Hiển thị các bài đăng có nhãn NAT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NAT. Hiển thị tất cả bài đăng

21 thg 4, 2008

Nghệ thuật NAT - Phần 2: Dành cho người dùng bình dân

ADSL ngày càng mạnh và lan tỏa thì nhu cầu chia sẻ dữ liệu thông qua mạng cũng rất lớn, cũng như nhu cầu giải trí thông qua Game Online đang rất thịnh hành. Thông thường, các máy tính khi sử dụng mạng ADSL tại Việt Nam thường dùng thông qua một Router nhất định thông qua cơ chế NAT.

Chính vì thế, để cấu hình một cách tự động cơ chế chuyển Port trong Router để có thể kết nối cùng nhau nhiều máy vi tính là điều mà nhiều bạn quan tâm. Cách này được xem là khá hữu ích cho những dân ghiền Game là có thể chơi Online trên cơ sở Offline, và muốn tự tạo Server riêng để các người bạn có thể cùng nhau chơi game trên đường truyền Interner tương tự như khi chơi qua LAN. Với PFConfig là những gì bạn cần trong trường hợp này.

Chương trình sẽ tự động chuyển Port thông qua NAT một cách tự động trên khá nhiều Router và Modem. Ngoài ra, PFConfig còn hỗ trợ khá nhiều ứng dụng cho phép bạn thoải mái hơn khi dùng chung với nhiều máy khác thông qua môi trường ADSL, đặc biệt là các ứng dụng chia sẻ ngang hàng và các ứng dụng Game Offline.

PFConfig là phiên bản có phí. Tuy nhiên, bạn có thể dùng miễn phí nếu chỉ dùng chuyển port tự động mà không muốn lập trình phần cứng trên Router. Bạn có thể tải PFConfig phiên bản mới nhất 1.0.187 tại http://www.portforward.com/store/PFCSetup1.0.187.exe. Dung lượng của PFConfig là 2.38MB. Tương thích mọi phiên bản Windows.

Sau khi tải và cài đặt thành công, bạn cần khởi động lại máy để có thể sử dụng chương trình.

Ngay lần khởi động đầu tiên, bạn chọn Cancel, sau đó nhấn tiếp OK để bắt đầu sử dụng chương trình.

Tại khung chính của chương trình, bạn chọn Tools > Select Router để hiển thị hộp thoại chọn thiết bị phần cứng tương ứng.





Khi hộp thoại Select Your Router hiển thị, bạn nhấn chọn vào Update List để hiển thị toàn bộ danh sách thiết bị mới nhất từ trang chủ nhà sản xuất. Sau khi hoàn tất, bạn chọn vào mục Router tương ứng. Theo thống kê có khoảng hơn 40 nhà sản xuất góp mặt trong chương trình. Sau khi chọn xong nhà sản xuất, danh mục Router sẽ hiển thị ở khung tương ứng bên phải. Bạn nên chú ý vào dòng sản phẩm trên kết nối của mình để có lựa chọn đúng đắn. Thông thường đường truyền FPT thường sử dụng loại Router ZyXel 4 Port hiệu Prestige600. Bạn nhấn Next để qua bước tiếp theo.

Tại phần Router Settings cho bạn chọn thông số IP của Router. Các thông số này thường được PFConfig tự động thiết lập. Bạn chỉ nên điền User và mật khẩu tương ứng để hoàn tất. Thông thường User và mật khẩu mật định tương ứng là Administrator và 1234 hoặc xem thông số manual trên Router. Nhấn Finish để hoàn tất.





Bây giờ mọi công việc của bạn đã hoàn tất. Bạn quay lại khung chính của chương trình.





Trong phần Applications, bạn sẽ thấy hai phần nhỏ và Default Applications và Custom Application. ở phần Default cho bạn lựa chọn các chương trình cần PFConfig tự động chuyển port cho ứng dụng. Đa phần các ứng dụng từ mục Default đều dành cho các Game thủ khi muốn chơi Online và cho một số Game Offline hay và tiêu biểu. Một số ít ứng dụng nhỏ dành cho chia sẻ ngang hàng như Chat, chia sẻ file, Webcam...Bạn chỉ cần chọn ứng dụng, sau đó, nhấn chọn Forward this App.





Phần Select Target hiển thị cho bạn chọn dạng máy chủ thông qua IP. Bạn có thể tự động chọn máy chủ của mình thông qua This Computer (Default Option) hoặc chọn một Server khác sau khi đã gán IP thong qua tùy chọn Another Computers on my Network. Nhấn Finish. Bây giờ, bạn sẽ có một IP dành riêng có dạng xxx.xxx.xxx.xxx: số Port dành cho Game hoặc ứng dụng cần chia sẻ . Bạn chỉ việc Share IP này cho người bạn cùng chơi game và để họ thiết lập trong phần TCP/IP là có thể kết nối để cùng chơi game hay chia sẻ ngang hàng.

Nếu ứng dụng bạn sử dụng không có trong danh mục (thường rất ít khi xảy ra), bạn có thể chọn vào mục Custom Application, sau đó chọn New. Sau đó nhập tên của ứng dụng vào khung tương ứng. Nhấn Next. Nhập nội dung cổng TCP (thông thường là 80). Sau đó nhấn Finish và thao tác như với mục Default Application. Rất nhanh và thuận lợi.

Các Game Offline được nhiều người chơi cũng đều được chương trình hỗ trợ như: FIFA, Age Of Empires, Age Of Empires II, Age Of Empires III, Age Of Mythology, Battle Realms, Red Alert, Need For Speed, StarCraft, The Lord Of The Rings...Các ứng dụng chia sẻ ngang hàng như Emule,Webcam...


Theo xhtt

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/3/37846.html

Nghệ thuật NAT - Phần 1: Các yếu tố kỹ thuật cho người dùng cấp cao

Nếu như cân bằng tải (Load Balancing) là linh hồn của các trung tâm xử lý dữ liệu lớn hiện nay thì dịch địa chỉ mạng (Network Address Translation - NAT) là trái tim của "load balancing". Kỹ thuật NAT được sử dụng khá phổ biến, nhưng khi vận dụng vào Load Balancing ta mới thấy hết sự đa dạng và tài tình như thế nào.

NAT là kỹ thuật thay đổi các địa chỉ mạng (Network Address) trong một gói tin (packet) để gây ảnh hưởng trong quá trình định hướng đi của packet cho một mục đích cụ thể. Địa chỉ mạng ở đây muốn nói đến địa chỉ IP (Internet Protocol) ở layer 3, ngoài ra còn có thể thay đổi số port ở layer 4 theo mô hình phân lớp OSI. Bên cạnh đó địa chỉ mạng còn được phân biệt địa chỉ nguồn (source) và địa chỉ đích (destination). Tùy theo mục đích dùng NAT mà ta thay đổi một số hoặc tất cả các loại địa chỉ trên trên cùng một packet.

Xét mô hình load balancing như sau





Chúng ta sẽ xem các kỹ thuật NAT sử dụng trong load balancing như thế nào.

Destination NAT

Đây là loại hình NAT phổ biến nhất, ta còn hay gọi là "NAT xuôi", hay "NAT vào". NAT theo kiểu này chỉ thay đổi địa chỉ IP đích của gói tin mà không đụng đến các thành phần khác. Đây cũng là kiểu được sử dụng mặc định trong load balancing theo cách sau:

- Khi client gửi packet request R tới bộ cân bằng tải (load balancer), R sẽ có dest IP là VIP của load balancer (141.149.65.3), source IP là IP của client (188.1.1.10). Do load balancer đại diện cho tất cả những server thực đằng sau nên IP của load balancer cũng là địa chỉ đại diện, client sẽ chỉ liên hệ với load balancer mà không biết được địa chỉ thật của các server là gì. Địa chỉ IP đại diện của load balancer còn được gọi là địa chỉ IP ảo (Virtual IP - VIP)

- Load balancer sẽ gửi R đến server 2 để xử lý nên nó thực hiện thay dest IP trong R thành IP của server 2 (10.10.10.20), source IP vẫn giữ nguyên (188.1.1.10). Thao tác này gọi là Destination NAT.

- Nhờ có dest IP là IP của server 2 nên R sẽ được định tuyến tiếp đến server 2 xử lý.

- Khi server 2 trả lời, packet reply sẽ đi qua lại load balancer. Tại đây packet được un-NAT, nghĩa là thay lại địa chỉ IP của server 2 (lúc này trở thành source IP) bằng VIP của load balaner.

Reverse NAT

Trong cơ chế load balancing, các server thật chỉ được cấp địa chỉ IP private (vì nhiều lý do, trong đó có sự hạn chế về số lượng IP public và tính bảo mật), nghĩa là không thể đi ra Internet được. Load balancer thường được public ra Internet để nhận request cho các server bên trong nên nó thường có một địa chỉ IP public để các client kết nối từ bên ngoài vào, và địa chỉ này cũng là VIP. Khi client muốn sử dụng dịch vụ của server bên trong, load balancer thực hiện việc chuyển đổi địa chỉ dest IP từ public sang private để đến được server, đó là kiểu NAT ta xét ở trên. Trong trường hợp ngược lại, khi server bên trong muốn khởi tạo kết nối với bên ngoài Internet, load balancer phải thực hiện việc chuyển địa chỉ source IP của packet đi ra từ private sang public để có thể lưu thông trên Internet. Do cách hoạt động như vậy nên kiểu NAT này còn được gọi là SourceNAT, "NAT ngược", hay "NAT ra".

Port-Address Translation (PAT)

Hai trường hợp trên ta đã xem xét hai kiểu thay đổi địa chỉ IP, trường hợp thứ ba này còn được gọi là "NAT port", nghĩa là số port TCP/UDP ở trong packet sẽ bị thay đổi (ở đây ta không xét đến các protocol khác cũng có dùng port). PAT cũng là một phần tất yếu của load balancing. Cách hoạt động của nó cũng rất đơn giản: Khi ta liên kết (bind) port 80 của VIP trên load balancer đến port 1000 trên server thật, load balancer sẽ thực hiện việc chuyển đổi và đẩy toàn bộ yêu cầu port 80 (dest port) đến port 1000 trên server.

Những lợi ích khi ta thực hiện PAT:

- Bảo mật là ích lợi đầu tiên mà ta thấy ngay. Bằng cách không mở những cổng mặc định trên server, ta có thể gây khó khăn hơn cho việc tấn công ác ý. Chẳng hạn, ta có thể chạy một Web server trên port 4000, và liên kết port 80 của VIP trên load balancer đến port 4000 của server thật. Lúc bấy giờ, kẻ tấn công không thể khai thác trực tiếp lên port 80 của server thật được, vì nó không được mở.
- Khả năng co dãn (scalability) PAT cho phép ta chạy cùng một ứng dụng trên nhiều port. Tùy theo cách thiết kế ứng dụng, có thể việc chạy nhiều bản sao của nó sẽ làm tăng hiệu suất phục vụ lên. Chẳng hạn ta có thể chạy máy chủ web IIS trên các port 80, 81, 82 của mỗi server thật. Sau đó chỉ cần liên kết port 80 của VIP với mỗi port chạy IIS của server thật. Load balancer sẽ phân bổ lưu thông không chỉ cho các server mà còn giữa các port trên từng server.
- Khả năng quản trị (manageability) chẳng hạn khi host nhiều website trên một bộ các server thật, ta có thể chỉ cần dùng một VIP để đại diện cho tất cả các domain của các website. Lúc này load balancer sẽ nhận tất cả các request đến port 80 ở cùng một VIP. Web server của ta có thể chạy mỗi domain trên một port khác nhau, chẳng hạn www.abc.com trên port 81, www.xyz.com trên port 82. load balancer có thể gửi lưu thông đến port phù hợp dựa trên domain trong URL của mỗi HTTP request.

Full NAT

Như vậy ta đã xét kỹ thuật NAT thay đổi lần lượt địa chỉ đích, địa chỉ nguồn, rồi thay đổi port khi cân bằng tải. Mỗi sự thay đổi là một loại hình NAT có ứng dụng trong từng trường hợp riêng. Kết hợp các kiểu thay đổi này lại, ta có một kiểu NAT khác phức tạp hơn là Full NAT. Kiểu NAT này có tên gọi như vậy vì nó bao gồm các thay đổi sau đây trên gói tin request:
- Địa chỉ IP nguồn (source IP)
- Địa chỉ IP đích (dest IP)
- Port nguồn (source port)

Lưu ý source port ở đây là port của client, còn dest port là port được request trên server, chẳng hạn port 80 ở ví dụ trên.

Xem mô hình như sau:





Mô hình load balancing này khác với mô hình trong những kiểu NAT trên ở chỗ, packet từ server reply có thể bỏ qua load balancer mà đi thẳng đến client ở ngoài Internet. Vấn đề ở chỗ địa chỉ IP của server vẫn là private IP, do đó đương nhiên packet reply mang "biển số tỉnh" sẽ chẳng bao giờ đến được client.

Vậy thì bằng cách nào để buộc server phải trả lời thông qua load balancer để được NAT địa chỉ IP đi ra Internet? Cách đơn giản nhất là ta có thể khai báo cho load balancer là default gateway của các server. Nhưng cách này yêu cầu load balancer phải ở cùng subnet với các server (cùng Layer 2 broadcast domain). Nếu không thể nằm cùng subnet thì sao? Đây là chỗ Full

NAT được sử dụng.

Khi được thiết lập để thực hiện Full NAT, load balancer sẽ thay source IP của tất cả các request packet bằng một địa chỉ được khai báo trên load balancer, xem như là source IP, rồi thay dest IP (lúc này đang là VIP) thành IP của server (10.10.10.20), trước khi gửi đến server 2. Source IP này có thể giống hoặc khác VIP, tùy vào từng sản phẩm load balancer. Như vậy tương tự như proxy, lúc này server thật sẽ xem load balancer như là client yêu cầu mình, và không quan tâm đến client thực sự nữa. Vì thế server sẽ reply lại cho load balancer và load balancer sẽ đổi lại dest IP thành IP của client thực sự (188.1.1.100) để gửi đi.

Như vậy source port được thay đổi ở chỗ nào? Mỗi lần thay đổi một source IP của client thành source IP của load balancer, gọi là một session, thì load balancer thực hiện lưu lại những thông tin của client trong session đó bằng cách đổi source port trong cùng packet (lúc này đang là source port của client).

Source port lúc này có ý nghĩa như là một session ID không hơn không kém. Khi server reply về cho load balancer, source port cũng được gửi trả về theo packet reply. Dựa vào source port này, load balancer xác định được session của client trong bảng lưu để thay lại source IP, source port của client như cũ.

Ưu điểm của kiểu NAT này là cho phép bạn thực hiện việc thay đổi địa chỉ thông qua load balancer trên mọi topology mạng. Nhược điểm là không lấy được các thông tin về IP, port từ phía client. Những ứng dụng như Web có sử dụng thông tin từ source IP của client thì không nên dùng mô hình này. Một số sản phẩm load balancing còn cung cấp chức năng log và report source IP của các request.

Enhanced NAT

Những kỹ thuật NAT vừa trình bày ở trên đều xoay quanh việc thay đổi địa chỉ IP, cũng như port trong packet header. Tuy nhiên có những protocol đặc biệt chứa thông tin địa chỉ hay port nhúng trong packet payload, cũng cần phải được thay đổi cùng với packet header.

Điều này đòi hỏi load balancer phải hiểu biết theo từng protocol cụ thể. Khái niệm enhanced NAT nói đến kiểu NAT phức tạp được BLer thực hiện với những hiểu biết theo từng protocol cụ thể để làm cho những protocol đó hoạt động được với việc cân bằng tải.

Trong số các protocol đặc biệt đó, thông dụng nhất là các protocol streaming media (ví dụ RTSP - Real Time Streaming Protocol). Đây cũng là các protocol sử dụng cân bằng tải phổ biến nhất, vì chúng cực kì ngốn tài nguyên mạng và tính toán khi phải phục vụ đồng thời cho hàng trăm đến hàng ngàn người sử dụng.

Các protocol streaming thường gồm có hai kết nối, một kết nối điều khiển xây dựng trên TCP và một kết nối dữ liệu dựa trên UDP. Để khởi đầu, client khởi tạo một kênh điều khiển đến một well-known port trên server. Client và server sẽ thoả thuận các điều khoản cho kênh điều khiển. Sự thoả thuận gồm có IP của server và số port của server mà client sẽ gửi dữ liệu đến trên kết nối dữ liệu.

Nếu các server có địa chỉ IP private, load balancer sẽ thực hiện Destination NAT cho kết nối điều khiển. Nhưng đồng thời load balancer cũng phải xem các thông tin thoả thuận và thay đổi mọi thông tin về địa chỉ IP hay port mà server và client trao đổi sao cho client sẽ gửi dữ liệu đến VIP public chứ không phải IP private của server (những thông tin này nằm trong payload của packet).

Hơn nữa, dest port được chọn trong quá trình thoả thuận lại không biết trước được nên BLer phải xử lý request ngay cả khi port chưa được liên kết đến bất kỳ server nào.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp lại có những chính sách bảo mật trên tường lửa làm cho những kết nối dữ liệu trên nền tảng UDP có thể không thành công. Do đó nhiều hệ thống streaming media cho phép stream trên nền HTTP, nghĩa là toàn bộ dòng dữ liệu sẽ được gửi đi bằng kết nối được thiết lập bởi giao tiếp HTTP. Điều này làm cho việc NAT trở nên nhẹ nhàng hơn.

Direct Server Return (DSR)

Lại xét mô hình cân bằng tải thứ hai. Với mô hình này ta đã xem hai cách xử lý cùng với các ưu nhược điểm của chúng là gán BLer làm default gateway hay dùng kỹ thuật Full NAT để ép các reply của server phải đi qua load balancer.

Nhưng trường hợp ta muốn server trả lời trực tiếp cho client mà không thông qua BLer thì sao? Đây không phải là câu hỏi vô lý, vì trong trường hợp năng lực xử lý của BLer bị giới hạn, thì việc tách dòng lưu thông reply đi trực tiếp mà không qua BLer sẽ giúp load balancer tập trung vào xử lý các lưu thông request hiệu quả hơn, tránh tắc nghẽn, nâng cao hiệu suất.

Nhưng với địa chỉ IP private, các server làm sao trả lời trực tiếp qua Internet đến client được? Chỉ với một chút phù phép xoay quanh các địa chỉ IP là vấn đề sẽ được giải quyết: khi được thiết lập để thực hiện DSR, load balancer không chuyển dest IP thành IP của server mà vẫn giữ nguyên là VIP (public IP). load balancer chỉ đổi dest MAC thành MAC của server để packet có thể đến được server. Như vậy giới hạn của DSR là load balancer và các server phải nằm cùng subnet.

Vấn đề còn lại là làm sao để khi server nhận request packet từ load balancer chuyển đến sẽ không từ chối, vì dest IP không phải là IP của server, mà là VIP! Một cách đơn giản, ta cấu hình để VIP là địa chỉ của loopback interface trên mỗi server. Load balancing dùng cách này vì lợi dụng những tính chất thú vị sau đây của loopback interface:

- Có thể gán bất kỳ địa chỉ IP nào, không bắt buộc phải bắt đầu bằng 127.

- Vì loopback interface không phải là một thiết bị thật, nó không có địa chỉ MAC, nên hệ thống sẽ không trả lời cho các request ARP. Do đó sẽ không có hệ thống bên ngoài nào biết được địa chỉ IP của loop back interface. Tuy nhiên, hệ thống vẫn nhận request đến IP của loop back interface và trả lời như là các interface khác.

Ta có thể thiết lập một địa chỉ IP public cho loop back interface trên Linux như sau:

ifconfig lo 141.149.65.3 netmask 255.255.255.0 up

Như vậy, bằng một chút thủ thuật với các địa chỉ, server thật không cần địa chỉ IP public vẫn có thể nhận request và trả lời trực tiếp cho client.

DSR rất hữu ích cho những ứng dụng tốn băng thông như FTP, streaming media, khi mà kích thước packet reply là rất lớn so với kích thước packet request. Kỹ thuật này cũng được ứng dụng cho những protocol đòi hỏi phức tạp khi thực hiện NAT hay không được load balancer hỗ trợ.

Chẳng hạn những giao thức streaming media như trong phần Enhanced có đề cập, thì ta có thể dùng DSR thay vì NAT. Người ta cũng cân nhắc DSR khi triển khai load balancing trên mô hình mạng như mô hình 2, khi mà lưu thông reply từ server không đảm bảo là sẽ đi qua lại load balancer.

Kết luận

NAT tạo nên nền tảng của load balancing. NAT trong load balancing rất đa dạng, tùy thuộc vào từng tình huống mà ta áp dụng. Càng đi sâu, ta càng thấy cái hay trong việc xử lý thông tin của các packet, những đối tượng luận lý để giải quyết các vấn đề vật lý thú vị như thế nào. Nắm vững các kỹ thuật NAT giúp ta có thể triển khai các hệ thống cân bằng tải một cách an toàn và hiệu quả nhất.

Theo xhtt

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/3/37715.html

20 thg 4, 2008

Khái quát về NAT

Khái quát về NAT

NAT hay còn gọi là Network Address Translation là một kỉ thuật được phát minh lúc khởi đầu dùng để giải quyết vấn đề IP shortage, nhưng dần dần nó chứng tỏ nhiều ưu điểm mà lúc phát minh ra nó người ta không nghĩ tới, một trong những lợi điểm của NAT ngày nay được ứng dụng nhiều nhất là NAT cho phép

1. Chia sẽ kết nối internet với nhiều máy bên trong LAN với một địa chỉ IP của WAN

Một lợi điểm nữa của NAT là nó có thể làm việc như một

2. Firewall, nó giúp dấu tất cả IP bên trong LAN với thế giới bên ngoài, tránh sự dòm ngó của hackers.
3. Tính linh hoạt và sự dễ dàng trong việc quản lý

NAT giúp cho các home user và các doanh nghiệp nhỏ có thể tạo kết nối với internet một cách dễ dàng và hiệu quả cũng như giúp tiết kiệm vốn đầu tư.

NAT cũng có nhiều loại hay hình thức khác nhau, chúng ta sẽ nói sơ lược qua các dạng NAT

Static NAT

Với static NAT thì sự chuyển đổi packet giữa hai network, giữa nguồn và địa chỉ đến trở nên đơn giản và nhất định, các điều kiện về trạng thái kết nối không cần phải giử lại. Nó chỉ cần nhìn vào mỗi IP packet khi chuyển đổi, các thông tin về mapping đều không cần thiết. Static NAT sử dụng khi số lượng IP trong LAN bằng số lượng NAT-IP.

Các bạn có thể tham khảo hình sau đây về cấu hình static NAT.

Dynamic NAT

Dynamic NAT khác với static là các địa chỉ host IP được thay đổi liên tục mỗi lần tạo kết nối ra ngoài các host này sẽ nhận được một địa chỉ NAT-IP và mỗi lần như vậy NAT sẽ giữ lại thông tin IP của host này trong NAT Table của nó và cứ như thế. Tuy nhiên cái bất lợi của dynamic NAT là khi NAT-IP được cung cấp hết do cùng một lúc có nhiều host rong LAN gởi yêu cầu thì lập tức sẽ không còn bất kì một kết nối nào được chuyển dịch nữa qua NAT vì NAT-IP đã được cấp phát hết và như vậy nó phải đợi tới lần kết nối sau.

Các bạn có thể tham khảo hình sau đây để có thể hiểu cách làm việc của Dynamic NAT

*

NAT rule: Dynamic translate tất cả IP thuộc class B 138.201 đến một địa chỉ thuộc class C 178.201
*

Mỗi một kết nối từ bên trong muốn ra ngoài sẽ được NAT cung cấp một địa chỉ trong số lượng IP sẳn có của NAT, nếu các NAT-IP này được cấp phát hết thì các connection từ class B sẽ không thể ra ngoài được nữa.

NAT ngụy trang hay giả lập (Masquerading)

Đây là dạng NAT phổ thông mà chúng ta thường gặp và sử dụng ngày nay trong các thiết bị phần cứng hay phần mềm routing như router hay các phần mềm chia sẽ internet như ISA, ICS hay NAT server mà lát nữa đây chúng ta sẽ có dịp tìm hiểu cách thiết lập nó.

Dạng NAT này hay còn được gọi với một cái tên NPAT (Network Port Address Translation), với dạng NAT này tất cả các IP trong mạng LAN được dấu dưới một địa chỉ NAT-IP, các kết nối ra bên ngoài đều được tạo ra giả tạo tại NAT trước khi nó đến được địa chỉ internet.

Các bạn có thể tham khảo hình dưới đây để tìm hiểu cách làm việc của NAPT

*

NAT rule: Giả trang internet IP address 138.201 sử dụng địa chỉ NAT router
*

Cho mỗi packets được gởi ra ngoài IP nguồn sẽ được thay thế bằng NAT-IP là 195.112 và port nguồn được thay thế bằng một cổng nào đó chưa được dùng ở NAT, thông thường là các cổng lớn hơn 1204.
*

Nếu một packet được gởi đến địa chỉ của router và port của destination nằm trong khoảng port dùng để masquerading thì NAT sẽ kiểm tra địa chỉ IP này và port với masquerading table của NAT nếu là gởi cho một host bên trong LAN thì gói tin này sẽ được NAT gắn vào địa chỉ IP và port của host đó và sẽ chuyển nó đến host đó.

Hy vọng những gì được đưa ra ở trên, phần nào giúp bạn có chút kiến thức căn bản về NAT để bước tiếp theo sau chúng ta sẽ làm quen với cấu hình của NAT server.

Setup NAT Server

1.

Bước đầu tiên thiết lập NAT bạn cần phải enable RRAS. Start, Programs, Administrative Tools, Routing and Remote Access (RRAS)
2.

Trong mục Routing and Remote Access, bạn right click vào tên server chọn Configure and Enable Routing and Remote Access như hình dưới đây.



3.

Sau khi bạn chọn Configure and Enable Routing and Remote Access, welcome windows sẽ hiện lên, bạn chỉ việc click Next.

4.

Ở phần Common Configurations như hình dưới đây, bạn nên chọn vào mục Manually configured server, sau đó click Next.



5.

Ở Windows tiếp theo bạn chọn Finish và tiếp theo chọn Yes như hình dưới đây



6.

Bưới tiếp theo sau là bạn chọn giao thức để routing theo hình dưới đây. Chọn New Routing Protocol



7.

Trong phần New Routing Protocol bạn chọn Network Address Translation (NAT). Click OK theo hình dưới



8.

Như vậy là bạn vừa cài xong giao thức NAT. Để NAT có thể làm việc bạn cần xác định NIC card nào dành cho NAT và NIC card nào dành cho mạng LAN. Theo hình dưới đây bạn right click vào Network Address Translation, chọn New Interface



9.

Trong phần New Interface for Network Address Translation (NAT), bạn chọn NIC card tên WAN cho phần kết nối với internet, chọn OK



10.

Sau khi bạn chọn NIC card cho phần kết nối với internet bạn hãy check vào hai thư mục như hình dưới đây và, click vào phần Address Pool



11.

Trong phần Address Pool này bạn chọn mục ADD và sau đó nhập vào dãy số địa chỉ IP mà các ISP cung cấp cho bạn nếu bạn sử dụng NAT này làm gateway, hoặc bạn có thể tự cài dãy số IP theo ý bạn muốn, tuy nhiên lưu ý phần subnet nếu bạn tự cài IP range



12.

Sau khi bạn chọn mục ADD ở trên thì bạn có thể nhập vào dãy số mà ISP cung cấp cho bạn, trong trường hợp này IP range của mình được cấp phát như hình dưới đây và, chọn OK



13.

Dãy số IP range mà bạn vừa nhập vào sẽ dùng để mapping giữa NAT IP và các host trong LAN khi cần. Trong trường hợp bạn sử dụng dynamic IP thì phần Address Pool này bạn không cần phải điền vào và sẽ đi thẳng tới bước 19. Nếu cũng có thể reserve một địa chỉ NAT-IP cho riêng một địa chỉ server nào đó trong LAN, bạn có thể chọn mục Reservations theo hình dưới đây



14.

Sau khi bạn chọn Reservations thì bạn có thể nhập địa chỉ nào bạn muốn bảo quản riêng cho một server trong LAN, bạn có thể nhập vào đây theo hình dưới, trong trường hợp này mình muốn server với địa chỉ 192.168.0.15 được static NAT với địa NAT-IP là 68.122.45.220 nếu bạn không muốn add static NAT vào đây thì bạn có thể tiếp tục sang bước 15, còn không thì bạn click OK



15.

Trong mục Spcial Ports này cho phép bạn mở những cổng cần thiết để các dịch vụ của các host bên trong LAN được quyền truy cập cũng như bên ngoài có thể truy cập được các dịch vụ này của các host trong LAN, chọn giao thức TCP. Click vào mục Add ở phía dưới



16.

Trong phần Add Special Port, bạn add vào các port cần thiết tưng xướng với địa chỉ IP của từng server bên trong LAN như thí dụ dưới đây, bạn có thể chọn vào mục On this interface hay On this address pool entry. Nếu bạn chọn On this interface và nhập vào địa chỉ IP của server trong LAN là 192.168.0.15 thì tất cả các IP được cài trên NIC WAN sẽ chịu trách nhiệm translate qua cho địa chỉ IP 192.168.0.15 với port là 80 và, cứ tiếp tục add các port cần thiết cho các dịch vụ của bạn. Nếu bạn chọn mục On this address pool entry thì chỉ có một địa chỉ là 68.122.45.220 chịu trách nhiệm liên lạc và masqurerading giữa địa chỉ này và 192.168.0.15 và ngược lại



17.

Đây là những ports cần thiết dành cho các dịch vụ của các server bên trong LAN, tùy theo yêu cầu của từng dịch vụ bạn sẽ sử dụng TCP ports hay là UDP ports, phần lớn là TCP ports như hình dưới là một số TCP port thông dụng được mở ra cho các server mang địa chỉ theo sau



18.

Và đây là các UDP ports cần thiết như là DNS port và DHCP port, 192.168.0.25 là DNS cũng là DHCP server. Sau khi ban cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho NAT thì bạn có thể click OK



19.

Phần trên là phần thiết lập NAT cho NIC card WAN, sau đây là phần thiết lập NAT cho LAN. Lập lại bước 8 và 9, bạn chọn interface là LAN, click OK như hình dưới đây



20.

Trong mục Network Address Translation Properties này bạn chỉ việc click OK theo hình dưới đây. Ở đây bạn có thể được xem như là đã hoàn tất thiết lập NAT. Nếu bạn không cần sử dụng các dịch vụ DHCP và DNS Proxy của NAT thì bạn có thể tự cài static IP vào các client và chỉ gateway tới internal NAT interface, trong trường hợp này là 192.168.0.1. Trong trườn hợp bạn muốn thiết lập DHCP và DNS proxy cho NAT thì bạn có thể theo dõ bước tiếp theo



21.

Để các client bên trong LAN có thể truy cập được internet cũng như sử dụng những dịch vụ của NAT cung cấp như DHCP và DNS Proxy bạn có thể làm như sau, right click vào Network Address Translation, chọn Properties theo hình dưới



22.

Chọn mục Address Assigment, đây là chức năng DHCP của NAT, cho phép NAT cung cấp các địa chỉ IP khi client cần truy cập internet Bạn check vào mục Automatically assign IP address by using DHCP và bạn nhập vào dãy IP nào bạn muốn trong trường hợp này là class C bắt đầu từ 192.168.0.1 đến 192.168.0.254.

Lưu ý: Để tránh tình trang DHCP cung cấp IP của gateway cũng như các IP quan trong khác trong mạng như WINS server, DNS server, mail server bạn có thể chặn NAT cung câp các địa chỉ ấy trong mục Exclude



23.

Trong phần Exclude Reservered Addresses, bạn nhập vào các địa chỉ IP mà bạn nghĩ rằng NAT không được cung cấp cho client vì sẽ bị mâu thuẩn IP, trong trường hợp này 3 địa chỉ IP dưới đây không được phép cung cấp cho client là gateway 192.168.0.1, DC 192.168.0.15 và mail server là 192.168.0.25. Sau khi nhập vào các dử liệu dưới đây, bạn click OK


24.

Để client có thể truy cập được internet thì cũng cần phải có DNS, bạn có thể sử dụng proxy DNS của NAT để cung cấp cho các client khi cần truy cập. Trong phần Network Address Translation (NAT) Properties, chọn Name Resolution, dưới phần Resolve IP addresses for check vào mục Clients using Domain Name System (DNS), sau đó click OK


25.

Như vậy là bạn đã vừa hoàn tất thiết lập một NAT server. Hai bước dưới đây giúp bạn theo dõi NAT và việc mapping của NAT bằng cách bạn click vào Network Address Translation, ở windows bên phải, bạn right click vào WAN interface chọn Show Mapping, Nat sẽ cho phép bạn theo dõi mapping table của NAT đang làm việc, những ai đang truy cập vào những server nào bằng port nào...


26.

Trong trường hợp bạn đã có DHCP server trong mạng và bạn không muốn sử dụng DHCP của NAT thì bạn có thể thiết lập DHCP Relay Agent bằng cách click vào DHCP Relay Agent chọn Properties theo hình dưới đây


27.

Trong phần DHCP Relay Agent Properties này, bạn nhập vào địa chỉ IP của DHCP server chịu trách nhiệm cấp phát IP cho mạng LAN, click Add vậy là bạn không cần sử dụng chức năng Assign IP address của NAT.

Lưu ý: Trước khi bạn thiết lập DHCP Relay Agent, bạn cần phải tắt chức năng Automatically assign IP address by using DHCP ở bước 22. Trong bài này DHCP server là 192.168.0.35

Như vậy là bạn đã vừa thiết lập xong một NAT server.



Theo vanesoft

http://www.trithuccongdong.com/portal/index.php?option=com_content&task=view&id=515&Itemid=113