửa và bộ định tuyến đáp ứng các gói tin có TTL hết hạn. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng n m dới sự kiểm soát của bạn vì nhiều bộ định tuyến có thể n m dới s điều khiển cúa ISP.
Phát Hiện
Ðể phát hiện các traceroute chuẩn trên biên, bạn cần giám sát các gói tin UDP và ICMP có giá trị TTL là 1. Ðể thực hiện điều này với RealSecure 3.0, bạn bảo đảm đánh dấu TRACE_ROUTE decode name trong Security Events của Network Engine Policy.
Phòng chống
Ðể ngăn cản các traceroute chạy trên biên, bạn có thể cấu hình các bộ định tuyến không đáp ứng các thông điệp TTL EXPI#800000 khi nó nhận một gói tin có TTL là 0 hoặc 1. ACL dới đây sẽ làm việc với các bộ định tuyến Cisco:
Code:

access - list 101 deny ip any any 11 0 ! ttl-exceeded

Hoặc theo lý tởng, bạn nên phong tỏa toàn bộ luồng lu thông UDP không cần thiết tại các bộ định tuyến biên.

3. Nắm Giữ Biểu Ngữ

Kỹ thuật quét tìm các cổng bức tường lừa là hữu ích trong việc định vị các bức tường lửa, nhưng hầu hết các bức tường lửa không lắng chờ trên các cổng ngầm định như Check point và Microsoft, do đó việc phát hiện phải đợc suy diễn. Nhiều bức tường lứa phổ dụng sẽ công bố sự hiện diện của chúng bằng cách đơn giản nối với chúng. Ví dụ , nhiều bức tường lửa giám quản sẽ công bố chức năng cúa chúng với cách một bức tường lửa, và một số sẽ quảng cáo kiểu và phiên bản của chúng. Ví dụ, khi ta nối với một máy được tin là một bức tường lửa bằng netcat trên cổng 21 (FTP ), ta sẽ thấy một số thông tin thú vị :

Code:

C:\TEMP>nc -v -n 192.168.51.129 2 l [UNKNOWN] [ 192.168.5l.129 ] 2 l ( ? ) open 220 Secure Gateway FTP server ready .

Biểu ngữ "Secure Gateway server FTP ready" là một dấu hiệu lộ tẩy của một hộp Eagle Raptor cũ. Việc nối thêm với cổng 23 (telnet) sẽ xác nhận tên bức tường lửa là "Eagle."

Code:

C:\TEMP>nc -v -n 192.168.51.129 23 [UNKNOWN] [ 192.168.5l.129 ] 23 ( ? ) open Eagle Secure Gateway . Hostname :


Và cuối cùng. nếu vẫn chưa bị thuyết phục server của bạn là một bức tường lửa. bạn có thể netcat với cổng 25 ( SMTP ), và nó sê báo cho ban biết nó là gì:

Code:

C:\TEMP>nc -v -n 192.168.51.129 25 [UNKNOWN] [ 192.168.5l.129 ] 25 ( ? ) open 421 fw3.acme.com Sorry, the firewall does not provide mail service to you.

Như đã thấy trong các ví dụ trên đây, thông tin biều ngữ có thể cung cấp các thông tin quý giá cho attacker trong khi định danh các bức tường lửa. Dùng thông tin này, chúng có thể khai thác các chỗ yếu phổ biến hoặc các cấu hình sai chung.

Biện Pháp Phòng Chống

Ðể chỉnh sửa chỗ yếu rò rỉ thông tin này, bạn giới hạn thông tin biểu ngữ quảng cáo. Một biểuu ngữ tốt có thể kèm theo một mục cảnh giác mang tính pháp lý và tất cả mọi nỗ lực giao kết sẽ đợc ghi sổ. Các chi tiết thay đổi cụ thể của các biểu ngữ ngầm định sẽ tùy thuộc nhiều vào bức tường lửa cụ thể, do đó bạn cần liên hệ hãng kinh doanh bức tường lửa.

Phòng Chống

Ðể ngăn cản attacker giành được quá nhiều thông tin về các bức tường lửa từ các biểu ngữ quảng cáo, bạn có thể thay đổi các tập tin cấu hình biểu ngữ. Các khuyến nghị cụ thể thờng tùy thuộc vào hãng kinh doanh bức tường lửa. Trên các bức tường lửa Eagle Raptor, bạn có thể thay đổi các biểu ngữ ftp và telnet bằng cách sửa đổi các tập tin thông báo trong ngày: tập tin ftp.motd và telnet.motd.

4. Kỹ Thuật Phát Hiện Bức tường Lửa Cao Cấp

Nếu tiến trình quét cổng tìm các bức tường lửa trực tiếp, dò theo đường truyền, và nắm giữ biểu ngữ không mang lại hiệu quả, attacker sẽ áp dụng kỹ thuật điểm danh bức tường lửa theo cấp kế tiếp. Có thể suy diễn các bức tường lửa và các quy tắc ACL của chúng bằng cách dò tìm các đích và lu ý các lộ trình phải theo (hoặc không theo) để đến đó.

Suy Diễn Ðơn Giản với nmap

Nmap là một công cụ tuyệt vời để phát hiện thông tin bức tường lửa và chúng t i liên tục dùng nó. Khi nmap quét một hệ chủ, nó không chỉ báo cho bạn biết các cổng nào đang mở hoặc đóng, mà còn cho biết các cổng nào đang bị phong tỏa. Lợng (hoặc thiếu) thông tin nhận đợc từ một đợt quét cổng có thể cho biết khá nhiều về cấu hình của bức tường lửa. Một cổng đã lọc trong nmap biểu hiện cho một trong ba nội dung sau:


• không nhận gói tin SYN/ACK nào.
• không nhận gói tin RST/ACK nào.
• Ðã nhận một thông báo ICMP type 3 (Destination Unreachable ) có một mã 13 (Communication Administratively Prohibited - [RFC1812])

Nmap gom chung cả ba điều kiện này và báo cáo nó dới dạng một cổng "đã lọc." Ví dụ, khi quét www.mycompany.com ta nhận hai gói tin ICMP cho biết bức tường lửa đã phong tỏa các cổng 23 và 111 từ hệ thống cụ thể của chúng ta.
Code:

# nmap -p20, 21, 23, 53, 80, 111 - P0 -vv www.mycompany.com Starting nmap V. 2.08 by Fyodor ( fyodor@dhp.com , www.insecure.org/nmap/ ) Initiating TCP connect ( ) scan agains t ( 172.32.12.4 ) Adding TCP port 53 (state Open) Adding TCP port 111 ( state Firewalled ) Adding TCP port 80 ( state Open) Adding TCP port 23 ( state Firewalled) . Interesting ports on ( 172.17.12.4 ) : port State Protocol Service 23 filtered tcp telnet 53 open tcp domain 80 open tcp http 111 filtered tcp sunrpc

Trạng thái "Firewalled", trong kết quả trên đây, là kết quả của việc nhận một ICMP type 3, mã 13 (Admin Prohibited Filter), như đã gặp trong kết xuất tcpdump:
Code:

23 : 14 : 01.229743 10.55.2.1 > 172.29.11.207 : icmp : host 172.32.12.4 nreachable - admin prohibited filter 23 : 14 : 01.97 9743 10.55.2.l > 172.29.11.207 : icmp : host 172.32.12.4 nreachable - admin prohibited filter


Làm sao để nmap kết hợp các gói tin này với các gói tin ban đầu, nhất là khi chúng chỉ là một vài trong biển cả các gói tin đang ríu rít trên mạng? Vâng, gói tin ICMP đợc gửi trở lại cho máy quét sẽ chứa đựng tất cả các dữ liệu cần thiết để tìm hiều nội dung đang xảy ra. Cổng đang bị phong tỏa là phần một byte trong phần đầu ICMP tại byte 0x41 ( 1 byte), và bức tường lửa lọc gửi thông điệp sẽ n m trong phần IP của gói tin tại byte
0x1b (4 byte).
Cuối cùng, một cổng cha lọc nmap chỉ xuất hiện khi bạn quét một số cổng và nhận trở lại một gói tin RST/ACK. Trong trạng thái "unfiltered", đợt quét của chúng ta hoặc đang đi qua bức tường lửa và hệ đích của chúng ta đang báo cho biết nó không lắng chờ trên cổng đó, hoặc bức tường lửa đang đáp ứng đích và đánh lừa địa chỉ IP của nó với cờ RST/ACK đợc ấn định. Ví dụ, đợt quét một hệ thống cục bộ cho ta hai cổng cha lọc khi nó nhận hai gói tin RST/ACK từ cùng hệ chủ. Sự kiện này cũng có thể xảy ra với một số bức tường lửa nh Check point (với quy tắc REJECT) khi nó đáp ứng đích đang gửi trả một gói tin RST/ACK và đánh lừa địa chỉ IP nguồn của đích. .

Code:

# nmap - sS -p1 -300 172.18.20.55 Starting nmap V . 2.08 by Fyodor ( fyodor@dhp.com , www.insecure.org/nmap/ ) Interesting ports on ( 172.18.20.55 ) : (Not showing ports in state : filtered) Port State Protocol Service 7 unfiltered tcp echo 53 unfilteres tcp domain 256 open tcp rap 257 open tcp set 258 open tcp yak-chat Nmap run completed - 1 IP address ( 1 host up ) scanned in 15 seconds Ðợt rà gói tin tcpdump kết hợp nêu các gói tin RST/ACK đã nhận. 21 :26 :22.742482 172.18.20.55.258 > 172.29.11.207.39667 : S 415920470 : 1415920470 ( 0 ) ack 3963453111 win 9112 (DF ) (ttl 254, id 50438 ) 21 :26 :23.282482 172.18.20.55.53 > 172.29.11.207.39667 : R 0 : 0 ( 0 ) ack 3963453111 win 0 (DF ) ( ttl 44, id 50439 ) 21 :2 6: 24.362482 172.18.20.55.257 > 172.29.111.207.39667 : S 1416174328 : 1416174328 ( 0 ) ack 396345311 win X112 ( DF ) ( ttl 254, id 504 0 ) 21: 26: 26.282482 172.18.20.55.7 > 17.2.29.11.207.39667 : R 0 : 0 ( 0 ) ack 3963453111 win 0 ( DF ) ( ttl 44, id 50441)


Các Biện Pháp Phòng Chống

Ðể ngăn cản attacker điểm danh các ACL bộ định tuyến và bức tường lửa thông qua kỹ thuật admin prohibited filter", bạn có thể v hiệu hóa khả năng đáp ứng với gói tin ICMP type 13 của bộ định tuyến. Trên Cisco, bạn có thể thực hiện điều này bàng cách phong tỏa thiết bị đáp ứng các thông điệp IP không thể đụng đến no ip unreachables

5. Ðịnh Danh Cổng

Một số bức tường lửa có một dấu ấn duy nhất xuất híện dới dạng một sêri con số phân biệt với các bức tường lửa khác. Ví dụ, Check Point sẽ hiển thì một sêri các con số khi bạn nối với cổng quản lý SNMP của chúng, TCP 257. Tuy sự hiện diện đơn thuần của các cổng 256-259 trên một hệ thống thờng cũng đủ là một dấu chỉ báo về sự hiện diện của Firewall-1 của Check Point song trắcônghiệm sau đây sẽ xác nhận nó :
Code:

[ root@bldg_043]# nc -v -n 192.168.51.1 257 ( UNKNOWN) [ 192.168.51.1] 257 ( ? ) open 30000003 [ root@bldg_043 # nc -v -n 172.29.11.19l 257 (UNKNOWN ) [ 172.29.11.191] 257 ( ? ) open 31000000


Các Biện Pháp Phòng Chống

Phát Hiện
Ðể phát hiện tuyến nối của một kẻ tấn công với các cổng của bạn. bạn bố sung một sự kiện tuyến nối trong RealSecure. Theo các bớc sau:
1. Hiệu chỉnh nội quy
2. Lựa tab Connection Events.
3. Lựa nut Add Connection, và điền một mục cho Check Point.
4. Lựa đích kéo xuống và lựa nút Add.
5. Ðiền dịch vụ và cổng, nhắp OK.
6. Lựa cổng mới, và nhắp lại OK.
7. Giờ đây lựa OK và áp dụng lại nội quy cho động cơ.

Phòng Chống

Ðể ngăn cản các tuyến nối với cổng TCP 257, bạn phong tỏa chúng tại các bộ định tuyến thượng nguồn. Một Cisco ACL đơn giản nh dới đây có thể khước từ rõ rệt một nỗ lực của bọn tấn công:

Code:

access -list 101 deny tcp any any eq 257 log ! Block Firewall- l scans


III. Quét qua các bức tường lửa

Ðừng lo, đoạn này không có ý cung cấp cho bọn nhóc ký mã một số kỹ thuật ma thuật để vô hiệu hóa các bức tường lửa. Thay vì thế, ta sẽ tìm hiểu một số kỹ thuật để nhảy múa quanh các bức tường lửa và thu thập một số thông tin quan trọng về các lộ trình khác nhau xuyên qua và vòng quanh chúng.

1. hping

hping của Salvatore Sanfilippo, làm việc bằng cách gửi các gói tin TCP đến một cổng đích và báo cáo các gói tin mà nó nhận trở lại. hping trả về nhiều đáp ứng khác nhau tùy theo v số điều kiện. Mỗi gói tin từng phần và toàn thể có thể cung cấp một bức tranh khá rõ về các kiểu kiểm soát truy cập của bức tường lửa. Ví dụ, khi dùng hping ta có thể phát hlện các gói tin mở, bị phong tỏa, thả, và loại bỏ.

Trong ví dụ sau đây, hping báo cáo cổng 80 đang mở và sẵn sàng nhận một tuyến nối. Ta biết điều này bởi nó đã nhận một gói tin với cờ SA đợc ấn định (một gói tin SYN/ACK).

Code:

# hping www.yourcompany.com -c2 – S -p80 -n HPING www.yourcomapany.com ( eth0 172.30.1.2 0 ) : S set, 40 data bytes 60 bytes from 172.30.1.20 : flags=SA seq=0 ttl=242 id= 65121 win= 64240 time=144.4 ms


Giờ đây ta biết có một cống mở thông đến đích, nhưng chưa biết nơi của bức tường lửa. Trong ví dụ kế tiếp, hping báo cáo nhận một ICMP unreachable type 13 từ 192.168.70.2. Một ICMP type 13 là một gói tin lọc bị ICMP admin ngăn cấm, thờng đợc gửi từ một bộ định tuyến lọc gói tin.
Code:

# hping www.yourcompany.com -c2 –S -p23 -n HPING www.yourcompany.com ( eth0 172.30.1.20 ) : S set, 40 data bytes ICMP Unreachable type 13 f rom 192.168.70.2


Giờ đây nó đợc xác nhận, 192.168.70.2 ắt hẳn là bức tường lửa, và ta biết nó đang phong tỏa cổng 23 đến đích của chúng ta. Nói cách khác, nếu hệ thống là một bộ định tuyến Cisco nó ắt có một dòng như dưới đây trong tập tin config:
Code:

access -list 101 deny tcp any any 23 ! telnet


Trong ví dụ kế tiếp, ta nhận đợc một gói tin RST/ACK trả lại báo hiệu một trong hai viêc:

(1) gói tin lọt qua bức tường lửa và server không lắng chờ cổng đó
(2) bức tường lửa thải bỏ gói tin (như trường hợp của quy tắc reject của Check Point).

Code:

# hping 192.168.50.3 -c2 -S -p22 -n HPING 192.168.50.3 ( eth0 192.168.50.3 ) : S set, 40 data bytes 60 bytes from 192.168.50.3 : flags=RA seq= 0 ttl= 59 id= 0 win= 0 time=0.3 ms


Do đã nhận gói tin ICMP type 13 trên đây, nên ta có thể suy ra bức tường lửa ( 192.168.70.2) đang cho phép gói tin đi qua bức tường lửa, nhưng server không lắng chờ trên cổng đó. Nếu bức tường lửa mà bạn đang quét qua là Check point, hping sẽ báo cáo địa chỉ IP nguồn của đích, nhưng gói tin thực sự đang đợc gửi từ NIC bên ngoài của bức tường lửa Check Point. Ðiểm rắc rối về Check Point đó là nó sẽ đáp ứng các hệ thống bên trong của nó , gửi một đáp ứng và lừa bịp địa chỉ của đích. Tuy nhiên, khi attacker đụng một trong các điều kiện này trên Internet, chúng không hề
biết sự khác biệt bởi địa chỉ MAC sẽ không bao giờ chạm máy của chúng. Cuối cùng, khi một bức tường lửa đang phong toả các gói tin đến một cổng, bạn thờng không nhận đợc gì trở lại.
Code:

[ root@bldg_04 3 /opt ] # hping 192.168.50.3 -c2 -S -p2 2 -n

HPING 192.168.50.3 ( eth0 192.168.50.3 ) : S set, 40 data
Kỹ thuật hping này có thể có hai ý nghĩa: (1) gói tin không thể đạt đến đích và đã bị mất trên đường truyền, hoặc (2) có nhiều khả năng hơn, một thiết bị (ắt là bức tường lửa của chúng ta 192.168.70.2 ) đã bỏ gói tin trên sàn dới dạng một phần các quy tắc ACL của nó.

Biện Pháp Phòng Chống

Ngăn ngừa một cuộc tấn công hping không phải là dễ . Tốt nhất, ta chỉ việc phong tỏa các thông điệp ICMP type 13 ( nh m tả trong đoạn phòng chống tiến trình quét nmap trên đây ).

2. Firewalk

Firewalk là một công cụ nhỏ tiện dụng, nh một bộ quét cổng, đợc dùng để phát hiện các cổng mở đàng sau một bức tường lửa. Ðợc viết bởi Mike Schiffnlan, còn gọi là Route và Dave Goldsmith, trình tiện ích này sẽ quét một server xua dòng từ một bức tường lửa và báo cáo trở lại các quy tắc đợc phép đến server đó mà không phải thực tế chạm đến hệ đích. Firewalk làm việc bằng cách kiến tạo các gói tin với một IP TTL đợc tính toán để kết thúc một chãng vợt quá bức tường lửa. Về lý thuyết, nếu gói tin đợc bức tường lửa cho phép, nó sẽ đợc phép đi qua và sẽ kết thúc nh dự kiến, suy ra một thông điệp "ICMP TTL expired in transit." Mặt khác, nếu gói tin bị ACL của bức tường lửa phong tỏa, nó sẽ bị thả, và hoặc không có đáp ứng nào sẽ đợc gửi, hoặc một gói tin lọc bị ICMP type 13 admin ngăn cấm sẽ đợc gửi.

Code:

# firewalk -pTCP -S135 -140 10.22.3.1 192.168.1.1 Ramping up hopcounts to binding host . . . probe : 1 TTL : 1 port 33434 : expired from [exposed.acme.com] probe : 2 TTL : 2 port 33434 : expired from [rtr.isp.net] probe : 3 TTL : 3 port 33434 : Bound scan at 3 hops [rtr.isp.net] port open port 136 : open port 137 : open port 138 : open port 139 : * port 140 : open

Sự cố duy nhất mà chúng ta gặp khi dùng Firewalk đó là nó có thể ít hơn dự đoán, vì một số bức tường lửa sẽ phát hiện gói tin hết hạn trước khi kiểm tra các ACL của nó và cứ thế gửi trả một gói tin ICMP TTL EXPI#800000. Kết quả là, Firewalk mặc nhận tất cả các cổng đều mở.

Biện Pháp Phòng Chống

Bạn có thể phong tỏa các gói tin ICMP TTL EXPI#800000 tại cấp giao diện bên ngoài, nhưng điều này có thể tác động tiêu cực đến khả năng vận hành của nó, vì các clien hợp pháp đang nối sẽ không bao giờ biết điều gì đã xảy ra với tuyến nối của chúng.

IV. Lọc gói tin

Các bức tường lửa lọc gói tin nh Firewall-1 của Check Point, Cisco PIX, và IOS của Cisco (vâng, Cisco IOS có thể đợc xác lập dới dạng một bức tường lửa) tùy thuộc vào các ACL (danh sách kiểm soát truy cập) hoặc các quy tắc để xác định xem luồng traffic có đợc cấp quyền để truyền vào/ra mạng bên trong. Ða phần, các ACL này đợc sắp đặt kỹ và khó khắc phục. Nhưng thông thờng, bạn tình cờ gặp một bức tường lửa có các ACL tự do, cho phép vài gói tin đi qua ở tình trạng mở. .
Các ACL Tự Do
Các danh sách kiểm soát truy cập (ACL) tự do thờng gặp trên các bức tường lửa nhiều hơn ta tưởng. Hãy xét trờng hợp ở đó có thể một tổ chức phải cho phép ISP thực hiện các đợt chuyển giao miền. Một ACL tự do nh "Cho phép tất cả mọi hoạt động từ cổng nguồn 53" có thể đợc sử dụng thay vì cho phép hoạt động từ serverDNS của ISP với cổng nguồn 53 và cổng đích 53." Nguy cơ tồn tại các cấu hình sai này có thể gây tàn phá thực sự, cho phép một hắc cơ quét nguyên cả mạng từ bên ngoài. Hầu hết các cuộc tấn công này đều bắt đầu bằng một kẻ tấn công tiến hành quét một server đằng sau bức tường lửa và đánh lừa nguồn của nó dới dạng cống 53 (DNS).

Biện Pháp Phòng Chống

Bảo đảm các quy tắc bức tường lửa giới hạn ai có thể nối ở đâu. Ví dụ, nếu ISP yêu cầu khả năng chuyển giao miền, thì bạn phải rõ ràng về các quy tắc của mình. Hãy yêu cầu một địa chỉ IP nguồn và mã hóa cứng địa chỉ IP đích (serverDNS bên trong của bạn) theo quy tắc mà bạn nghĩ ra. Nếu đang dùng một bức tường lửa Checkpoint, bạn có thể dùng quy tắc sau đây để hạn chế một cổng nguồn 53 (DNS) chỉ đến DNS của ISP. Ví dụ, nếu DNS của ISP là 192.168.66.2 và DNS bên trong của bạn là 172.30.140.1, bạn có thể dùng quy tắc dới đây:
Nguồn gốc Ðích Dịch vụ Hành động Dấu vết
192.168.66.2 172.30. 140.1 domain-tcp Accept Short

V. Tunneling ICMP và UDP

Tunneling ICMP là khả năng đóng khung dữ liệu thực trong một phần đầu ICMP.
Nhiều bộ định tuyến và bức tường lửa cho phép ICMP ECHO, ICMP ECHO REPLY, và các gói tin UDP mù quáng đi qua, và như vậy sẽ dễ bị tổn thơng trước kiểu tấn công này. Cũng như chỗ yếu Checkpoint DNS, cuộc tấn công Tunneling ICMP và UDP dựa trên một hệ thống đã bị xâm phạm đứng sau bức tường lửa.
Jeremy Rauch và Mike D. Shiffman áp dụng khái niệm Tunneling vào thực tế và đã tạo các công cụ để khai thác nó : loki và lokid (clien và server) -xem
http://www.phrack.com/search.phtml?view&article=p49-6.
Nếu chạy công cụ serverlokid trên một hệ thống đứng sau bức tường lửa cho phép ICMP ECHO và ECHO REPLY, bạn cho phép attacker chạy công cụ clien (loki), đóng khung mọi lệnh gửi đi trong các gói tin ICMP ECHO đến server(lokid). công cụ lokid sẽ tháo các lệnh, chạy các lệnh cục bộ , và đóng khung kết xuất của các lệnh trong các gói tin ICMP ECHO REPLY trả lại cho bọn tấn công. Dùng kỹ thuật này, attacker có thể hoàn toàn bỏ qua bức tường lửa.

Biện Pháp Phòng Chống

Ðể ngăn cản kiểu tấn công này, bạn v hiệu hóa khả năng truy cập ICMP thông qua bức tường lừa hoặc cung cấp khả năng truy cập kiểm soát chi tiết trên luồng lu thông ICMP. Ví dụ, Cisco ACL dới đây sẽ v hiệu hóa toàn bộ luồng lu thông ICMP phía ngoài mạng con 172.29.10.0 (DMZ) vì các mục tiêu điều hành:

Code:

access - list 101 permit icmp any 172.29.10.0 0.255.255.255 8 ! echo access - list 101 permit icmp any 172.29.10.0 0.255.255.255 0 ! echo- reply access - list 102 deny ip any any log ! deny and log all else


Cảnh giác: nếu ISP theo dõí thời gian hoạt động của hệ thống bạn đằng sau bức tường lửa của bạn với các ping ICMP (hoàn toàn không nên!), thì các ACL này sẽ phá vỡ chức năng trọng yếu của chúng. Hãy liên hệ với ISP để khám phá xem họ có dùng các ping ICMP để kiểm chứng trên các hệ thống của bạn hay không.

Tóm Tắt

Trong thực tế một bức tường lửa đợc cấu hình kỹ có thể cũng khó vợt qua. Nhưng dùng các công cụ thu thập thông tin như traceroute, hping, và nmap, attacker có thể phát hiện (hoặc chí ít suy ra) các lộ trình truy cập thông qua bộ định tuyến và bức tường lửa cũng như kiểu bức tường lửa mà bạn đang dùng. Nhiều chỗ yếu hiện hành là do cấu hình sai trong bức tường lửa hoặc thiếu sự giám sát cấp điều hành, nhưng dẫu thế nào, kết quả có thể dẫn đến một cuộc tấn công đại họa nếu được khai thác. Một số điểm yếu cụ thể tồn tại trong các hệ uỷ nhiệm lẫn các bức tường lửa lọc gói tin, bao gồm các kiểu đăng nhập web, telnet, và localhost không thẩm định quyền. Ða phần, có thể áp dụng các biện pháp phòng chống cụ thể để ngăn cấm khai thác chỗ yếu này, và trong vài trờng hợp chỉ có thể đúng kỹ thuật phát hiện. Nhiều người tin rằng tương lai tất yếu của các bức tường lửa sẽ là một dạng lai ghép giữa uỷ nhiệm ứng dụng và công nghệ lọc gói tin hữu trạng [stateful] sẽ cung cấp vài kỹ thuật để hạn chế khả năng cấu hình sai. Các tính năng phản ứng cũng sẽ là một phần của bức tường lửa thế hệ kế tiếp. NAI đã thực thi một dạng như vậy với kiến trúc Active Security. Nhờ đó, ngay khi phát hiện cuộc xâm phạm, các thay đổi đã đợc thiết kế sẵn sẽ tự động khởi phát và áp dụng cho bức tường lửa bị ảnh hưởng. Ví dụ, nếu một IDS có thể phát hiện tiến trình Tunneling ICMP, sản phẩm có thể hướng bức tường lửa đóng các yêu cầu ICMP ECHO vào trong bức tường lửa. Bối cảnh như vậy luân là cơ hội cho một cuộc tấn công DDoS; đó là lý do tại sao luân cần có mặt các nhân viên bảo mật kinh nghiệm.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Theo: Hacking exposed

http://www.hocquantrimang.net/forum/showthread.php?t=262

Tổng Hợp Cách Vượt Bức Tường Lửa (FireWall)

Tường lửa là gì?

Tường lửa (firewall) là hệ thống phần cứng / phần mềm làm nhiệm vụ ngăn chặn các truy nhập "không mong muốn" từ bên ngoài vào hoặc từ bên trong ra. Tường lửa thường được đặt tại cổng ra / vào giữa hai hệ thống mạng, ví dụ giữa mạng trong nước Việt Nam và mạng quốc tế. Tường lửa thực hiện việc lọc bỏ những truy cập không hợp lệ dựa theo các quy tắc hay chỉ tiêu định trước, ví dụ:

+ Lọc theo địa chỉ IP: Mọi cố gắng truy cập tới địa chỉ IP của các trang www.vidu1.net, www.vidu2.org... đều bị lọc bỏ và trả về thông báo "Page not found" hoặc "The page cannot be displayed".

+ Lọc theo ứng dụng: Mỗi ứng dụng có một cổng (port) riêng, có giá trị từ 0 tới 65535, cho việc truy cập, ví dụ dịch vụ web dùng cổng 80, dịch vụ email dùng cổng 125... Hiện nay ở Việt Nam chỉ có một số cổng ứng dụng chuẩn được mở. Mọi truy cập qua các cổng không tiêu chuẩn đều bị chặn.

Như vậy, để vượt tường lửa, chúng ta phải làm sao cho gói tin (packet) truy cập tới các trang web / dịch vụ "không được phép" trông giống như gói tin tới từ các trang web / dịch vụ "được phép".

Proxy là gì?

Theo định nghĩa đơn giản nhất, proxy là một máy tính trung gian, đứng phía ngoài tường lửa, giúp lấy tin từ các trang web "không được phép" theo yêu cầu và gửi tới người đọc phía sau tường lửa. Nếu địa chỉ IP và cổng mà proxy dùng để gửi thông tin không nằm trong danh sách bị ngăn cản (block) của tường lửa, người đọc sẽ nhận được thông tin, hay nói cách khác là vượt tường lửa thành công.

Các phương pháp vượt tường lửa:

1/ Sử dụng proxy server: Trong các trình duyệt đều có chức năng thiết lập proxy. Ví dụ với Internet Explore:

Bước 1: Chọn Tool > Internet Options > Connections > LAN settings

Bước 2: Gõ vào ô 'Address' địa chỉ của proxy server muốn dùng và ở ô 'Port' gõ giá trị cổng của proxy server.

Bước 3: Nhấn OK và thử vào các trang web "bị ngăn cản". Nếu proxy server của bạn hoạt động và không bị chặn, bạn sẽ thấy nội dung của các trang web kia.

Có rất nhiều proxy server miễn phí trên mạng. Các bạn có thể tìm danh sách này bằng Google với từ khóa "free proxy". Các proxy server được viết dưới dạng:

customer-148-223-48-114.uninet.net.mx:80

hoặc

163.24.133.117:80

Trong đó phần trước dấu ":" là địa chỉ, và phần sau đó là cổng. Nên chọn các proxy có cổng "tiêu chuẩn" (ví dụ cổng 80) vì các cổng "không tiêu chuẩn" (ví dụ 3128 hay 8080) có thể bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam.

2/ Sử dụng web proxy: Có một số trang web cho phép bạn đánh vào địa chỉ web mà mình muốn xem, và trang web đó sẽ đem nội dung về cho bạn. Thuận lợi khi dùng trang web kiểu này là bạn không phải mất công đặt proxy setting như ở cách thứ nhất (ví dụ khi ra hàng internet người ta không cho phép thay đổi setting).

Có thể tìm ra các trang web kiểu này trên Google với từ khóa "free surf anonymous". Một trang tiêu biểu dạng này là:

http://www.the-cloak.com

Tuy nhiên rất có thể trang này cũng đã bị đặt vào danh mục cấm của Việt Nam

3/ Sử dụng các trang web cá nhân: Nếu bạn có bạn bè hay người thân ở nước ngoài, những người này có thể thiết lập các trang web cá nhân có gắn nội dung các trang "bị ngăn cản" theo kiểu Inline frame. Như vậy, bạn có thể đọc trang web cấm bằng cách tới xem các trang web cá nhân của bạn bè hay người thân của mình ở nước ngoài.

Ví dụ, các bạn trong nước có thể thử đọc bài từ Mạng Ý kiến ở đây:

http://www.vidu.dk/files/misc/ykien.html

Mã HTML để thực hiện điều này ở đây:

http://www.vidu.dk/files/misc/ykien.html.txt

Hãy xóa đuôi txt và upload lên trang web của mình ở nước ngoài, thay địa chỉ "http://vidu.net" bằng địa chỉ trang web mà bạn muốn hiển thị.

Phương pháp này có nhược điểm là trình duyệt của người xem phải hỗ trợ Inline Frame. Tuy nhiên Internet Explorer và Firefox đều hỗ trợ tính năng này.

4/ Vượt tường lửa bằng công cụ của Google: Google cung cấp phương tiện chuyển ngữ trang Web (Translation service), rất tiện cho việc vượt tường lửa. Chỉ cần thay địa chỉ trang cần tới vào địa chỉ "x-cafe.dk" ở dòng lệnh dưới đây, các bạn có thể xem trang web đó dù nó đã bị firewall:

http://www.google.com/translate?langpair=en|en&u=www.vidu.dk

Nên dùng proxy lấy ở đây :

http://www.proxy4free.com/index.html

Hoặc vào trang này :http://anonymouse.org/anonwww.html
Lấy phần mềm này: http://anon.inf.tu-dresden.de/index_en.html khi dùng thì mở trương trình đó lên trước sau đó trong IE chẳng hạn : Chọn Tool > Internet Options > Connections > LAN settings . Address gõ 127.0.0.1 port là 4001 . Cái này free mà chạy rất nhanh , một sản phẩm của Đức dành cho các bạn VN , nếu ai không dành cứ hỏi tui hoặc vào trang web (ở trên ) đó nó nói rất cụ thể . cái này dịch vụ intrenet mà dùng thì quá ngon .

Hide.IP.Platinum.v2.7

Lấy phần mềm Hide .IP.platinum 1.73 này dùng :
download , có cả keygen kèm theo
http://www.hide-ip-soft.com/


Phần 2 - Để vượt bức tường lửa.

Có một số cách để vượt khỏi bức tường lửa của Việt Nam. Đa số các cách nằm trong bốn loại sau đây : 1) giấu tung tích của địa chỉ, 2) dùng những trang đã được lưu trữ sẵn, 3) dùng máy điện toán của người khác làm điểm truy cập thay vì điểm proxy của Hà Nội, và loại chót, 4) dùng dịch vụ của công ty chuyển thư WebMailer.

Tóm tắt những cách vượt bức tường lửa:

Giấu tung tích của địa chỉ muốn tới

Đây là cách nhanh nhất để truy cập những trang bị cấm. Có nhiều trang trên mạng internet giúp chúng ta giấu địa chỉ truy cập để qua mắt được Hà Nội. Giả thử bạn muốn truy cập trang nào đó, bạn sẽ chẳng thấy gì trên màn hình bởi trang này bị bức tường lửa chặn. Nhưng khi muốn giấu tung tích của nơi bạn muốn tới, trang www.anonymizer.com sẽ giúp bạn. Từ ngay trong trang www.anonymizer.com, bạn có thể đánh vào địa chỉ trang www của minh muốn tới để giấu tung tích. Khi địa chỉ www đó đã bị dấu, điểm proxy ở Hà Nội sẽ không chặn được.

Nhưng, bạn có thấy một điểm nhỏ cần chú ý không? Người ta cũng có thể chặn không cho chúng ta truy cập www.anonymizer.com. Họ có thể cho www.anonymizer.com vào danh sách đen, vì vậy, không thể truy cập trang internet này ở Việt Nam nữa. Sau đây là danh sách của một số trang internet cũng có chức năng giống như www.anonymizer.com. Một số đã bị vô sổ đen của họ:
http://www.anonymizer.com , http://www.phantomip.com, https://proxy1.autistici.org/, http://www.the-cloak.com/login.html, http://www.guardster.com/

Ngoài những trang này ra, bạn có thể vào trangwww.google.com và đánh vào chữ web anonymizer hoặc web mailers để tìm thêm những trang tương tự. Mong bạn có thể tìm thấy những trang chưa hân hạnh được liệt vào sổ đen bức tường lửa của nhà nước.

Dùng những trang đã được lưu trữ sẵn

Những trang được lưu trữ cũng giống như một cuốn sách lịch sử. Dịch vụ lưu trữ những trang internet được miễn phí tại các địa chỉ sau đây: www.archive.org và www.google.com. Cũng giống như phần trên, khi bạn truy cập www.archive.org, bức tường lửa sẽ không biết bạn đang truy cập những gì. www.archive.org rất dễ xài, bạn chỉ việc vào đó và đánh tên địa chỉ mình muốn tới, bạn sẽ thấy trang www đó được lưu trữ. Dịch vụ lưu trữ này thường không cho ta thấy trang internet trực tiếp nhưng cho ta thấy trang này trong tình trạng được lưu trữ, có thể đã cũ một vài tuần hoặc vài tháng. Còn www.google.com thì cũng một phần tương tự. Google cũng lưu trữ toàn thể các trang của internet. Thí dụ để coi trang www nào đó, bạn truy cập trang www.google.com và đánh địa chỉ www mình muốn, Google sẽ hiện ra những gì kiếm được, bạn chỉ bấm vô "Show Google's cache of www của mình" thì sẽ thấy được trang lưu trữ cách đây vài tháng.

Dùng máy điện toán khác để tránh điểm proxy của Hà Nội

Bây giờ bạn hãy tưởng tượng nếu chúng ta dùng một loại kỹ thuật mới tránh né proxy của Hà Nội. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta nối cả triệu máy điện toán cá nhân trên thế giới lại? Câu trả lời như sau: Nối hàng triệu máy điện toán cá nhân của tất cả thế giới tự do là mục đích của hai chương trình Peekabooty và Six/Four . Khi bạn ra lệnh truy cập www của mình, thì điểm proxy của Hà Nội sẽ phải gửi lệnh tới một trong hàng triệu máy điện toán cá nhân. Một máy cá nhân này sẽ lập tức giúp và gửi lệnh cho bạn xem nội dung của www của mình đó. Proxy của Hà Nội sẽ tưởng rằng địa chỉ của máy cá nhân này là địa chỉ vô hại. Đây là điều rất khó cấm đoán. Thứ nhất, đây là tập hợp của hàng triệu máy điện toán và địa chỉ của mỗi máy (IP address) đổi từng giây từng phút, không thể kiểm soát nổi. Thứ hai, cả triệu máy điện toán được tập hợp của toàn thế giới, VN sẽ phải bó tay vì không thể biết hết ai là ai. Vấn đề này y hệt như những gì đã sảy ra cho kỹ nghệ âm nhạc và phim của Hoa Kỳ, khi các chương trình nổi tiếng như Napster, Kazaar, AudioGalaxy, Morpheus, và iMesh đã dùng hàng triệu máy trên thế giới để trao đổi dữ liệu nhạc và phim. Hai chương trình Peekabooty ( www.peek-a-booty.org ) và Six/Four ( www.hacktivismo.com ) đã được ra đời trong năm 2002. Bạn hãy theo dõi và thu thập.

Trang internet nằm trong Thư Điện Tử - Webmailer

Kỹ thuật thư điện tử này rất khác với 3 cách trên. Thư điện tử sẽ giúp bạn coi trang internet bị cấm trong thư email của bạn. Dùng một địa chỉ điện thư miễn phí như Yahoo hoặc Hotmail, bạn ghi địa chỉ muốn coi vô phần Subject: và gửi tới một địa chỉ dịch vụ internet miễn phí www.web2mail.com. Sau đó, dịch vụ này sẽ gửi trang internet mà bạn muốn coi tới hộp thư điện tử của bạn. Người khác không thể kiểm soát nổi cách này vì không thể nào chặn được hộp thư miễn phí của Yahoo hoặc Hotmail. Với dịch vụ này, bảo đảm bạn sẽ được coi các trang bị bức tường lửa cấm, nhưng bạn phải kiên nhẫn đợi cho dịch vụ gửi lại trang internet, có thể đợi 10 phút hoặc một ngày sau.
_________________

Những mánh khoé sử dụng Internet!!!

Vì vậy, các bạn nên dùng địa chỉ như Hotmail hoặc Yahoo. Vì không ai có thể chặn những dịch vụ hộp thư điện tử miễn phí này (thư của bạn có thể bị người khác mở ra đọc). Khi tôi sử dụng Yahoo hoặc Hotmail, người khác không đọc được hộp thư của tôi? Sai, tất cả giao thông của xa lộ internet vào Việt Nam phải qua cổng Hà Nội. Yahoo và Hotmail không mã hóa làn thông tin email. Vì vậy có người có thể mở thấy được thư của bạn. Để an toàn, bạn có thể làm một hộp thư dùng riêng nhưng không có tin tức thật về bạn.

Như vậy có cách nào để không ai đọc được thư điện tử của tôi không?

Nếu bạn không muốn ai đọc email của bạn, bạn hãy sử dụng kỹ thuật mã hóa gọi là encryption. PGP Encryption ( www.pgpi.org ) sẽ giúp bạn sử dụng kỹ thuật này nếu xài đúng cách. Nhưng trang internet này cũng hơi khó sử dụng. Cho nên cách thứ 2 là tới trang www.hushmail.com để đăng ký sử dụng. Cách này an toàn khi cả hai, người gửi lẫn người nhận, đều dùng www.hushmail.com.

Làm sao đây? Tôi muốn tẩy xóa dấu vết của tôi sau khi xài internet tại quán café? Đúng vậy, bạn có thể tẩy xóa dấu vết của bạn khi đã xài internet khi bạn dùng Internet Explorer. Để cho người quản lý khỏi được quyền quản lí quyền tự do của bạn, hãy bấm vô chữ Tools / Internet Options. Bấm vô nút "Delete all offline content" và sau đó, "Delete Files", rồi "OK". Nếu thấy nút "Delete Cookies" hãy bấm vô nút đó luôn. Sau đó, bấm vô "Settings" rồi bấm vô "View Files". Nếu mà còn một số file trong đây, bạn bấm Ctrl-A để chọn tất cả rồi bấm nút Delete trên bàn phím. Như vậy bạn đã xóa đi rất nhiều vết chân lang thang trên internet. Cho chắc ăn, bạn cũng có thể bấm nút "Clear History" và bấm "OK". Bây giờ, bấm vô nút "Content" và sau đó vô nút "AutoComplete". Sau đó bấm vô nút "Clear Forms" và "Clear Passwords" để xóa tất cả mọi ô mật mã. Chúc may mắn.

Còn tự gửi địa chỉ của những trang internet bị cấm đến với hộp thư Yahoo hoặc Hotmail của chính tôi. Làm như vậy thì lệnh truy cập của tôi qua Yahoo hoặc Hotmail chứ không phải proxy Hà Nội phải không? Sai. Nhưng đây là ý rất hay. Khi tác giả thử phương pháp này tại Việt Nam, phương pháp đã không hiệu nghiệm. Lý do là sao? Bởi vì proxy Hà Nội cũng có thể đánh hơi được nội dung của trang internet và bức tường lửa sẽ hoạt động trở lại.

Khi dùng những chương trình chat như AOL Instant Messeger (AIM) hoặc mIRC, nhà nước không kiểm soát nổi? Sai. Nhà nước không có chặn khi bạn chat, nhưng có thể thấy những gì bạn viết.

Nhiều quán internet café dựng nên một trang chính giúp bạn truy cập những trang như Hotmail và Yahoo cho nhanh chóng. Nguy hiểm không? Vấn đề là, những trang chính có thể giữ lại tên và mật mã của bạn, nên họ có thể vô lại hộp thư điện tử của bạn. Nên coi chừng.

Và đây là 1 số giải pháp của Vidu giúp bạn đọc trong nước vượt tường lửa: sử dụng kỹ thuật RSS (Really Simple Syndication), một kỹ thuật trao đổi thông tin nhanh trên Internet, với địa chỉ có nhúng sẳn địa chỉ của những proxy mới. Sau đó nối RSS vào Google, Yahoo, hay bất cứ một trang web có dịch vụ đọc tin RSS nào. Trách nhiệm tìm kiếm proxy sẽ thuộc về Vidu. Bạn đọc vào Google, Yahoo để đọc trang web Vidu.

1. Với Google

Gõ, hoặc cát dán, vào duyệt trình IE địa chỉ sau:

http://www.google.com/reader/preview/*/feed/http://Vidu.com/rss

Trên duyệt trình IE, bạn đọc sẽ thấy hiện lên một mục lục của những bài viết mới nhất trên DCVOnline. Khi bấm lên những tựa đề trong mục lục này, bạn đọc sẽ tự động được dẫn đến trang web qua một proxy đã nhúng sẵn trong các links.

2. Với Yahoo

Tương tự, gõ, hoặc cắt dán, vào duyệt trình IE địa chỉ:

Code:http://add.my.yahoo.com/rss?url=http://Vidu.com/rss

3. Ngoài ra, bạn đọc có thể dùng địa chỉ RSS của Vidu, http://vidu.com/rss, với các trang web có dịch vụ đọc tin RSS thông dụng như MSN (www.msn.com), Bloglines (www.bloglines.com), v.v…

Các proxy có thể bị tường lửa ngăn chặn và phải thay đổi nhưng các địa chỉ đến Vidu qua Google hoặc Yahoo ở trên sẽ không thay đổi. Điều bất tiện còn lại là bạn đọc phải “thuộc lòng” các địa chỉ này. Cách tiện lợi nhất để ghi nhớ các địa chỉ này là bằng cách bấm lên “Favorites”, “Add to Favorites” trên IE để đưa các địa chỉ này vào danh sách những website ưa thích của mình.


nay em xin trình bày một phương pháp vượt tường lửa nhanh, rẻ và an toàn mà em vẫn thường sử dụng. Nhanh vì không phải cấu hình lằng nhằng, rẻ vì miễn phí, an toàn vì có mã hoá: đó là proxy https.
đây là một số Https ổn định nhất, nếu trong khi dùng mà bị gián đoạn thì chuyển sang cái tiếp theo, nhưng nói chung trường hợp này hãn hữu:

https://tong.ziyoulonglive.com/dmirror/
https://www.bejing163.com/dmirror/
https://w8.coopsdomain.com/dmirror/

Còn đây là một số proxy vét đĩa:

https://www1.chao168.com/dmirror/
https://w8.db-systems.nl/dmirror/
https://w8.ccnwebsite.com/dmirror/
https://u1.horizonnewspaper.com/dmirror/
https://u1.craigsmusichut.com/dmirror/
https://www1.way2005.org/dmirror/
https://www1.yun2005.net/dmirror/
https://w8.clasa.net/dmirror/
https://w8.coteyr.net/dmirror/
https://u1.seeneed.com/dmirror/
https://w8.clell.com/dmirror/
https://w8.chickenkiller.com/dmirror/

Bi giờ em thí dụ là trang www.vidu.net bị firewall chẳng hạn, các bác lưu ý: địa chỉ đầy đủ của nó là http://www.vidu.net nhá

Muốn xem trang đó thì chỉ cần:
-Chọn lấy một proxy, vd https://tong.ziyoulonglive.com/dmirror/
-Thay http:// thành http/ để http://www.vidu.net biến thành http/www.vidu.net
-Dán vào proxy, trở thành https://tong.ziyoulonglive.com/dmirror/http/www.vidu.net
-Chép lên thanh address, gõ Enter, OK 2 lần.
-Xong.

Nếu các bác muốn download một file nào đó từ trang web ykien.net chẳng hạn như file https://tong.ziyoulonglive.com/dmirror/http/www.vidu.net/abc.zip chẳng hạn, thì phải:

-Một là biến cái dòng loằng ngoằng trên thành địa chỉ thật của nó là http://www.vidu.net/abc.zip, sau đó dùng Flashget tải về.
-->Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tường lửa mạnh đến nỗi có thể chặn được cả quy trình tải file, các bác sẽ 0 tải được gì.
-Lúc đó thì phải:
+Download chương trình NETTransport từ www.xi-soft.com
+Cài đặt.
+Dùng nó mà tải về.
Em cũng khuyến cáo các bác dùng Net Trans thay cho FlashGet vì nó hỗ trợ tất tần tật từ HTTP, HTTPS, FPT cho đến NMN, RTSP (của file REAL), trong khi FG chỉ hỗ trợ mỗi HTTP; NET Trans cũng có chế độ chia mảnh như Flashget, tối đa 10 mảnh, tốc độ nhanh hơn flashget.
Dùng NET trans có thể tải được cả file REAL, bình thường thì các bác phải nghe trực tuyến, phải không ạ? Bây giờ chỉ mất 5 phút là các bác đã có thể ôm trọn bộ BBC, VOA mang về nhà nghe cho đỡ tốn.
Cách làm như sau: Mở NETTrans, bấn phím Insert, lần lượt tải những file sau đây:

http://www.voanews.com/real/voa/eap/viet/viet2230a.ram
http://www.voanews.com/real/voa/eap/viet/viet1500a.ram
http://www.voanews.com/real/voa/eap/viet/viet1300a.ram
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/meta...2300_au_nb.ram
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/meta...1430_au_nb.ram

Sau khi tải về sẽ được 10 file trong đó có 5 file đuôi RAM, dung lượng 1kb, xoá đi, còn lại 5 file đuôi RM thì dùng REAL hay Media Player Classic để nghe.

Dùng proxy HTTPS rất an toàn vì được mã hoá, ngoại trừ máy của chính các bác ra không có máy nào đọc được, các bác cảnh nhà ta sẽ không làm gì nổi. Hè hè.

Các bác nếu dùng email thì nên chọn gmail vì có chế độ bảo mật SSL, dùng Thunderbird Portable tải về đọc tại gia, nếu cẩn thận hơn nữa thì kiếm cái Hide IP Platinum giấu địa chỉ IP của mình đi cho ăn chắc.
_________________
dùng 3 thằng proxy này, trang nào cũng vào được, kể cả trang không tường lửa

1. http://www.unipeak.net

2.http://www.shadowbrowser.com/?pin=trial

3. Tên trang này kêu nhất
http://www.hidemyass.com/

http://www.hocquantrimang.net/forum/showthread.php?t=421

20 thg 4, 2008

AN NINH MẠNG VÀ MỘT SỐ LƯU Ý TRONG QUẢN TRỊ MẠNG MÁY TÍNH

Mạng máy tính truyền thông (Broadcasting Networks) nói riêng và các hạ tầng kỹ thuật tin học nói chung đang ngày càng trở nên quen thuộc và đóng vai trò ngày một lớn trong cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên chúng cũng đem lại cho chúng ta những vấn đề nhạy cảm mới: vấn đề Bảo mật thông tin và An ninh hệ thống trong vận hành.

1. An ninh mạng máy tính.

Do đặc điểm có nhiều người sử dụng phân tán trong một khu vực nhất định, nên việc bảo vệ các tài nguyên mạng khó tránh khỏi sự mất mát, xâm phạm (vô tình hay cố ý). Vì vậy khi vận hành một mạng máy tính, vấn đề bảo mật thông tin và an ninh hệ thống luôn là mối quan tâm hàng đầu của những người làm công tác quản trị mạng. Thông thường an ninh mạng được bảo đảm nhờ sử dụng 5 lớp bảo vệ như sau (Hình 1).

Hình 1: Các lớp bảo vệ tài nguyên trong mạng máy tính

Lớp 1: Quyền truy nhập là lớp bảo vệ trong cùng nhằm kiểm soát các tài nguyên (thông tin) mạng và cho phép thực hiện các quyền sử dụng và xử lý các tài nguyên đó. Việc kiểm soát trong trường hợp này thường thực hiện dưới dạng các files;

Lớp 2: Đăng ký tên / mật khẩu (login/password) là lớp bảo vệ tiếp theo, kiểm soát quyền truy nhập ở mức hệ thống (quyền truy nhập vào mạng).

Lớp 3: Mã hoá để mã hoá dữ liệu theo một thuật toán nào đó nhằm bảo mật thông tin truyền trên mạng. Tại nơi nhận thông tin sẽ được giải mã trở lại dạng tường minh.

Lớp 4: Bảo vệ vật lý ngăn cản các truy nhập vật lý bất hợp pháp vào hệ thống như cấm người không phận sự vào khu vực đặt máy mạng, dùng ổ khoá máy tính, cài cơ chế báo động khi có truy nhập vào hệ thống, ngắt nguồn điện đến màn hình và bàn phím…

Lớp 5: Sử dụng hệ thống tường lửa Firewall. Tường lửa là "màn chắn" điều khiển luồng lưu thông giữa các mạng (thường là giữa hệ thống mạng cần được bảo vệ và Internet, giữa các mạng con trong một tổ chức…), nhằm bảo vệ hệ thống mạng riêng, ngăn chặn các thâm nhập trái phép, lọc bỏ các gói tin không muốn gửi hoặc nhận…

Thực tế vận hành hệ thống mạng LAN tại khu vực Giảng võ (Đài THVN) trong thời gian qua cho thấy, để đảm bảo an ninh hệ thống, người quản trị mạng cần biết kết hợp một cách hợp lý cả 5 lớp bảo vệ trên, phát huy thế mạnh của từng lớp bảo vệ trong từng thời điểm, tại mỗi phạm vi không gian thích hợp. Việc ỷ lại vào thiết bị (tường lửa) hay nhấn mạnh thái quá vấn đề an ninh hệ thống sẽ vô tình tạo ra những rào cản không đáng có trong khai thác sử dụng thiết bị và đôi khi khó khả thi về mặt kinh tế.

Những nguy cơ tiềm ẩn trong cuộc sống thường ngày hàng đối với vấn đề bảo mật và an ninh hệ thống máy tính bao gồm:

1. Trước hết, nguy cơ dễ thấy nhất là ai đó (vô tình hay cố ý) sử dụng máy tính cá nhân khi chưa có sự đồng ý của bạn. Nguy cơ này có thể dễ dàng khắc phục khi sử dụng các phương pháp bảo mật được cung cấp kèm với máy tính. Đa số các máy tính hiện nay có mật khẩu khởi động (power-on passwords). Ngoài ra cũng có thể sử dụng phương pháp thiết lập mật khẩu được gắn kèm trong hệ thống điều hành (Windows…);

2. Tiếp theo, nguy cơ khó thấy hơn là ai đó ăn trộm mật khẩu để truy cập vào máy tính hay mạng máy tính chứa những thông tin bí mật. Những mật khẩu này có thể được sử dụng từ một máy tính bất kỳ (bên trong hay bên ngoài mạng của bạn). Để tránh việc dễ dàng phỏng đoán ra mật khẩu, nên tránh sử dụng mật khẩu là các ngày sinh nhật, tên của những người thân hay các con vật nuôi… Để làm cho mật khẩu trở nên khó đoán, nên sử dụng mật khẩu kết hợp cả những dấu chấm và những con số. Phương án tốt nhất là sử dụng một ngôn ngữ nước ngoài (không phải tiếng Anh càng tốt) để làm mật khẩu;

3. Các virus là nguy cơ thường trực nhất hiện nay. Virus là chương trình máy tính được thiết kế với mục đích phá hoại (hay đơn giản chỉ là đùa nghịch), có thể tự nhân bản và lây lan bằng cách gắn vào các chương trình khác, kể cả phần mềm điều hành hệ thống. Giống như virus ở người, tác hại của virus máy tính có thể chưa phát hiện được trong thời gian vài ngày hay vài tuần. Khi phát tác, các virus gây ra nhiều hậu quả: từ những thông báo linh tinh đến những tác động làm mất khả năng điều hành hệ thống, xóa mọi dữ liệu trên đĩa cứng, thậm chí gửi những dữ liệu này cho chủ sử dụng chúng. Thời gian trước đây thông thường đĩa mềm là phương tiện chủ yếu để lan truyền virus. Ngày nay do việc chuyển các file qua mạng được sử dụng rộng rãi, nên virus đã thay đổi chiến lược lan truyền. Hầu hết các virus hiện lan truyền qua các file gửi kèm theo thư điện tử hay được nhúng trong các phần mềm hay tài liệu trên mạng Internet. Một số khác còn có khả năng tự lan nhiễm bằng cách gửi tự động thư đến các địa chỉ lưu trong Address Book của máy tính bị nhiễm. Để đề phòng nguy cơ này, bạn không nên mở các files gửi kèm thư điện tử từ những người không quen biết và nói chung, cần thận trọng khi mở các file gửi kèm thư điện tử, đặc biệt là các file có thể tự kích hoạt (các file với đuôi *.exe, *.com, *.asp, …).

Phương pháp tốt nhất tự vệ chống lại các virus là chủ động cung cấp các phần mềm quét virus cho các thiết bị kết nối trong mạng. Do các virus thường thay đổi liên tục nên các phần mềm này cần được cập nhật thường xuyên, để nhận biết và làm mất tác dụng của các virus mới. Hầu hết các nhà sản xuất phần mềm phải liên tục làm việc để phát hiện và bịt kín các lỗ hổng an ninh, và cập nhật các phần mềm đã bán cho các khách hàng một cách miễn phí. Hãng Microsoft là một ví dụ. Nếu máy tính sử dụng hệ điều hành Windows, chúng ta có thể kiểm tra nhanh độ an toàn hệ thống của bạn bằng cách trỏ một trình duyệt vào địa chỉ http://www.windowsupdate.microsoft.com, Microsoft sẽ kiểm tra thiết bị và đề nghị một danh sách các cập nhật (nếu cần thiết).

Đối với những hệ thống máy tính nhậy cảm (ví dụ như các hệ thống làm tin thời sự truyền hình…), cách tốt nhất cho an ninh mạng là tránh kết nối trực tiếp đến Internet. Để đảm bảo nhu cầu thu nhập thông tin trên mạng Internet và trao đổi thư điện tử, cần sử dụng một hệ thống tường lửa cùng một máy chủ e-mail độc lập với một phần mềm quét virus trong máy chủ này để kiểm soát virus trong các thư đến. Điều này cho phép cô lập các nguy cơ virus khỏi khu vực trung tâm và tránh sự phức tạp phải cập nhật phần mềm chống virus liên tục tại mỗi máy PC trong mạng.

Để tránh bị mất dữ liệu do máy tính bị virus thâm nhập phá huỷ, giải pháp an toàn nhất là sao lưu dự phòng (backup) thường xuyên thông tin dữ liệu hệ thống. Thực tế đã cho thấy không có cách nào làm cho máy tính trở nên an toàn tuyệt đối, nên không sớm thì muộn máy tính đang sử dụng cũng sẽ gặp vấn đề. Trong trường hợp đó, chúng ta có thể yên tâm là đã có sẵn trong tay một bản sao đầy đủ các dữ liệu cần thiết.

4. Các thâm nhập trái phép từ bên ngoài: khi kết nối máy tính hay hệ thống mạng của chúng ta với Internet, chúng ta đã mở cửa cho một cuộc đột kích có thể. Đây là nơi mà hệ thống tường lửa (lớp bảo vệ ngoài cùng) sẽ phát huy vai trò của nó để ngăn chặn các thâm nhập trái phép, lọc bỏ các gói tin không muốn gửi hoặc không muốn nhận.

2. Các tường lửa (firewalls).

Tường lửa có các tính năng cơ bản sau:

1. Kiểm soát truy xuất: Giới hạn truy xuất đối với từng người sử dụng trên cơ sở Username và Password, hoặc địa IP và các cổng (Port);

2. Kiểm tra và lọc các gói tin: các gói dữ liệu trước hết được kiểm tra về địa chỉ IP nguồn, địa chỉ IP đích và số hiệu cổng …sau đó được trả lại hay cho phép đi vào theo một số điều kiện nhất định…;

3. Quản lý các địa chỉ IP với hai chức năng cơ bản là NAT và DHCP. Chức năng NAT (Network Address Translation) chuyển các địa chỉ IP riêng của mạng nội bộ thành địa chỉ IP có thể ra ngoài Internet với mục đích dấu địa chỉ của mạng nội bộ, tăng tính bảo mật. Chức năng DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol) cung cấp địa chỉ IP động cho các thiết bị trong mạng nội bộ;

4. Lọc URL(1) nhằm giới hạn việc truy cập tới các trang web không mong muốn.

Xét dưới góc độ cấu trúc của thiết bị có thể chia ra hai loại tường lửa như sau:

* Tường lửa mềm: Là một chương trình phần mềm có các tính năng tuờng lửa (ví dụ Firewall-1 của ChekPoint). Khi hoạt động chúng phải dựa vào máy tính, sử dụng bộ xử lý và tài nguyên của máy tính để hoạt động. Đối với loại tường lửa này người sử dụng có thể thêm bớt một cách linh hoạt các tính năng tường lửa căn cứ vào nhu cầu cụ thể của từng thời điểm vận hành;
* Tường lửa cứng: Là một thiết bị riêng biệt có sẵn các tính năng tường lửa. Chúng có bộ xử lý và các tài nguyên riêng để xử lý các tính năng này. Vì vậy, chúng hoạt động hiệu quả hơn tường lửa mềm. Chúng ta vẫn có thể nâng cấp các tính năng của chúng nhưng không linh hoạt bằng các tường lửa mềm. Chúng cũng có thể tăng thêm các tính năng bảo mật khi tích hợp với các sản phẩm bảo mật khác như Antivirus, dò tìm kẻ xâm nhập…

Trong số bốn chức năng cơ bản trên của tường lửa, chức năng quản lý các địa chỉ IP có tầm quan trọng rất lớn đối với khả năng chống xâm nhập trái phép từ bên ngoài vào mạng máy tính. Thật vậy, với NAT, bất kỳ gói dữ liệu nào được gửi ra mạng Internet từ các máy bên trong mạng đều được biến đổi địa chỉ sao cho địa chỉ xuất phát của nó duy nhất từ tường lửa: trên hình 2 chúng ta có thể thấy rằng, các gói dữ liệu từ máy tính có địa chỉ 192.168.1.3 bên trong tường lửa sẽ được biến đổi và các máy tính bên ngoài (mạng Internet) chỉ có thể nhận biết như chúng được bắt nguồn từ tường lửa với địa chỉ IP 62.123.4.23. Tương tự như vậy, một câu hỏi truy vấn từ máy tính nào đó trên mạng Internet gửi đến địa chỉ 192.168.1.3 sẽ bị báo lỗi và gửi trả lại. Điều này đã giúp loại trừ sự kết nối trực tiếp của một máy tính nào đó trên Internet với máy tính phía trong tường lửa, làm cho việc thâm nhập vào các thiết bị bên trong mạng trở nên khó khăn vì kẻ đột nhập muốn vào trước hết phải biết địa chỉ IP của máy muốn đột nhập.

Khi lựa chọn cấu hình một hệ thống tường lửa cho mạng máy tính, người quản trị mạng cần cân nhắc kỹ các yếu tố:

* Hiệu suất làm việc của tường lửa. Hiệu suất càng cao thì hiện tượng nghẽn cổ chai càng giảm. Khi sử dụng đường leased line để kết nối Internet, hiệu suất của tường lửa nên chọn phù hợp với tốc độ các đường thuê bao này;
* Khả năng cung cấp băng thông cho bao nhiêu người truy cập tại cùng một thời điểm;
* Khả năng mã hóa thông tin;
* Có hay không chế độ ghi nhật ký, giúp theo dõi đánh giá các sự cố trong hệ thống mạng;
* Có hay không tính năng mạng ảo VLAN (Virtual LAN) và mạng riêng ảo VPN (Virtual Private Network) giúp quản lý phân chia mạng thành các mạng con riêng biệt;
* Có bao nhiêu cách để quản lý và cấu hình Firewall;
* Có hay không tường lửa dự phòng;
* Có tích hợp các tính năng bảo mật như Giám sát trạng thái, Dò tìm kẻ xâm nhập trái phép IDS (Instruction Detect Service), Antivirus, Xác định quyền truy cập ….

Hầu hết các tường lửa đều cho phép cài đặt ở các mức an toàn khác nhau, và sẽ hạn chế truyền thông tương ứng với mức độ an toàn đạt được (càng hạn chế thì càng an toàn). Vấn đề đặt ra cho các quản trị mạng là phải duy trì an ninh ở mức độ an toàn hợp lý, đảm bảo an ninh hệ thống nhưng vẫn cho phép khai thác tối đa các chức năng của các của thiết bị trong mạng.

Hình 2:Biến đổi địa chỉ IP (NAT) để giấu IP thực của máy tính bên trong mạng LAN

3. An ninh hệ thống mạng máy tính truyền thông (Broadcasting Networks).

Mạng máy tính sử dụng trong truyền thông ngày nay thường có cấu trúc đa giao thức với khả năng hỗ trợ các máy chủ truyền thông đa phương tiện, các hệ thống lưu trữ khu vực, máy tính cá nhân PCs, thiết bị hỗ trợ số cá nhân PDAs (Personal Digital Assistant), điện thoại và toàn bộ các ứng dụng dữ liệu mới …. và không bị giới hạn bởi các biên giới vật lý. Trong các mạng này, hệ thống tường lửa đóng vai trò rất lớn trong việc bảo vệ và duy trì an ninh mạng thông qua việc kiểm soát các kết nối phức tạp. Khi các Hãng truyền thông cố tận dụng các ưu điểm của việc truyền dẫn thông tin ra phạm vi toàn cầu thông qua Internet, thì họ cũng đang mở cửa cho các virus, các kẻ cố ý phá hoại và những nguy cơ khác có thể gây ra thiệt hại nhiều khi lên tới hàng tỉ USD do tổn thất năng suất lao động, lộ bí mật thông tin, mất dữ liệu hay mất bản quyền chương trình…

Một vấn đề gây khó khăn cho an ninh mạng truyền thông là yêu cầu phải tạo thuận lợi tối đa cho các truy cập (hợp pháp) vào mạng nhiều nhất có thể. Đây thường là các mạng kinh doanh giải trí, sự tồn tại của chúng phụ thuộc chính vào việc cho phép truyền phát nội dung các chương trình trong khi vẫn đảm bảo được khả năng kiểm soát quá trình sử dụng các nội dung này. Các nguyên tắc cơ bản của an ninh hệ thống ở đây bao gồm:

1. Quản trị mạng phải kiểm soát chặt và tại bất kỳ thời điểm nào cũng có khả năng biết chắc chắn thông tin nào đang đi vào ra khỏi mạng;

2. Phải đảm bảo hệ thống không bị lạm dụng cho các sử dụng cá nhân của các nhân viên;

3. Có khả năng chống lại việc sử dụng sai mục đích, sự phá hoại do những bất hoà trong nội bộ và những sự cố;

4. Duy trì sự kiểm soát dữ liệu và chống sự sao chép bất hợp pháp các dữ liệu và nội dung.

Để đáp ứng các nguyên tắc an ninh trên, hệ thống tường lửa trong các mạng này cần thoả mãn các yêu cầu:

*
Tương thích với tất cả các công nghệ tạo dòng streaming chủ yếu, bao gồm Real Networks, Windows Media và Quick Time;
*
Phải hỗ trợ các chuẩn công nghiệp Internet như TCP/IP, UDP(2), HTTP(3) và RTP/RTSP(4/5);
*
Phải đủ mở để có thể tương thích với các công nghệ tạo dòng trong tương lai;
*
Phải cho phép triển khai và tích hợp chức năng mới một cách liên tục mà chỉ đòi hỏi những thay đổi tối thiểu trong hệ thống máy chủ hay những nâng cấp mở rộng nhỏ;
*
Cho phép cài đặt nhiều phần mềm tại các máy trạm của khách hàng phục vụ cho nhu cầu cập nhật các ứng dụng một cách dễ dàng và hoàn toàn tự động;
*
Cho phép người sử dụng truy cập nội dung chương trình thông qua việc sử dụng các phần mềm hiển thị media như Winamp hay QuickTime …;
*
Phải có một kênh phản hồi đảm bảo để kiểm soát chất lượng dịch vụ, thanh toán chi tiết, bảo vệ bản quyền chống sao chép và những ứng dụng đặc biệt khác thuộc phạm vi kiểm soát media;
*
Phải duy trì hoạt động thông suốt đến người sử dụng (khách hàng);
*
Có khả năng làm nản lòng các hành vi muốn sao chép xâm phạm bản quyền.

Trong thời gian gần đây, đã xuất hiện các hệ thống an ninh mạng máy tính truyền thông có khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu trên (ví dụ thiết bị của Hãng Widevine Technologies – http://www.windevine.come). Các hệ thống này hoạt động theo nguyên tắc kết hợp hai lớp bảo vệ 3 và 5 và tương tích với tất cả các công nghệ tạo dòng streaming đang sử dụng hiện nay. Về thực chất, đây là các thiết bị mã hoá bằng phần cứng thời gian thực, được lắp đặt tại đầu ra của các thiết bị lưu trữ nội dung và chỉ cho phép giải mã bằng thiết bị phần cứng tương ứng ở đầu thu chương trình. Do nội dung được bảo vệ (mã hoá) tại nguồn, giải pháp truyền thông dòng này cho bảo vệ nội dung chương trình trong suốt quá trình truyền thông trên mạng. Thuật toán mã hoá có thể được cập nhật trong suốt quá trình hoạt động của mạng mà không ảnh hưởng tới chất lượng chương trình thu được.

4. Một số lưu ý trong công tác quản trị mạng.

Thực tế công tác quản trị mạng máy tính tại Đài THVN trong thời gian qua cho thấy, vấn đề virus và xâm nhập trái phép là các nguy cơ thực tế đối với mạng máy tính, trong đó virus là nguy cơ thường xuyên và rất khó loại trừ hoàn toàn, có lúc đã ảnh hưởng đáng kể đến khả năng phục vụ của toàn hệ thống. Do đặc điểm công tác, các cán bộ và phóng viên của Đài hiện đang sử dụng một số lượng khá lớn máy tính cá nhân xách tay, nên rất khó làm tốt công tác phòng chống virus và cập nhật các phần mềm cho các thiết bị này, nhất là khi sử dụng các hệ điều hành Windows 2000, Windows XP không có bản quyền. Đây chính là nguồn lây nhiễm virus đáng kể nhất vào hệ thống mạng của Đài THVN trong thời gian qua.

Để thường xuyên duy trì khả năng phòng vệ của hệ thống, người làm công tác quản trị mạng cần lưu ý đến các nguyên tắc sau:

a. Loại trừ việc kết nối trực tiếp các máy tính nhậy cảm với Internet;

b. Cài đặt các phần mềm chống virus đến từng máy tính và thiết bị trong mạng;

c. Thường xuyên cập nhật các phần mềm chống virus đã được cài đặt trong các thiết bị mạng, đảm bảo khả năng nhận biết và đối phó với các loại virus mới của công cụ phòng ngừa này;

d. Theo dõi và cập nhật thường xuyên phần mềm, các hệ điều hành nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời các lỗ hổng bảo mật, đặc biệt là các hệ điều hành Windows 2000, Windows XP...;

e. Sử dụng chức năng NAT để che giấu máy tính bên trong mạng;

f. Sử dụng phần mềm tường lửa trên các máy tính xách tay đề phòng các xâm nhập trái phép;

g. Thường xuyên sao lưu dữ liệu dự phòng (backup).

Chú thích:

(1) - URL (Uniform Resource Locator): Địa chỉ của một tài nguyên trên Internet (hay Intranet) nằm trong các máy chủ, chứa các thư mục và các loại tập tin khác nhau (văn bản, đồ họa, video và âm thanh…). URL là địa chỉ được gõ vào vùng Address của các Web Browser, nó chỉ tới vị trí của tài nguyên cần tìm trên mạng.

(2) – UDP (User Datagram Protocol): Giao thức gói dữ liệu người dùng. Khi viết các ứng dụng trên mạng TCP/IP, có thể truy cập đến tài nguyên mạng thông qua hai giao thức TCP (Transmission Control Protocol) hoặc UDP (User Datagram Protocol). Cả hai giao thức nầy nằm trong lớp giao vận (transport layer) trong đó TCP là giao thức có liên kết (tức là đòi hỏi phải thiết lập liên kết logic giữa hai thiết bị trao đổi thông tin với nhau) và vì vậy cho độ tin cậy trong truyền dữ liệu khá cao, còn UDP lại là giao thức "không liên kết"với độ tin cậy không cao. Nó cho phép truyền số liệu thông qua số hiệu cổng mà không cần thiết lập một phiên kết nối logic. Khả năng này làm cho việc truyền thông trở nên dễ dàng hơn vì toàn bộ dữ liệu truyền có thể được gởi đi trong một hoặc hai gói UDP. Trong nhiều trường hợp khi chỉ gửi một lượng dữ liệu nhỏ việc sử dụng TCP vẫn sẽ tốn nhiều thời gian do vẫn phải thiết lập kết nối cho giao thức này.

(3) – HTTP (Hypertext Transfer Protocol): Giao thức truyền tải siêu văn bản là giao thức lệnh và điều khiển, xác lập việc truyền tin giữa các máy khách và máy chủ. HTTP cài đặt sự kết nối giữa máy khách và máy chủ, chuyển lệnh qua lại giữa hai hệ thống, cung cấp phương thức để bộ trình duyệt Web browser truy xuất máy chủ Web server, gửi yêu cầu đến máy chủ.

(4) – RTP(Real-Time Transport Protocol): Giao thức truyền tải thời gian thực cung cấp cách truyền dữ liệu thời gian thực, cảm ứng trì hoãn, âm thanh trực tiếp và video từ máy này sang máy khác trên Internet hoặc intranet. RTP được dùng trong hội nghị có hỗ trợ multimedia. RTP cũng được dùng để xử lý các dòng dữ liệu liên tục, mô phỏng phân bố tương tác, các chương trình ứng dụng điều khiển, cung cấp các dịch vụ nhận biết loại thanh toán, đánh số thứ tự, đánh dấu thời gian, và giám sát việc truyền dữ liệu. RTP không có khả năng đảm bảochất lượng dịch vụ QoS.

(5) – RTSP(Real-Time Streaming Protocol): Giao thức dòng dữ liệu thời gian thực là giao thức để truyền dữ liệu trên Internet và intranet. RTSP do RealNetworks liên kết với Netscape phát triển được IETF (Internet Engineering Task Force) chuẩn hóa. RTSP có thể truyền âm thanh và video trực tiếp hay được thu từ trước. Các tính năng khác của RTSP là khả năng điều khiển hai chiều, hỗ trợ cho IP multicast, chi phí thấp, độ an toàn cao.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Multimedia Networking – Bohdan O. Szuprowicz – McGraw Hill International Editions 1995;

[2]. An Toàn cho Trung tâm tích hợp dữ liệu - Tài liệu tập huấn của Ban Điều hành Đề án 112 - Văn phòng Chính phủ 9/2003;

[3]. Mạng máy tính và các hệ thống mở - Nguyễn Thúc Hải – Nhà xuất bản giáo dục 1997;

[4]. Computer & Networks: Security - Brad Gilmer – Broadcast Engineering, Aug 1, 2002;

[5]. System security - Steven M. Blumenfeld – Broadcast Engineering, Oct 1, 2001;

[6]. Firewalls and security - Brad Gilmer – Broadcast Engineering, Jul 1, 2001.

http://www.phatthanhtruyenhinh.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=99

Hướng dẫn cách tìm Website bị lỗi

Tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách tìm các Website bị lỗi, đa số cách thông dụng nhất là vào các trang Search như http://www.google.com, http://www.av.com ... rồi đánh "powered by ...." (ví dụ : nếu tìm trang Forum UBB 1.0.3 thì đánh "powered by UBB 1.0.3"). Nhưng như thế thường không hiệu quả và nó cho ra rất nhiều trang chẳng liên quan gì đến trang mình cần tìm.
Tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách tìm các Website bị lỗi, đa số cách thông dụng nhất là vào các trang Search như http://www.google.com/, http://www.av.com/ ... rồi đánh "powered by ...." (ví dụ : nếu tìm trang Forum UBB 1.0.3 thì đánh "powered by UBB 1.0.3"). Nhưng như thế thường không hiệu quả và nó cho ra rất nhiều trang chẳng liên quan gì đến trang mình cần tìm. Bây giờ tôi chỉ cho các bạn tìm kiếm trang bị lỗi trên http://www.google.com/.
Bình thường một chương trình trên mạng đều có một đoạn string đặc biệt trong URL, ví dụ với lỗi Hosting Controller thì sẽ có đoạn "/admin hay /advadmin hay /hosting" hay với forum UBB thì có "cgi-bin/ultimatebb.cgi?", khi chỉ đánh vậy không nó sẽ liệt kê ra cả trang nói về Hosting Controller lẫn trang đang sử dụng Hosting Controller, như thế kết quả ra nhiều nhưng không hiệu quả. Bây giờ các bạn thêm chữ allinurl: trước đoạn string đặc biệt cần kiếm, thì những tran Web tìm kiếm được chắc chắn sẽ có chuỗi cần tìm.
Ví dụ : Khi tôi kiếm server dùng Hosting Controller, tôi vào http://www.google.com/ và đánh "allinurl:/advadmin" (không có ngoặc kép) thì nó chỉ liệt kê ra những trang có URL có dạng : http://tentrangweb.com/advadmin.

Nhân tiện tôi cũng chỉ các bạn cách tìm các file trên http://www.google.com/
Muốn tìm các file trên http://www.google.com/ thì bạn thêm chữ type file: trước tên file cần tìm trên các chuyên khu web.
Ví dụ : bạn muốn tìm file mdb (đây là file chứa Password của các Website, dùng Access để mở) thì bạn vào http://www.google.com/ và đánh type file:mdb
bạn muốn tìm file SAM (đây là file chứa Password của Windows NT, dùng L0phtCrack để Crack) thì bạn vào http://www.google.com/ và đánh type file:SAM

http://www.sanitc.com/itc/NewDetail.asp?ID=52&IDL=122&IDD=594

Hướng dẫn lấy IP của victim khi chát !

Bài viết từ cd hacker mình share cùng các bạn Rất mong sự góp ý của các bạn Bạn phải chat với Victim dể có sự thiết lập IP. Nói chung là giữ Online Connect với Victim.
Hướng dẫn lấy IP của victim khi chát


Bạn phải chat với Victim dể có sự thiết lập IP. Nói chung là giữ Online Connect với Victim.
Mở một cửa sổ DOS prompt
Vào C:gõ lệnh sau: netstat -a
C:\b netstat -a

Lúc dó trên màn hình sẽ xuất hiện 1 số thông tin có dạng nhu sau:
Active Connections

Proto Local Address Foreign Address State
TCP franck-a:0 0.0.0.0:0 LiSTENiNG
TCP franck-a:1091 0.0.0.0:0 LiSTENiNG
TCP franck-a:1090 server5.syd.www.ozemail.net:80 CLOSE_WAiT
TCP franck-a:1099 p3-max35.auck.ihug.co.nz:1054 ESTABLiSHED

Chúng ta chỉ chú ý những dòng nào có chữ ESTABLiSHED, dó là thông báo cho sự nối kết dã duợc thiết lập với bên ngoài.
Nếu chúng ta chat với nhiều nguời, chat bằng cả Yahoo Messenger nữa thì sẽ có nhiều ESTABLiSHED, do vậy chúng cần chú ý và phân biệt xem ai mới thực sự là Victim của mình.

Với ví dụ trên ta thấy p3-max35.auck.ihug.co.nz:1054 ESTABLiSHED là dáng chú ý và quan tâm cả. Còn nếu test trên máy bạn thì nó sẽ khác di nhung ta chỉ cần quan tâm dến dòng tuong tự nhu vậy và có ESTABLiSHED là duợc

Việc tiếp theo của chúng ta là Ping Victim này dể lấy duợc IP thật của họ.
Cung ở của sổ DOS prompt này, ta gõ lệnh Ping p3-max35.auck.ihug.co.nz
:1054 ESTABLiSHED ==è chúng ta không quan tâm cái này nên không cần thêm vào sau lệnh Ping

c:p3-max35.auck.ihug.co.nz
Wow, thật là tuyệt, tới dây ta dã thấy duợc IP thật của Victim rồi.

Pinging p3-max35.auck.ihug.co.nz [209.76.151.67] with 32 bytes of data:
Reply from 209.76.151.67: bytes=32 time=1281ms TTL=39
Request timed out.
Reply from 209.76.151.67: bytes=32 time=1185ms TTL=39
Request timed out.



Ping statistics for 209.76.151.67:
Packets: Sent = 4, Received = 2, Lost = 2 (50% loss),
Approximate round trIP times in milli-seconds:
Minimum = 1185ms, Maximum = 1281ms, Average = 616ms

209.76.151.67 chính là IP mà chúng ta cần tìm của Victim dây.

Chúc các bạn thành công
Cách này mình đã test thử và phát hiện rất tốt IP của victim
Bạn nhớ khi chát với victim nên đóng tất các cửa sổ khác lại,như vậy sẽ chính xác hơn
trojan

http://www.sanitc.com/itc/NewDetail.asp?ID=52&IDL=122&IDD=592

6 thg 4, 2008

Tổng hợp một số phần mềm bảo mật & hack

Home Hồ Sơ Thành Viên Lịch Có Bài Mới Tìm Kiếm Liên kết nhanh Thoát
Tìm kiếm trong chuyên mục

Tìm kiếm chi tiết
Liên kết nhanh
Bài Trong Ngày
Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Mở Sổ Bạn Bè
Khung Ðiều Chỉnh
Sửa Chữ Ký
Thay Ðổi Hồ Sơ
Thay Ðổi Tùy Chọn
Linh Tinh
Nhắn tin
Theo Dõi Ðề Tài
Hồ Sơ Cá Nhân
Go to Page...

Thông tin mới nhất
Survey: Bạn đánh giá thế nào về ITLab?
(¸.·´* Bình chọn cho slogan của ITLab (Vòng 2) *`·.¸)
Hỗ trợ member ITLab trong việc download
Tổng hợp các phần mềm về bảo mật và hack
VIDEO- Hướng dẫn sử dụng NetSupport Manager phần mềm quản lý mạng LAN
Hướng dẫn Cài đặt phần mềm từ xa hàng loạt !


Go Back Diễn Đàn ITLAB.COM.VN > RESOURCES & TUTORIALS > Software > Phần mềm về mạng và bảo mật
Xem Thống Kê Mới Tổng hợp một số phần mềm bảo mật & hack

Chào, haodalat
Vừa ghé thăm: 25-03-2008 lúc 07:37 PM
Nhắn Tin: 0 Chưa đọc, Total 0.

Tìm kiếm trong chuyên mục

Tìm kiếm chi tiết
Find All Thanked Posts
Liên kết nhanh
Bài Trong Ngày
Ðánh Dấu Ðã Ðọc
Mở Sổ Bạn Bè
Khung Ðiều Chỉnh
Sửa Chữ Ký
Thay Ðổi Hồ Sơ
Thay Ðổi Tùy Chọn
Linh Tinh
Nhắn tin
Theo Dõi Ðề Tài
Hồ Sơ Cá Nhân
Phúc Trình Vãng Lai
Go to Page...
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
Trang 1/2 1 2 >
Xem Bài Chưa Ðọc Xem Bài Chưa Ðọc
Ðiều Chỉnh Kiếm Trong Bài Cho Ðiểm Xếp Bài
#1 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 02:20 PM
dinhhoaigiang's Avatar
dinhhoaigiang
Hiện đang: dinhhoaigiang is online now
IT cấp 2

Tham gia ngày: Feb 2008
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 137
Nói lời cảm ơn: 7
Được cảm ơn 103 lần / 41 bài viết
Default Tổng hợp một số phần mềm bảo mật & hack
.Metasploit Framework - Đệ nhất hacker tools

Trước đây NMAP đã được bình chọn là công cụ được yêu thích nhất của SecureProf và các Hacker/SysAdmin vào năm 2000, tuy nhiên sau đó, vào năm 2003 Metasploit đã ra đời và nhanh chóng chiếm vị trí quán quân trong cộng đồng bảo mật và quản trị mạng. Tại sao Metasploit được yêu thích đến vậy, có lẽ lý do chính là một công cụ tòan diện dùng để viết mã khai thác, exploit/penetration test hay hacking hệ thống với nhiều payload/shell code và cập nhật nhanh chóng các lỗi bảo mật mới.

Một số hình ảnh cài đặt và sử dụng Metasploit Framework




Tạo Account từ xa với win32_adduser payload

Download:
Code:

http://www.metasploit.com/framework/download/

thay đổi nội dung bởi: dinhhoaigiang, 04-04-2008 lúc 02:30 PM.
Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
dinhhoaigiang
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới dinhhoaigiang
Tìm bài gửi bởi dinhhoaigiang
Bỏ dinhhoaigiang vào Sổ Bạn Bè
#2 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 02:25 PM
dinhhoaigiang's Avatar
dinhhoaigiang
Hiện đang: dinhhoaigiang is online now
IT cấp 2


Tham gia ngày: Feb 2008
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 137
Nói lời cảm ơn: 7
Được cảm ơn 103 lần / 41 bài viết
Default
.Ettercap – Lord Of The Token Ring:

The Lord Of The Token Ring: đây chính là biệt hiệu mà các attacker gán cho ettercap, còn các chuyên gia bảo mật thì cho nó là một “con quỷ” ở trên LAN thì đúng hơn, và quả thật với nọc độc ARP spoofing của nó, sẽ là một mối nguy hiểm cho những thông tin nhạy cảm của người dùng, ngay cả khi hệ thống sử dụng Swtich cũng có thể bị gãy đổ trước sức mạnh nguy hiểm của Ettercap.

Ngoài ra, theo kinh nghiệm riêng chúng ta vẫn có thể sử dụng ettercap cho những mục đích tốt, và thật oan cho ettercap nếu như chúng ta chỉ xem nó là một công cụ phục vụ cho những mục đích đen tối bới vì thật sự điểm hấp dẫn và “đáng yêu” của ettercap là ở khả năng detect instruction (dò tìm ra những chương trình nghe lén khác trên mạng), hay thậm chí dùng để kill các virus connetion để cô lập các máy bị nhiễm trên mạng…Theo tôi đây là một công cụ 5 Sao của các hacker/sysadmin.
Các message chat và cleartext password bị bắt giữ trên mạng





Và phục vụ cho mục đích bảo vệ hệ thống, dò tìm chương trình nghe lén



Download:
Trích:
http://www.4shared.com/file/42973753..._Ettercap.html
Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
dinhhoaigiang
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới dinhhoaigiang
Tìm bài gửi bởi dinhhoaigiang
Bỏ dinhhoaigiang vào Sổ Bạn Bè
#3 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 02:29 PM
dinhhoaigiang's Avatar
dinhhoaigiang
Hiện đang: dinhhoaigiang is online now
IT cấp 2


Tham gia ngày: Feb 2008
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 137
Nói lời cảm ơn: 7
Được cảm ơn 103 lần / 41 bài viết
Default
. GFI Network Security Scaner – No1 LAN Security Scaner

Một trong những hãng bảo mật chi tiền cho việc quảng cáo sản phẩm nhiều nhất có lẽ là GFI, hầu như vào các trang web chuyên về quản trị hệ thống mạng và bảo mật như windows security, isa server.org hay securityfocus.com… chúng ta đều thấy banner quảng cáo của hãng GFI, và điều đó cũng xứng đáng cho sản phẩm GFI N.S.S (GFI network security scaner),. Với vị trí 5 Sao của mình, GFI NSS có thể dùng để chẩn đóan các lổ hổng bảo mật về hệ thống về chính sách an ninh như audit, password policy cho tòan bộ network kể cả các hệ thống Linux hay thiết bị wireless. Và đặc biệt GFI NSS còn cho phép chúng ta thay đổi các policy trên LAN hay trên một remote computer để tăng cường bảo mật. Bên cạnh đó, các nhà quản trị còn có thể vá lỗi bảo mật cho các máy tính sau khi quét hay đưa ra cac report theo dạng biểu đồ rất thuận tiện cho việc phân tích và lưu trữ. Một công cụ không thể thiếu đối với các chuyên gia bảo mật.

Giải thưởng và tính năng của GFI NSS



Download:
Trích:
http://www.4shared.com/file/42973942...y_Scanner.html
Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
dinhhoaigiang
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới dinhhoaigiang
Tìm bài gửi bởi dinhhoaigiang
Bỏ dinhhoaigiang vào Sổ Bạn Bè
#4 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 02:37 PM
dinhhoaigiang's Avatar
dinhhoaigiang
Hiện đang: dinhhoaigiang is online now
IT cấp 2


Tham gia ngày: Feb 2008
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 137
Nói lời cảm ơn: 7
Được cảm ơn 103 lần / 41 bài viết
Default
.Retina – Sản phẩm tuyệt với nhất của EEYE:

Mặc dù GFI rất mạnh mẽ trong việc quét lỗi bảo mật cho hệ thống cũng như vá lỗi, hardening.. tuy nhiên khi bạn muốn chẩn đóan hay kiểm tra các lỗi bảo mật cho những server hay remote computer nhu web hay mail server thì sản phẩm của hãng bảo mật Eeye : Retina mới là sản phẩm số 1 trong lĩnh vực này. Với Database lớn được cập nhật thường xuyên Retina luôn cảnh báo chính xác các mối nguy hiểm và lỗi bảo mật mới và đưa ra các khuyến nghi cùng với những chỉ dẫn khắc phục, sữa chữa một cách dễ dàng thuận tiện. Điểm yếu của nó là sản phẩm có chi phí license khác cao, vì vậy nếu các quản trị hệ thống muốn một giải pháp tốt về chi phí thì có thể sử dụng 2 công cụ 6 & 7

Retina luôn yêu cầu synchronize dữ liệu với server để bảo đảm các báo cáo chính xác





Download:
Trích:
http://www.4shared.com/file/42974166...y_Scanner.html
Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
dinhhoaigiang
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới dinhhoaigiang
Tìm bài gửi bởi dinhhoaigiang
Bỏ dinhhoaigiang vào Sổ Bạn Bè
#5 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 02:39 PM
dinhhoaigiang's Avatar
dinhhoaigiang
Hiện đang: dinhhoaigiang is online now
IT cấp 2


Tham gia ngày: Feb 2008
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 137
Nói lời cảm ơn: 7
Được cảm ơn 103 lần / 41 bài viết
Default
.Nessus – Network Power Tool:

Có chức năng tương tự như Retina, họat động trên nền Linux OS, hòan tòan miễn phí và là một công cụ rất hữu ích, các bạn có thể tham khảo bài giới thiệu về cách sử dụng Nessus trên web site security365.


Giao diện họat động của Nessus rất chuyên nghiệp, kết quả có thể lưu dạng pdf



Download:
Trích:
http://www.4shared.com/file/42974228...suswx-144.html
Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
dinhhoaigiang
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới dinhhoaigiang
Tìm bài gửi bởi dinhhoaigiang
Bỏ dinhhoaigiang vào Sổ Bạn Bè
#6 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 02:43 PM
dinhhoaigiang's Avatar
dinhhoaigiang
Hiện đang: dinhhoaigiang is online now
IT cấp 2


Tham gia ngày: Feb 2008
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 137
Nói lời cảm ơn: 7
Được cảm ơn 103 lần / 41 bài viết
Default
. NMAP – Hollywood Start Movie (Y2000 The best hacker choice) :

Chạy trên Linux và có cả phiên bản dành cho Windows là một công cụ quét cổng, kiểm tra dịch vụ đang chạy và OS rất mạnh, từng được xếp hạng The Best Hacker Tools và là một ngôi sao thực sự trên phim trường, nếu các bạn chú ý kỹ các phim có cảnh hacker đột nhập vào hệ thống mạng tính thì sẽ thấy Nmap được sử dụng rất nhiều, ví dụ như trong bộ phim Matrixx (Ma Trận) hình dưới đây:



Download:
Trích:
http://www.4shared.com/file/42974366...c3/7_Nmap.html
Code:

http://www.mydatabus.com/public/underwarez/nmap4.53setup.exe

Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
dinhhoaigiang
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới dinhhoaigiang
Tìm bài gửi bởi dinhhoaigiang
Bỏ dinhhoaigiang vào Sổ Bạn Bè
#7 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 02:48 PM
dinhhoaigiang's Avatar
dinhhoaigiang
Hiện đang: dinhhoaigiang is online now
IT cấp 2


Tham gia ngày: Feb 2008
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 137
Nói lời cảm ơn: 7
Được cảm ơn 103 lần / 41 bài viết
Default
.Ethereal – Network Monitor:

Trong quá trình quản lý hệ thống, chúng ta cần biết rõ nguyên nhân của sự gãy đổ của các connection làm cho các ứng dụng không họat động hay băng thông bị tràn ngập bởi những gói tin lạ dẫn đến tình trạn ngẽn mạng…Để tương tác vào các luồng dữ liệu đang lưu chuyển trên mạng này các quản trị mạng và chuyên gia hệ thống thường sử dụng những chương trình network monitor, và chương trình network monitor được yêu thích nhất có lẽ là ethereal do khả năng phân tích gói tin cực kỳ mạnh mẽ và hòan tòan miễn phí, có thể chạy trên cả Windows hay Linux. Ethereal có khả năng lưu trữ nhiều dạng packet và lưu trữ chúng để đọc và kiểm tra bằng các chương trình network monitor khác. Được sử dụng để minh họa cho một trong những bài viết hay nhất trên diễn đàn bảo mật HVA. Ví dụ sau minh họat các packet được capture bởi ethereal



Download:
Trích:
http://www.4shared.com/file/42974769..._Ethereal.html
Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
dinhhoaigiang
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới dinhhoaigiang
Tìm bài gửi bởi dinhhoaigiang
Bỏ dinhhoaigiang vào Sổ Bạn Bè
#8 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 03:30 PM
underwarez's Avatar
underwarez
Hiện đang: underwarez is offline
Administrator


Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gửi: 1,839
Nói lời cảm ơn: 123
Được cảm ơn 250 lần / 157 bài viết
Default
Giới thiệu mọi người cái putty:

Hướng dẫn Fake ip bằng host SSH và Putty!
Trước hết bạn hãy down putty về, rồi làm theo các bước sau để fake ip :
PUTTY
1/ Mở nó lên, vào tunnels , gõ vào source port : 1080, chọn Dynamic, rồi nhấn vào Add
2/ Chọn session , điền vào host name hoặc ip, port 22 để connect vào host ssh. Nhớ chọn SSH.
Nhớ đặt tên cho session ở ô save session để lần sau tiện vào lại.
3/ Login vào host ssh của bạn.
4/ Vào IE vào Internet option, chọn connections, chọn Lan setting, Chọn User a proxy… chọn Advanced.
Ở o sock : gõ vào 127.0.0.1 hoặc localhost, port mà bạn đã chọn ở bước 1, ở đây là 1080. Chọn Sock5.
Giờ bạn hãy check lại ip của mình ở ip2location.com hoặc showip.com…
Ưu điểm của cách fake ip bằng host ssh thế này là lướt web nhanh và an toàn.

Download:

Code:

http://www.mydatabus.com/public/underwarez/putty.exe

Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
underwarez
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới underwarez
Tìm bài gửi bởi underwarez
Bỏ underwarez vào Sổ Bạn Bè
#9 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 03:34 PM
underwarez's Avatar
underwarez
Hiện đang: underwarez is offline
Administrator


Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gửi: 1,839
Nói lời cảm ơn: 123
Được cảm ơn 250 lần / 157 bài viết
Default
reshack là phần mềm chuyên dùng để việt hóa phần mềm chỉnh sửa cấu trúc file và cái cuối cùng là ăp cướp bản quyền phần mềm

Code:

http://www.mydatabus.com/public/underwarez/ResHack.zip

Hoặc:

Code:

http://www.angusj.com/resourcehacker/reshack.zip

Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
underwarez
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới underwarez
Tìm bài gửi bởi underwarez
Bỏ underwarez vào Sổ Bạn Bè
#10 Thông Báo Nội Dung Xấu
Unread 04-04-2008, 03:37 PM
underwarez's Avatar
underwarez
Hiện đang: underwarez is offline
Administrator


Tham gia ngày: Dec 2007
Bài gửi: 1,839
Nói lời cảm ơn: 123
Được cảm ơn 250 lần / 157 bài viết
Default
Rainbow*****,phần mềm chuyên dùng để phá các dạng mã hóa bảo mật:

Download:

Code:

http://www.mydatabus.com/public/underwarez/rainbow*****1.2win.zip

Hướng dẫn sử dụng:

Code:

http://www.antsight.com/zsl/rainbow*****/r*****tutorial.htm

Mấy chỗ dấu * thay bằng cr@ck chữ a viết thường nhé
Trả Lời Với Trích Dẫn Multi-Quote This Message Nói lời cảm ơn
underwarez
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới underwarez
Tìm bài gửi bởi underwarez
Bỏ underwarez vào Sổ Bạn Bè
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
Trang 1/2 1 2 >

« Ðề Tài Trước | Ðề Tài Kế »

Lời Nhắn Từ Diễn Ðàn

Hũy thay đổi
Trả lời nhanh
Lỗi gặp phải khi gởi bài
Okay
Bài viết:
Hủy bỏ định dạng văn bản

Fonts
Arial
Arial Black
Arial Narrow
Book Antiqua
Century Gothic
Comic Sans MS
Courier New
Fixedsys
Franklin Gothic Medium
Garamond
Georgia
Impact
Lucida Console
Lucida Sans Unicode
Microsoft Sans Serif
Palatino Linotype
System
Tahoma
Times New Roman
Trebuchet MS
Verdana


Ðậm

Nghiêng

Gạch Dưới

Bên Trái

Chánh Giữa

Bên Phải




Chèn liên kết

Bỏ Hình Vào Bài

Đặt trong thẻ [QUOCTE].

Decrease Size
Increase Size

Switch Editor Mode
Tùy Chọn
Kèm theo chữ ký
Kèm theo trích dẫn của bài trên
Đang trả lời nhanh - Bạn hãy đợi trong giây lát Đang trả lời nhanh - Bạn hãy đợi trong giây lát

Ðang đọc: 1 (1 thành viên và 0 khách)
haodalat

Ðiều Chỉnh
Tạo trang in Tạo trang in
Email trang này Email trang này
Subscription Theo dõi đề tài này
Xếp Bài
Chế độ bình thường Chế độ bình thường
Chế độ pha trộn Chuyển sang chế độ Pha trộn
Chế độ Dạng cây Chuyển sang chế độ dạng cây
Kiếm Trong Bài

Tìm kiếm chi tiết
Cho Ðiểm Chủ Ðề Này
Rất tốtRất tốt
TốtTốt
Trung bìnhTrung bình
TệTệ
Quá tệQuá tệ
Quyền Hạn Của Bạn
Bạn được quyền gởi bài
Bạn được quyền gởi trả lời
Bạn được quyền gởi kèm file
Bạn được quyền sửa bài
vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến
Khung Ðiều ChỉnhNhắn tinÐang theo dõiPhúc Trình Vãng LaiTìm kiếm trong chuyên mụcTrang Ðầu WELCOME TO ITLAB Thông báo và quy định chung Các bài viết có giá trị Hand-on Lab Ý kiến đóng góp IT News TECHNICAL CENTER MICROSOFT AREA [70-270 | 70-290 | 70-620] Managing Windows XP - 2K3 - Vista [70-291 | 70-293] Network Infrastructure [70-298 | 70-299] Implementing Security [70-284 | 70-285 | 70-236] Exchange Server 2003 - 2007 [70-294 | 70-297] Active Directory [70-350 | 70-351] ISA Server 2004 - 2006 Các môn học khác [70-272 | 70-292 | 70-296 ...] SECURITY Các vấn đề khác RESOURCES & TUTORIALS TUTORIALS Microsoft Security Kiến thức cơ bản về mạng Tutorials on demand Video trainings E-books Microsoft Security E-books tiếng Việt Network basic e-books Tài liệu luyện thi chứng chỉ M$ E-book theo yêu cầu Software Phần mềm về mạng và bảo mật Phần mềm thông thường Phần mềm theo yêu cầu Các tài nguyên khác OFFTOPICS – CHATTING Khu học viên ITLab Tán gẫu Quảng cáo,rao vặt,cơ hội nghề nghiệp... Khu giải trí Thùng rác



Alexa Certified Site Stats for forum.itlab.com.vn
The time now is
Powered by: vBulletin v3.6.8 Copyright ©2000-2008, Jelsoft Enterprises Ltd.
Style Design by ITLab Để chế độ phân giả tốt nhất 1024x864 hoặc cao hơn

Liên Lạc | ITLAB Academy | Lưu Trữ | Trở Lên Trên


http://forum.itlab.com.vn/forum/showthread.php?t=2056