Hiển thị các bài đăng có nhãn CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT. Hiển thị tất cả bài đăng

12 thg 6, 2008

Các địa chỉ website hữu ích

Bản tóm tắt này không có sẵn. Vui lòng nhấp vào đây để xem bài đăng.

10 thg 6, 2008

A

“Nếu một ngày bạn dành 1 giờ đồng hồ để học, bạn sẽ trở thành một chuyên gia trong vòng 5 năm.”

10 thg 5, 2008

Top 10 công cụ giải quyết sự cố cho TCP/IP

Có rất nhiều công cụ phân tích mạng phức tạp và chuyên dụng nhưng thực ra chỉ có 10 công cụ chủ yếu để có thể giải quyết mọi sự cố trên mạng TCP/IP. Đó là những công cụ không phải là mạnh nhất nhưng lại được sử dụng thường xuyên nhất.

1. Ping.
Ping là một ứng dụng kiểm tra kết nối giữa hai điểm trong mạng để xem chúng có thông suốt và hoạt động tốt ko, việc này được thực hiện bằng cách gửi và nhận một chuỗi các gói tin theo giao thức ICMP. Một trong những bước đầu tiên trong quy trình troubleshooting chính là một thao tác tưởng chừng đơn giản: ping địa chỉ loopback 127.0.0.1 để kiểm tra hoạt động của TCP/IP trong chính các local host.

2. Traceroute.
Traceroute được xây dựng trên nền tảng ứng dụng ping tuy nhiên nó không chỉ kiểm tra hoạt động của các tuyến đường mà còn xác định các chặng cần đi qua trên đường truyền và tính toán được thời gian gói tin được vận chuyển trên từng chặng. Ví dụ khi ta ping một thiết bị đầu xa và nhận thấy độ trễ của gói tin trả lời là rất lớn, muốn biết được gói tin bị trễ ở đâu, cần thực hiện lệnh traceroute.

3. Protocol analyzer/network analyzer.
Một bộ công cụ phân tích các giao thức (đôi khi còn gọi là các network analyzer) là một công cụ thiết yếu để admin theo dõi được hoạt động của mạng. Các công cụ này thực hiện công việc bắt các gói tin trên đường truyền (mặc định thường là bắt tất cả các gói, có thể cấu hình các bộ lọc để chỉ bắt một số gói nhất định).

Các gói tin này sẽ được lưu trong bộ đệm bắt gói, sau đó sẽ được phân tích các thông số trong gói và giải mã thông tin để hiển thị trên màn hình. Một số công cụ như Network Associates' Sniffer Pro còn có khả năng phát hiện ra tiến trình truyền nhận thông tin để phát hiện các động thái tấn công và xâm nhập để báo động với admin.

Một số các công cụ khác cũng khá phổ biến là: AG Group's EtherPeek, công cụ Network Monitor của WindowsNT.

4. Port scanner.
Công cụ quét cổng có thể phát hiện ra các dịch vụ nào đang hoạt động trên thiết bị đầu xa. Tuy nhiên quét cổng thường được xếp vào loại các hành động tấn công hoặc hành động xâm nhập và thường bị các mạng đầu xa chặn.

5. Nslookup/DIG.
Tiện ích nslookup cơ bản gửi các bản tin querry đến DNS server. Bản tin này sẽ nhờ server thực hiện một thao tác phân giải từ tên miền hoặc tên host sang địa chỉ IP tương ứng với nó. Domain Internet Grouper (DIG) là một công cụ tương tự như nslookup nhưng cung cấp nhiều thông tin về DNS hơn.

Ví dụ: một thao tác nslookup đơn giản cho www.vietnamnet.com.vn sẽ trả về những thông tin sau:
Name: vietnamnet.com.vn
Address: 203.162.168.130
Trong khi đó với cùng thao tác trên DIG trả về các thông tin trên cộng với phần sau:
Name servers: ns1.lunarpage.com
IP address: 69.25.27.170
ns1.lunarpage.com
IP address: 66.150.161.141


6. ARP.
Công cụ này cho phép theo dõi các địa chỉ IP trên mạng và các địa chỉ vật lý tương ứng với nó. Bằng công cụ này, admin có thể hiển thị ra bảng ARP để biết được địa chỉ vật lý của thiết bị thực hiện việc gửi nhận thông tin qua mạng. Việc này đóng vai trò khá quan trọng vì chỉ bằng cách xem địa chỉ vật lý (là địa chỉ duy nhất định danh cho thiết bị mạng) admin mới phát hiện được chính xác một host vì địa chỉ IP chỉ là địa chỉ logic, nó hoàn toàn có thể bị thay đổi.

7. Route.
Là công cụ cho phép hiển thị và thao tác với bảng định tuyến trong thiết bị.

8. Các công cụ SNMP.
Các công cụ quản trị trên nền SNMP cho phép thu thập thông tin trong các bản tin Management Information Base (MIB) được phát đi bởi những thiết bị hỗ trợ SNMP. Có thể theo dõi các thiết bị SNMP bằng một hệ thống thông báo/báo động có khả năng báo cáo cho SNMP ngay lập tức về các action vượt qua giới hạn đã được cấu hình trước trên các thiết bị. Tuy nhiên một trở ngại đối với SNMP là hiện có rất ít các sản phẩm có khả năng chạy trên nhiều nền tảng thiết bị của các hãng khác nhau.

9. Bộ test Cable.
Đây là một công cụ không thể thiếu để kiểm tra sự chính xác trong hoạt động của hệ thống dây dẫn. Công cụ phổ biến là Microtest's OmniScanner được trang bị các chức năng test độ toàn vẹn và độ nhiễu của dây dẫn. Bộ kiểm tra cáp có khả năng làm những việc sau: báo cáo về tổng chiều dài dây dẫn, kết quả kiểm tra các thông số, độ nhiễu xuyên âm, độ suy hao đường truyền, trở kháng và nhiều thông số khác nữa.

Một số công cụ kiểm tra cáp còn cung cấp khả năng theo dõi traffic trên mạng.


10. Các công cụ tổ hợp.

Ngòai các công cụ trên còn một số công cụ giải quyết sự cố khác bao gồm NetScanTools Pro 2000 và AG Group’s NetTools. Các công cụ này thuận tiện ở chố nó là những phần mềm tổ hợp của các tiện ích port scan, ping, traceroute và thực hiện được cả thao tác nslookup, tiết kiệm đáng kể cho admin thời gian troubleshoot cho một mạng. Trong hai công cụ tổng hợp trên NetTools có giá thành rẻ hơn tuy nhiên các tiện ích của nó chỉ là một phần nhỏ so với NetScanTools Pro 2000.

Admin cũng có thể sử dụng các tiện ích cung cấp thông tin và cấu hình cơ bản được tích hợp sẵn trong Windows như WINIPCFG, IPCONFIG và netstat. Một phần mềm tính toán địa chỉ IP đôi khi cũng trở thành một công cụ thuận lợi để tiết kiệm thời gian, có rất nhiều phần mềm loại này,các admin có thể download miễn phí trên mạng.
Việc lựa chọn các công cụ thích hợp sẽ giúp giảm nhẹ và đơn giản hóa công việc giải quyết sự cố cho các mạng TCP/IP.

http://ictvietnam.net/forum/showthread.php?t=4647

Softskills - Vài lời khuyên cho những sinh viên vừa ra trường

Trong thời điểm thị trường “khát” nhân lực chất lượng cao, tính cạnh tranh của các ứng viên trí thức ngày càng khốc liệt. Lời khuyên dành cho những sinh viên mới ra trường, chỉ có trong tay tấm bằng tốt nghiệp, là gì?


Chọn sự nghiệp chứ không chọn công việc

Trong quá trình “lang thang” tìm việc, bạn “túm” được một công việc có vẻ rất hấp dẫn, thời thượng, lương bổng khá, tuy nhiên không dính líu tí nào với chuyên môn bạn đã được đào tạo. Bạn có nên thử sức với công việc đó không?

Câu trả lời là có và không. Nếu bạn là một người ưa khám phá, năng động và phiêu lưu, tại sao lại không thử làm công việc hấp dẫn đó một thời gian nhỉ. Biết đâu bạn lại chẳng khám phá ra nhiều khả năng tiềm ẩn của bản thân. Nếu bạn là một mẫu người cổ điển, thích sự ổn định, ngăn nắp và nề nếp, hãy tránh xa công việc đó ra, và tìm cho mình một công việc đúng như những gì bạn đã được đào tạo.

Nhưng cho dù có hay không, phần lớn bạn trẻ chưa có suy nghĩ lâu dài, họ tưởng rằng họ đang tìm việc, nhưng thực chất, việc thì có rất nhiều, hãy chọn cho mình một nghiệp để gắn bó lâu dài đi thôi.

Tự đánh giá mục tiêu mà trước đây có thể bạn chưa từng nghĩ đến như bạn muốn một môi trường làm việc như thế nào, công việc có thể đem lại thành công cho bạn, bạn muốn có một công việc hay xê dịch hay chỉ ngồi một chỗ. Xác định được điều này sẽ giúp bạn tìm được một công việc phù hợp.


Đừng thiếu kiên nhẫn

Bạn là người mới ra trường, còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng làm việc nhưng bạn có lợi thế của tuổi trẻ, năng động, đầy nhiệt huyết, ham học hỏi,… Đừng cuống cuồng tìm đại cho mình một công việc có thể cho thu nhập. Nhẫn nại và liên tục cập nhật tri thức, bạn sẽ sớm thành công.


Biết tận dụng các mối quan hệ

Nhiều công việc không được thông báo rộng rãi bởi nhà tuyển dụng muốn thông qua những người đã quen biết giới thiệu để có tìm được đúng người đúng việc. Bạn là người mới tốt nghiệp và bạn đang cần một công việc đúng ngành nghề, vậy thì còn chần chừ gì nữa mà không mở rộng những mối quan hệ mới và chăm sóc những mối quan hệ đã có để họ có thể nhớ đến bạn đầu tiên khi biết ở đâu đó đang có nhu cầu tìm người.


Biết nói lên quan điểm

Bạn trẻ tuổi và non tay nghề, non kinh nghiệm, nhưng đừng nghĩ rằng mình lép vế. Bất cứ khi nào bạn có thắc mắc, băn khoăn, hãy thể hiện quan điểm của mình với sếp, với đồng nghiệp. Để không bao giờ phải âm thầm chịu những bức bối. Và để người khác không bao giờ nghĩ rằng bạn không có chính kiến.


Không nên nghĩ rằng công việc đầu tiên sẽ là mãi mãi

Bạn là một người trẻ tuổi, bạn năng động vậy thì hãy làm theo cách làm của những người trẻ tuổi thời nay đang làm. Họ sẵn sàng thay đổi công ty để đến một môi trường mới tốt hơn vậy thì công việc đầu tiên mà bạn tìm được này chưa hẳn đã làm điểm dừng cho bạn. Hãy coi đó là nơi để bạn có thể học hỏi và làm chủ các kỹ năng làm việc.

Với những người mới ra trường nên coi tiền lương không hẳn là một tiêu chí đầu tiên tìm việc. Bạn có thể chấp nhận một mức lương thấp hơn so với bạn bè nhưng đổi lại bạn được làm việc thực sự và công việc mới trong tương lai sẽ không phải là một thách thức với vốn kinh nghiệm mà bạn đã có từ công việc đầu tiên này.

http://ictvietnam.net/forum/showthread.php?t=4257
Theo MSN

Những vấn đề về tuyển dụng nhân sự của các công ty Công nghệ Thông tin lớn

Ngày nay, những sinh viên mới ra trường và những người khó tìm việc trong giới Công nghệ Thông tin thường nói về việc được tuyển vào làm cho những tập đoàn tên tuổi khổng lồ trong IT như Microsoft, IBM, Oracle, Google, Yahoo, Cisco ... như là giấc mơ một đời người .

Báo chí và những bài viết đần độn dành cho thông tin đại chúng đã làm cho những cuộc phỏng vấn vào các công ty lớn kể trên như là những cuộc phiêu lưu thú vị đầy những khó khăn, thử thách tuyệt vời về tư duy dành cho những lập trình viên trẻ tuổi, thiên tài và nhiều tham vọng.

Nhưng thực tế không phải toàn là màu hồng như những hình ảnh PR do các công ty đó và các tạp chí tay sai của họ cùng bọn bồi bút tạo nên. Thực ra việc tuyển dụng nhân sự vào các công ty khổng lồ có nhiều vấn đề nực cười và lố bịch hơn nhiều so với những hình ảnh họ cố gắng trưng bày ra trước công chúng.

Sau đây là một vài vấn đề chính.

1) Hiệu ứng "hàng hiệu"
Các bạn có thể thấy là những nhà sáng lập chính của các công ty IT thành công lớn trên thế giới như Bill Gates, Larry Ellison, Larry Page, Sergey Brin, Michael Dell ... là những người không có bằng cấp gì cho ra hồn người, nếu không bỏ học Đại học thì cũng bỏ làm Tiến sĩ.

Nhưng ít ai để ý là những người này đều là "hàng hiệu", nghĩa là ít nhất cũng đặt chân vào cổng trường những trường danh giá, ví dụ như Bill Gates từng đánh poker ở Harvard, còn Larry Page và Sergey Brin thì đã từng ngồi tễu ngắm gái trên ghế đá Đại học Standford, cùng nhau chỉ trỏ bàn tán thô bỉ .

Ngoài ra, các công ty lớn thường nhận được hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn hồ sơ xin việc mỗi ngày. Do đó, bất kể những gì mà họ rêu rao trước công chúng về chuyện "Khả năng quan trọng hơn bằng cấp", "Chúng tôi không tuyển chọn mọt sách mà tuyển chọn nhân tài" ..., nếu các bạn không tốt nghiệp hoặc đang học tại một trong những trường Đại học hàng đầu thế giới như Standford, MIT, Berkeley, Carnegie Melon ..., thì khả năng hồ sơ xin việc của các bạn được quẳng vào sọt rác trước khi có ai đó đọc tới dòng thứ hai là rất gần với 101%.

Cái này gọi là "Brand name effect", hay còn gọi là "Hiệu ứng sành điệu".

2) Hiệu ứng vực xoáy (Spiral effect)
Bất kể các khẩu hiệu về chuyện "tuyển chọn nhân tài", hoặc "công ty chúng tôi chỉ dành cho những người giỏi nhất", công ty lớn là công ty lớn, và trong môi trường đó, bao giờ cũng có cạnh tranh. Mà một trong những cạnh tranh lớn nhất, khốc liệt nhất là "job security".

Bây giờ không phải là những năm 80 của thế kỷ 20, khi mà lập trình viên như sao buổi sớm, quản trị mạng như lá mùa thu. Bây giờ bất kỳ con gián nào biết phân biệt phím Enter và ESC cũng có thể làm quản trị mạng (anh em adminviet.net nghĩ thế nào?), và bất kể ông kễnh bốc phét nào biết phân biệt "include " và "import java.swing.*" cũng có thể vỗ ngực làm lập trình viên.

Vì thế tìm được việc làm trong ngành Công nghệ Thông tin đã khó, giữ được việc làm còn khó hơn. Nhất là những chỗ làm an nhàn, quyền lợi béo mà hầu như chả phải làm gì, đại khái như các vị trí management trong các công ty lớn. Và chính các vị làm ở các vị trí management này và các cộng sự của họ sẽ phỏng vấn về kỹ thuật và công nghệ để tuyển nhân viên mới.

Tất nhiên là họ không tuyển những thằng ngu, vì như thế thì không có ai làm tay sai cho họ, làm ra "tiền tươi, thóc thật", trong khi họ chỉ ngồi mát ăn bát vàng. Mặt khác, họ cũng không tuyển những thiên tài có khả năng đe dọa chiếc ghế của họ đang ngồi.

Vì thế, khởi đầu, công ty có thể là một tập hợp những người rất giỏi, có quyền lợi gắn bó với sự thành công và thất bại của công ty. Nhưng khi công ty bắt đầu lớn lên, các vị trí management chỉ là những người làm thuê, người làm thuê đầu tiên sẽ tuyển những người kém hơn mình một tí, rồi đến lượt những người kia lại tuyển những người khác kém hơn mình một tí nữa ... và cứ thế ... cứ thế ... vực xoáy cứ càng ngày càng sâu ... thế mới gọi là spiral effect.

Vì thế, ngày nay việc vượt qua vòng phỏng vấn kỹ thuật của các công ty lớn không phải là chuyện bạn có thực sự giỏi hay không, mà là bạn phải có "a right amount of stupidity", nghĩa là phải ngu xuẩn một cách đúng mức. Hoặc bạn phải là một diễn viên kịch nghệ xuất sắc kiêm lập trình viên siêu đẳng, để biết cách trả lời hoàn hảo một vài câu hỏi, trả lời đến mức 95% hoặc 97% cho một vài câu hỏi khác, và giả vờ fail một số câu hỏi đơn giản, để người phỏng vấn thấy rằng bạn không đe dọa chiếc ghế của họ.

Nếu bạn quá ngu xuẩn, thì tất nhiên là chả ai thèm tuyển bạn. Nhưng nếu bạn tỏ ra giỏi hơn những người đang phỏng vấn bạn, hoặc trả lời các câu hỏi một cách quá trôi chảy, hoàn hảo thì hãy coi chừng. Khả năng mà bạn bị từ chối tuyển dụng cũng sẽ rất gần với 101 %.

3) Hiệu ứng con khỉ (Monkey sees, monkey does)
Vào thời gian mới bắt đầu khởi nghiệp, các chuyên gia của Microsoft thường có cách phỏng vấn độc đáo là hỏi những câu hỏi ít liên quan, hoặc không liên quan tới Computer Science, nhằm mục đích loại trừ các con mọt sách, và thử xem các ứng viên có khả năng tư duy sáng tạo hay không.

Ví dụ như họ có thể hỏi: "Tại sao nắp cống có hình tròn?", hoặc "Có 3 công tắc ở trong một phòng, và có 3 bóng đèn ứng với 3 công tắc đó trong một phòng khác. Từ trong phòng này không thể nhìn thấy phòng kia. Làm thế nào để chỉ cần 1 lần đi từ phòng này sang phòng kia, bạn có thể biết được công tắc nào ứng với bóng đèn nào?".

Tất cả có vẻ tốt. Nhưng sau này, các công ty Công nghệ đã lạm dụng lối hỏi này, và thậm chí cứ hỏi một cách ngớ ngẩn, và chả hiểu tại sao lại làm thế.

Ví dụ có một người hỏi một ứng viên thế này: "Có bao nhiêu cây xăng ở bang Massachusetts?"
Ứng viên trả lời: "Có 5000 cây xăng."
Người phỏng vấn hỏi: "Tại sao lại 5000?".
Ứng viên trả lời: "Tất nhiên là thằng ngu nào cũng biết là khi hỏi câu này, người ta sẽ chờ đợi là ứng viên sẽ phân tích xem trung bình một người dùng một tuần bao nhiêu xăng, đổ xăng bao nhiều lần, rồi vùng này có bao nhiêu người ..., từ đó suy ra có bao nhiêu cây xăng. Nhưng sự thực là cuộc sống khác với xác suất thống kê trên giấy, nên ông hãy trả lời tôi câu này: Ông thuê tôi vào để lập trình, hay là để hack vào database quản lý xăng dầu của chính quyền bang?, rồi tôi sẽ trả lời nghiêm chỉnh câu hỏi của ông.

Ngoài ra, làm sao ông có thể chứng minh được là không phải là có 5000 cây xăng, mà chỉ có 3000 chẳng hạn? Hoặc việc suy ra là có 5000 cây xăng thì liên quan gì đến việc người trả lời có phải là một lập trình viên giỏi hay không?"

Tóm lại là nhân viên phỏng vấn của các công ty lớn hiện nay chỉ thi đua nhau xem ai đưa ra nhiều câu hỏi ngu xuẩn và ngớ ngẩn hơn, chứ không phải là tập trung vào việc tìm lập trình viên giỏi. Thấy Microsoft làm thế, họ cũng làm thế. Monkey sees, monkey does.

Đó là chưa kể là trong các trường Đại học tại Mỹ hiện nay, sinh viên thi nhau thu thập, in và chuyền tay nhau những bản hỏi-đáp của những câu hỏi phỏng vấn như vậy, gọi là "Cẩm nang Microsoft" hay "Những câu hỏi phỏng vấn ngu xuẩn nhất thế kỷ 20". (không có thế kỷ 21, vì về mặt cơ bản là các phỏng vấn hiện nay cũng chả có câu hỏi nào mới hơn các câu hỏi của Microsoft từ thế kỷ trước). Do đó, ý nghĩa của việc hỏi những câu hỏi nhằm kiểm tra tính suy luận "ngu" cũng giảm đi rất nhiều, và khoa học đã chỉ ra rằng chả có gì chứng tỏ khả năng trả lời những câu hỏi "dở hơi biết bơi" lại có liên quan đến khả năng lập trình hay phát minh, sáng tạo.

Vì vậy, các bạn trẻ có ý định tìm việc làm trong ngành Công nghệ Thông tin hãy thực tế hơn một chút.
Nếu các bạn thực sự giỏi, có khả năng sáng tạo cao, thì nên tìm môi trường start-up. Ở đó cơ hội để các bạn trở thành triệu phú hoặc tỷ phú nhiều hơn, và ít có thói quan liêu, lừa lọc lẫn nhau, ghen tỵ, tranh giành, đấu đá hơn.

Các bạn có thể thấy là các ngôi sao của ngành Công nghệ Thông tin như Yukihiro Matsumoto, David Hainemeier Hansson, Torvalds Linux, Martin Fowler, Bruce Tate, Justin Gehtland, David Black, Zed Shaw ... chả có ai đi làm thuê cho bọn địa chủ, cường hào ác bá hết, mà chỉ tự làm hoặc làm cho các công ty nhỏ.

Tuy nhiên nếu bạn chỉ có một trình độ tầm tầm, tốt nghiệp một trường hàng hiệu, có một "giấc mơ con" sắp sửa "đè nát cuộc đời con" là kiếm một đồng lương 6 chữ số USD hàng năm, vỗ ngực xưng tên với các nhãn hiệu lớn, giải quyết khâu oai, thì nên học thêm một lớp "diễn viên điện ảnh" và cố gắng luyện để biết thế nào là "a right amount of stupidity".

Làm thuê cho công ty lớn cũng chả có gì xấu, có khi cũng hay, trừ thói quan liêu cửa quyền của bọn nhân sự và nguy cơ biến thành một cái đinh ốc trong một cỗ máy lớn, năm này qua năm khác làm đi làm lại công việc của một cái đinh ốc hay một cái bánh răng.

Khi các bạn đọc xong bài này, rất có thể các bạn sẽ thắc mắc người viết là ai, có tư cách gì để nói thế. Hay đây chỉ là một thằng cha bất đắc chí, không phải "hàng hiệu" và chưa bao giờ xin được việc ở bất cứ công ty nào lớn, nên viết bậy cho hả giận? Rất có thể, nhỉ?

http://ictvietnam.net/forum/showthread.php?t=4743

1 thg 5, 2008

10 Reasons For PC Failure

Hardware conflict
The number one reason why Windows crashes is hardware conflict. Each hardware device communicates to other devices through an interrupt request channel (IRQ). These are supposed to be unique for each device.

For example, a printer usually connects internally on IRQ 7. The keyboard usually uses IRQ 1 and the floppy disk drive IRQ 6. Each device will try to hog a single IRQ for itself.

If there are a lot of devices, or if they are not installed properly, two of them may end up sharing the same IRQ number. When the user tries to use both devices at the same time, a crash can happen. The way to check if your computer has a hardware conflict is through the following route:

* Start-Settings-Control Panel-System-Device Manager.

Often if a device has a problem a yellow '!' appears next to its description in the Device Manager. Highlight Computer (in the Device Manager) and press Properties to see the IRQ numbers used by your computer. If the IRQ number appears twice, two devices may be using it.

Sometimes a device might share an IRQ with something described as 'IRQ holder for PCI steering'. This can be ignored. The best way to fix this problem is to remove the problem device and reinstall it.

Sometimes you may have to find more recent drivers on the internet to make the device function properly. A good resource is www.driverguide.com. If the device is a soundcard, or a modem, it can often be fixed by moving it to a different slot on the motherboard (be careful about opening your computer, as you may void the warranty).

When working inside a computer you should switch it off, unplug the mains lead and touch an unpainted metal surface to discharge any static electricity.

To be fair to Mcft, the problem with IRQ numbers is not of its making. It is a legacy problem going back to the first PC designs using the IBM 8086 chip. Initially there were only eight IRQs. Today there are 16 IRQs in a PC. It is easy to run out of them. There are plans to increase the number of IRQs in future designs.

Bad Ram
Ram (random-access memory) problems might bring on the blue screen of death with a message saying Fatal Exception Error. A fatal error indicates a serious hardware problem. Sometimes it may mean a part is damaged and will need replacing.

But a fatal error caused by Ram might be caused by a mismatch of chips. For example, mixing 70-nanosecond (70ns) Ram with 60ns Ram will usually force the computer to run all the Ram at the slower speed. This will often crash the machine if the Ram is overworked.

One way around this problem is to enter the BIOS settings and increase the wait state of the Ram. This can make it more stable. Another way to troubleshoot a suspected Ram problem is to rearrange the Ram chips on the motherboard, or take some of them out. Then try to repeat the circumstances that caused the crash. When handling Ram try not to touch the gold connections, as they can be easily damaged.

Parity error messages also refer to Ram. Modern Ram chips are either parity (ECC) or non parity (non-ECC). It is best not to mix the two types, as this can be a cause of trouble.

EMM386 error messages refer to memory problems but may not be connected to bad Ram. This may be due to free memory problems often linked to old Dos-based programmes.

BIOS settings
Every motherboard is supplied with a range of chipset settings that are decided in the factory. A common way to access these settings is to press the F2 or delete button during the first few seconds of a boot-up.

Once inside the BIOS, great care should be taken. It is a good idea to write down on a piece of paper all the settings that appear on the screen. That way, if you change something and the computer becomes more unstable, you will know what settings to revert to.

A common BIOS error concerns the CAS latency. This refers to the Ram. Older EDO (extended data out) Ram has a CAS latency of 3. Newer SDRam has a CAS latency of 2. Setting the wrong figure can cause the Ram to lock up and freeze the computer's display.

Mcft Windows is better at allocating IRQ numbers than any BIOS. If possible set the IRQ numbers to Auto in the BIOS. This will allow Windows to allocate the IRQ numbers (make sure the BIOS setting for Plug and Play OS is switched to 'yes' to allow Windows to do this.).

Hard disk drives
After a few weeks, the information on a hard disk drive starts to become piecemeal or fragmented. It is a good idea to defragment the hard disk every week or so, to prevent the disk from causing a screen freeze. Go to

* Start-Programs-Accessories-System Tools-Disk Defragmenter

This will start the procedure. You will be unable to write data to the hard drive (to save it) while the disk is defragmenting, so it is a good idea to schedule the procedure for a period of inactivity using the Task Scheduler.

The Task Scheduler should be one of the small icons on the bottom right of the Windows opening page (the desktop).

Some lockups and screen freezes caused by hard disk problems can be solved by reducing the read-ahead optimisation. This can be adjusted by going to

* Start-Settings-Control Panel-System Icon-Performance-File System-Hard Disk.

Hard disks will slow down and crash if they are too full. Do some housekeeping on your hard drive every few months and free some space on it. Open the Windows folder on the C drive and find the Temporary Internet Files folder. Deleting the contents (not the folder) can free a lot of space.

Empty the Recycle Bin every week to free more space. Hard disk drives should be scanned every week for errors or bad sectors. Go to

* Start-Programs-Accessories-System Tools-ScanDisk

Otherwise assign the Task Scheduler to perform this operation at night when the computer is not in use.

Fatal OE exceptions and VXD errors
Fatal OE exception errors and VXD errors are often caused by video card problems.

These can often be resolved easily by reducing the resolution of the video display. Go to

* Start-Settings-Control Panel-Display-Settings

Here you should slide the screen area bar to the left. Take a look at the colour settings on the left of that window. For most desktops, high colour 16-bit depth is adequate.

If the screen freezes or you experience system lockups it might be due to the video card. Make sure it does not have a hardware conflict. Go to

* Start-Settings-Control Panel-System-Device Manager

Here, select the + beside Display Adapter. A line of text describing your video card should appear. Select it (make it blue) and press properties. Then select Resources and select each line in the window. Look for a message that says No Conflicts.

If you have video card hardware conflict, you will see it here. Be careful at this point and make a note of everything you do in case you make things worse.

The way to resolve a hardware conflict is to uncheck the Use Automatic Settings box and hit the Change Settings button. You are searching for a setting that will display a No Conflicts message.

Another useful way to resolve video problems is to go to

* Start-Settings-Control Panel-System-Performance-Graphics

Here you should move the Hardware Acceleration slider to the left. As ever, the most common cause of problems relating to graphics cards is old or faulty drivers (a driver is a small piece of software used by a computer to communicate with a device).

Look up your video card's manufacturer on the internet and search for the most recent drivers for it.

Viruses
Often the first sign of a virus infection is instability. Some viruses erase the boot sector of a hard drive, making it impossible to start. This is why it is a good idea to create a Windows start-up disk. Go to

* Start-Settings-Control Panel-Add/Remove Programs

Here, look for the Start Up Disk tab. Virus protection requires constant vigilance.

A virus scanner requires a list of virus signatures in order to be able to identify viruses. These signatures are stored in a DAT file. DAT files should be updated weekly from the website of your antivirus software manufacturer.

An excellent antivirus programme is McAfee VirusScan by Network Associates ( www.nai.com). Another is Norton AntiVirus 2000, made by Symantec ( www.symantec.com).

Printers
The action of sending a document to print creates a bigger file, often called a postscript file.

Printers have only a small amount of memory, called a buffer. This can be easily overloaded. Printing a document also uses a considerable amount of CPU power. This will also slow down the computer's performance.

If the printer is trying to print unusual characters, these might not be recognised, and can crash the computer. Sometimes printers will not recover from a crash because of confusion in the buffer. A good way to clear the buffer is to unplug the printer for ten seconds. Booting up from a powerless state, also called a cold boot, will restore the printer's default settings and you may be able to carry on.

Software
A common cause of computer crash is faulty or badly-installed software. Often the problem can be cured by uninstalling the software and then reinstalling it. Use Norton Uninstall or Uninstall Shield to remove an application from your system properly. This will also remove references to the programme in the System Registry and leaves the way clear for a completely fresh copy.

The System Registry can be corrupted by old references to obsolete software that you thought was uninstalled. Use Reg Cleaner by Jouni Vuorio to clean up the System Registry and remove obsolete entries. It works on Windows 95, Windows 98, Windows 98 SE (Second Edition), Windows Millennium Edition (ME), NT4 and Windows 2000.

Read the instructions and use it carefully so you don't do permanent damage to the Registry. If the Registry is damaged you will have to reinstall your operating system. Reg Cleaner can be obtained from www.jv16.org

Often a Windows problem can be resolved by entering Safe Mode. This can be done during start-up. When you see the message "Starting Windows" press F4. This should take you into Safe Mode.

Safe Mode loads a minimum of drivers. It allows you to find and fix problems that prevent Windows from loading properly.

Sometimes installing Windows is difficult because of unsuitable BIOS settings. If you keep getting SUWIN error messages (Windows setup) during the Windows installation, then try entering the BIOS and disabling the CPU internal cache. Try to disable the Level 2 (L2) cache if that doesn't work.

Remember to restore all the BIOS settings back to their former settings following installation.

Overheating
Central processing units (CPUs) are usually equipped with fans to keep them cool. If the fan fails or if the CPU gets old it may start to overheat and generate a particular kind of error called a kernel error. This is a common problem in chips that have been overclocked to operate at higher speeds than they are supposed to.

One remedy is to get a bigger better fan and install it on top of the CPU. Specialist cooling fans/heatsinks are available from www.computernerd.com or www.coolit.com

CPU problems can often be fixed by disabling the CPU internal cache in the BIOS. This will make the machine run more slowly, but it should also be more stable.

Power supply problems
With all the new construction going on around the country the steady supply of electricity has become disrupted. A power surge or spike can crash a computer as easily as a power cut.

If this has become a nuisance for you then consider buying a uninterrupted power supply (UPS). This will give you a clean power supply when there is electricity, and it will give you a few minutes to perform a controlled shutdown in case of a power cut.

It is a good investment if your data are critical, because a power cut will cause any unsaved data to be lost.

http://learnitez.blogspot.com/

29 thg 4, 2008

Cách Setup BIOS

Khi khởi động máy lần đầu tiên, máy tính sẽ đọc một tập hợp dữ liệu được lưu trong CMOS (một chip bộ nhớ đặc biệt luôn hoạt động nhờ 1 cục pin nhỏ), không có thông tin nầy máy tính sẽ bị tê liệt. Việc xác lập các thông tin nầy gọi là Setup Bios và bao giờ người bán cũng phải làm thủ tục Setup Bios ngay sau khi ráp máy. Nhưng bạn cũng phải biết cách Setup Bios để đề phòng trường hợp máy tự mất các thông tin lưu trong Bios vì các lý do như: Hết pin, nhiễu điện, virus...Hiện nay, người ta dùng Flash Ram để lưu thông tin Bios nên không cần phải có Pin nuôi trên mainboard. Tùy Mainboard, các mục trong Bios có thể khác nhau theo từng hãng chế tạo (Award, Ami, Pheonix...) nhưng về căn bản chúng vẫn giống nhau và trong phần nầy chủ yếu bàn về căn bản, còn các tính năng riêng bạn phải chịu khó tìm hiểu thêm nhờ vào các kiến thức căn bản nầy.

Màn hình Bios Setup đa số là màn hình chạy ở chế độ TEXT. Gần đây đang phát triển loại BiosWin (Ami) có màn hình Setup gồm nhiều cửa sổ giống tương tự Windows và sử dụng được Mouse trong khi Setup nhưng các mục vẫn không thay đổi.

Chú ý thao tác để vào Bios Setup là: Bấm phím Del khi mới khởi động máy đối với máy Ðài Loan. Ðối với các máy Mỹ, thường là bạn phải thông qua chương trình quản lý máy riêng của từng hãng nếu muốn thay đổi các thông số của Bios.

* Bios thường: Di chuyển vệt sáng để lựa chọn mục bằng các phím mũi tên. Thay đổi giá trị của mục đang Set bằng 2 phím Page Up và Page Dn. Sau đó nhấn phím Esc để thoát khỏi mục (giá trị mới sẽ được lưu trữ). Nhấn F10 để thoát Setup Bios nếu muốn lưu các thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để lưu, N để không lưu. Nhấn Esc nếu muốn thoát mà không lưu thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để không lưu, N để trở lại màn hình Setup Bios.

* Bios Win: Màn hình Setup xuất hiện dưới dạng đồ họa gồm nhiều cửa sổ, sử dụng được mouse nếu bạn có mouse loại: PS/2 mouse, Microsoft mouse, Serial mouse, Logitect C mouse. Dùng mouse bấm kép vào cửa sổ để mở một thành phần, bấm vào mục cần thay đổi, một cửa sổ liệt kê giá trị xuất hiện, bấm vào giá trị muốn chọn rồi thoát bằng cách bấm vào ô nhỏ ở góc trên bên trái. Nếu không có mouse, dùng các phím mũi tên để di chuyển, đến mục cần thay đổi bấm Enter, xuất hiện hộp liệt kê, chọn giá trị mới, bấm Enter, cuối cùng bấm Esc.

1. Setup các thành phần căn bản (Standard CMOS Setup):

Ðây là các thành phần cơ bản mà Bios trên tất cả các loại máy PC phải biết để quản lý và điều khiển chúng.

* Ngày, giờ (Date/Day/Time):

Bạn khai báo ngày tháng năm vào mục nầy. Khai báo nầy sẽ được máy tính xem là thông tin gốc và sẽ bắt đầu tính từ đây trở đi. Các thông tin về ngày giờ được sử dụng khi các bạn tạo hay thao tác với các tập tin, thư mục. Có chương trình khi chạy cũng cần thông tin nầy, thí dụ để báo cho bạn cập nhật khi quá hạn, chấm dứt hoạt động khi đến ngày quy định...Bình thường bạn Set sai hay không Set cũng chẳng nh hưởng gì đến hoạt động của máy. Các thông tin nầy có thể sửa chữa trực tiếp ngoài Dos bằng 2 lịnh Date và Time, hay bằng Control Panel của Windows mà không cần vào Bios Setup.

Chú ý: Ðồng hồ máy tính luôn luôn chạy chậm khong vài giây/ngày, thỉnh thoảng bạn nên chỉnh lại giờ cho đúng. Nhưng nếu quá chậm là có vấn đề cần phải thay mainboard.

* ổ đĩa mềm (Drive A/B):

Khai báo loại ổ đĩa cho ổ A và ổ B, bạn căn cứ vào việc nối dây cho ổ đĩa để xác định. ổ đĩa nối với đầu nối ngoài cùng của dây nối là ổ A, ổ kia là B. ổ có kích thước lớn là 1.2M 5.25 inch, ổ nhỏ là 1.44M 3.5 inch. Nếu không có thì chọn Not Installed. Nếu bạn khai báo sai, ổ đĩa sẽ không hoạt động chớ không hư hỏng gì, bạn chỉ cần khai báo lại. Trong các mainboard sử dụng Bios đời mới, khai báo sai loại ổ dĩa 1.2Mb thành 1.4Mb hay ngược lại, ổ dĩa vẫn hoạt động bình thường nhưng kêu rất lớn lúc mới bắt đầu đọc đĩa, về lâu dài có thể hư đĩa.

Các Bios và các card I/O đời mới cho phép bạn tráo đổi 2 ổ đĩa mềm mà không cần tráo đổi dây (swap floppy drive), tức là ổ A thành ổ B và ngược lại khi sử dụng. Khi tráo đổi bằng cách Set jumper trên card I/O, bạn nhớ khai báo lại trong Bios Setup (Khi tráo bằng lịnh Swap trong Bios thì không cần khai báo lại), nhưng có ứng dụng không chịu cài đặt khi Swap đĩa mềm, nhất là các ứng dụng có bảo vệ chống sao chép.

* ổ đĩa cứng (Drive C/D) loại IDE:

Phần khai báo ổ đĩa cứng rắc rối hơn, bắt buộc bạn phải khai báo chi tiết các thông số, bạn khai báo sai không những ổ cứng không hoạt động mà đôi khi còn làm hư ổ cứng nếu bạn khai báo quá dung lượng thật sự của ổ cứng và cho tiến hành FDISK, FORMAT theo dung lượng sai nầy. May mắn là các Bios sau nầy đều có phần dò tìm thông số ổ cứng IDE tự động (IDE HDD auto detection) nên các bạn khỏi mắc công nhớ khi sử dụng ổ đĩa cứng loại IDE. Chúng tôi sẽ nói về phần auto detect nầy sau. Ngoài ra, các ổ cứng sau nầy đều có ghi thông số trên nhãn dán trên mặt. Bạn cho chạy Auto detect, Bios sẽ tự động điền các thông số nầy dùm bạn. Việc khai báo ổ cứng C và D đòi hỏi phải đúng với việc Set các jumper trên 2 ổ cứng. Bạn xác lập ổ cứng không phải qua đầu nối dây mà bằng các jumper trên mạch điều khiển ổ cứng. Các ổ cứng đời mới chỉ có một jumper 3 vị trí: ổ duy nhất, ổ Master (ổ C), ổ Slave (ổ D) và có ghi rõ cách Set trên nhãn. Các ổ đĩa cứng đời cũ nhiều jumper hơn nên nếu không có tài liệu hướng dẫn là rắc rối, phải mò mẫm rất lâu.

* ổ đĩa cứng (Drive E/F) loại IDE:

Các Bios và các card I/O đời mới cho phép gắn 4 ổ dĩa cứng, vì hiện nay các ổ dĩa CDROM cũng sử dụng đầu nối ổ cứng để hoạt động, gọi là CDROM Interface IDE (giao diện đĩa IDE) để đơn giản việc lắp đặt.

Chú ý: Khai báo là NONE trong Bios Setup cho ổ đĩa CD-ROM.

* Màn hình (Video) - Primary Display:

EGA/VGA: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu EGA hay VGA, Super VGA.

CGA 40/CGA 80: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu CGA 40 cột hay CGA 80 cột.

Mono: Dành cho loại màn hình sử dụng card trắng đen, kể c card VGA khi dùng màn hình trắng đen.

* Treo máy nếu phát hiện lỗi khi khởi động (Error Halt):

Tất cả lỗi (All error): Treo máy khi phát hiện bất cứ lỗi nào trong quá trình kiểm tra máy, bạn không nên chọn mục nầy vì Bios sẽ treo máy khi gặp lỗi đầu tiên nên bạn không thể biết các lỗi khác, nếu có.

Bỏ qua lỗi của Keyboard (All, But Keyboard): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của bàn phím.

Bỏ qua lỗi đĩa (All, But Diskette): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của đĩa.

Bỏ qua lỗi đĩa và bàn phím (All, But Disk/Key): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của ổ đĩa và bàn phím.

Không treo máy khi có lỗi (No error): Tiến hành quá trình kiểm tra máy cho đến khi hoàn tất dù phát hiện bất cứ lỗi gì. Bạn nên chọn mục nầy để biết máy bị trục trặc ở bộ phận nào mà có phương hướng giải quyết.

* Keyboard:

Install: Cho kiểm tra bàn phím trong quá trình khởi động, thông báo trên màn hình nếu bàn phím có lỗi.

Not Install: Không kiểm tra bàn phím khi khởi động. Chú ý: chọn mục nầy không có nghĩa là vô hiệu hoá bàn phím vì nếu vậy làm sao điều khiển máy. Nó chỉ có tác dụng cho Bios khỏi mất công kiểm tra bàn phím nhằm rút ngắn thời gian khởi động.
2. Setup các thành phần nâng cao (Advanced Setup):

* Virut Warning:
Nếu Enabled, Bios sẽ báo động và treo máy khi có hành động viết vào Boot sector hay Partition của đĩa cứng. Nếu bạn cần chạy chương trình có thao tác vào 2 nơi đó như: Fdisk, Format... bạn cần phải Disable mục nầy.

* Internal cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) Cache (L1) nội trong CPU 486 trở lên.

* External cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) cache trên mainboard, còn gọi là Cache mức 2 (L2).

* Quick Power On Self Test:
Nếu enable Bios sẽ rút ngắn và bỏ qua vài mục không quan trọng trong quá trình khởi động, để giảm thời gian khởi động tối đa.

* About 1 MB Memory Test:
Nếu Enable Bios sẽ kiểm tra tất cả bộ nhớ. Nếu Disable Bios chỉ kiểm tra 1 Mb bộ nhớ đầu tiên.

* Memory Test Tick Sound:
Cho phát âm thanh (enable) hay không (disable) trong thời gian test bộ nhớ.

* Extended Bios Ram Area:
Khai báo mục nầy nếu muốn dùng 1 Kb trên đỉnh của bộ nhớ quy ước, tức Kb bắt đầu từ địa chỉ 639K hay 0:300 của vùng Bios hệ thống trong bộ nhớ quy ước để lưu các thông tin về đĩa cứng. Xác lập có thể là 1K hay 0:300.

* Swap Floppy Drive:
Tráo đổi tên 2 ổ đĩa mềm, khi chọn mục nầy bạn không cần khai báo lại loại ổ đĩa như khi tráo bằng cách Set jumper trên card I/O.

* Boot Sequence:
Chọn ổ đĩa cho Bios tìm hệ điều hành khi khởi động. Có thể là C rồi đến A hay A rồi đến C hay chỉ có C. Bạn nên chọn C,A hay chỉ có C, để đề phòng trường hợp vô tình khởi động bằng đĩa mềm có Virus.

Hiện nay trên các Mainboard Pentium. Bios cho phép bạn chỉ định khởi động từ 1 trong 2 ổ mềm hay trong 4 ổ cứng IDE hay bằng ổ cứng SCSI thậm chí bằng ổ CD Rom cũng được.

* Boot Up Floppy Seek:
Nếu Enable Bios sẽ dò tìm kiểu của đĩa mềm là 80 track hay 40 track. Nếu Disable Bios sẽ bỏ qua. Chọn enable làm chậm thời gian khởi động vì Bios luôn luôn phải đọc đĩa mềm trước khi đọc đĩa cứng, mặc dù bạn đã chọn chỉ khởi động bằng ổ C.

* Boot Up Numlock Status:
Nếu ON là cho phím Numlock mở (đèn Numlock sáng) sau khi khởi động, nhóm phím bên tay phải bàn phím dùng để đánh số. Nếu OFF là cho phím Numlock tắt (đèn Numlock tối), nhóm phím bên tay phải dùng để di chuyển con trỏ.

* Boot Up System Speed:
Quy định tốc độ của CPU trong thời gian khởi động là High (cao) hay Low (thấp).

* Memory Parity Check:
Kiểm tra chẵn lẻ bộ nhớ. Chọn theo mainboard vì có loại cho phép mục nầy enable, có loại bắt bạn phải disable mới chịu chạy. Ðầu tiên bạn chọn enable, nếu máy treo bạn chọn lại là disable. Mục nầy không ảnh hưởng đến hệ thống, chỉ có tác dụng kiểm tra Ram.

* IDE HDD Block Mode:
Nếu ổ đĩa cứng của bạn hỗ trợ kiểu vận chuyển dữ liệu theo từng khối (các ổ đĩa đời mới có dung lượng cao). Bạn cho enable để tăng tốc cho ổ đĩa. Nếu ổ đĩa đời cũ bạn cho disable mục nầy.

* Pri. Master/Slave LBA (Logic Block Addressing) Mode:
Nếu 2 ổ đĩa cứng được nối vào đầu nối Primary của card I/O có dung lượng lớn hơn 528Mb, bạn cho enable mục nầy.

* Sec. IDE Ctrl Drives Install:
Mục nầy để khai báo máy bạn có ổ đĩa cứng nối vào đầu nối Secondary của card I/O. Các chỉ định có thể là Master, Mst/Slv và disable.

* Sec Master/Slave LBA Mode:
Xác lập LBA cho đầu nối thứ 2.

Chú ý: Các mục hỗ trợ cho ổ đĩa cứng có dung lượng lớn và các card I/O đời mới giúp bạn sử dụng ổ đĩa có dung lượng trên 528Mb. Trong trường hợp bạn cho enable các mục nầy rồi mới tiến hành Fdisk và Format đĩa, nếu sau đó bạn lại disable các mục nầy hay đem gắn qua máy khác cũng chọn disable, bạn sẽ không thể sử dụng được ổ dĩa cứng. Khi dùng ổ CDROM có đầu nối IDE, bạn nên gắn vào đầu nối Secondary để khỏi ảnh hưởng đến ổ dĩa cứng (gắn vào đầu nối Pri) khi cần chạy 32BitDiskAccess trong Windows.

* Typematic Rate Setting:
Nếu enable là bạn cho 2 mục dưới đây có hiệu lực. 2 mục nầy thay thế lịnh Mode của DOS, quy định tốc độ và thời gian trể của bàn phím.

* Typematic Rate (Chars/Sec):
Bạn lựa chọn số ký tự/giây tuỳ theo tốc độ đánh phím nhanh hay chậm của bạn. Nếu bạn Set thấp hơn tốc độ đánh thì máy sẽ phát tiếng Bip khi nó chạy theo không kịp.

* Typematic Delay (Msec):
Chỉ định thời gian lập lại ký tự khi bạn bấm và giữ luôn phím, tính bằng mili giây.

* Security Option:
Mục nầy dùng để giới hạn việc sử dụng hệ thống và Bios Setup.

Setup: Giới hạn việc thay đổi Bios Setup, mỗi khi muốn vào Bios Setup bạn phải đánh đúng mật khẩu đã quy định trước.

System hay Always: Giới hạn việc sử dụng máy. Mỗi khi mở máy, Bios luôn luôn hỏi mật khẩu, nếu không biết mật khẩu Bios sẽ không cho phép sử dụng máy.

Chú ý: Trong trường hợp bạn chưa chỉ định mật khẩu, để Disable (vô hiệu hoá) mục nầy, bạn chọn Password Setting, bạn đừng đánh gì vào các ô nhập mật khẩu mà chỉ cần bấm ENTER. Trong trường hợp bạn đã có chỉ định mật khẩu nay lại muốn bỏ đi. Bạn chọn Password Setting, bạn đánh mật khẩu cũ vào ô nhập mật khẩu cũ (Old Password) còn trong ô nhập mật khẩu mới (New Password) bạn đừng đánh gì cả mà chỉ cần bấm ENTER. Có mainboard thiết kế thêm 1 jumper để xoá riêng mật khẩu ngoài jumper để xoá toàn bộ thông tin trong CMOS. Tốt hơn hết là bạn đừng sử dụng mục nầy vì bản thân chúng tôi chứng kiến rất nhiều trường hợp dở khóc dở cười do mục nầy gây ra. Lợi ít mà hại nhiều. Chỉ những máy tính công cộng mới phải sử dụng tới mục nầy thôi.

* System Bios Shadow, Video Bios Shadow:
Nếu enable là cho copy các dữ liệu về System và Video trong Bios (có tốc độ chậm) vào Ram (tốc độ nhanh) để rút ngắn thời gian khi cần truy nhập vào các dữ liệu nầy.

* Wait for if Any Error:
Cho hiện thông báo chờ ấn phím F1 khi có lỗi.

* Numeric Processor:

Thông báo có gắn CPU đồng xử lý (Present) trên máy hay không (absent). Mục nầy thường có cho các máy dùng CPU 286, 386, 486SX. Từ 486DX trở về sau đã có con đồng xử lý bên trong CPU nên trên các máy mới có thể không có mục nầy.

* Turbo Switch Funtion:

Cho nút Turbo có hiệu lực (enable) hay không (disable). Mục nầy thường thấy ở các Bios đời củ, trên các máy đời mới lựa chọn nầy thường bằng cách Set jumper của Mainboard. Từ Mainboard pentium trở đi không có mục nầy.

3. Setup các thành phần có liên quan đến vận hành hệ thống (Chipset Setup):

* Auto Configuration:
Nếu enable, Bios sẽ tự động xác lập các thành phần về DRAM, Cache...mỗi khi khởi động tùy theo CPU Type (kiểu CPU) và System Clock (tốc độ hệ thống). Nếu Disable là để cho bạn tự chỉ định.

* AT Clock Option:
Nếu Async (không đồng bộ) là lấy dao động chuẩn của bộ dao động thạch anh chia đôi làm tốc độ hoạt động cho AT Bus (bus 8 - 16Bit). Thường là 14.318MHz/2 tức 7.159MHz. Có Bios còn cho chọn tốc độ của mục nầy là 14.318MHz. Nếu Sync (đồng bộ) là dùng System Clock (do bạn chỉ định bằng cách Set jumper trên mainboard) làm tốc độ chuẩn.

* Synchronous AT Clock/AT Bus Clock Selector:
Chỉ định tốc độ hoạt động cho AT Bus bằng cách lấy tốc độ chuẩn (system clock) chia nhỏ để còn lại khoảng 8MHz cho phù hợp với card 16Bit. Các lựa chọn như sau:

CLKI/3 khi system clock là 20 - 25MHz.

CLKI/4 khi system clock là 33MHz.

CLKI/5 khi system clock là 40MHz.

CLKI/6 khi system clock là 50MHz.

Tốc độ nầy càng lớn (số chia càng nhỏ), máy chạy càng nhanh do tăng tốc độ vận chuyển dữ liệu. Tuy nhiên lớn đến đâu là còn tùy thuộc vào mainboard và card cắm trên các Slot (quan trọng nhất là card I/O). Các bạn phải thí nghiệm giảm số chia từng nấc và chú ý máy có khởi động hay đọc đĩa bình thường không, nếu phát sinh trục trặc thì giảm xuống 1 nấc. Thường thì bạn có thể tăng được 2 nấc, thí dụ: System clock là 40MHz, bạn chọn CLKI/3. Card ISA 8 và 16 Bit có thể chạy tốt trong khoảng từ 8MHz đến 14MHz. Nếu nhanh quá, thường card I/O gặp trục trặc trước (không đọc được đĩa cứng).

* AT Cycle Wait States/Extra AT Cycle WS:
Ðể enable hay disable việc chèn thêm 1 thời gian chờ vào thời gian chuẩn của AT Bus. Nếu system clock dưới 33MHz chọn disable. Nếu trên 33MHz chọn enable.

* Fast AT Cycle:
Khi enable sẽ rút ngắn thời gian chuẩn của AT Bus.

* DRAM Read Wait States/DRAM Brust Cycle:
Dưới 33MHz là: 3 - 2 - 2 - 2 hay 2 - 1 - 1 - 1

Từ 33 - 45MHz là: 4 - 3 - 3 - 3 hay 2 - 2 - 2 - 2

50MHz là: 5 - 4 - 4 - 4 hay 3 - 2 - 2 - 2

Chọn mục nầy ảnh hưởng lớn đến tốc độ CPU.

* DRAM/Memory Write Wait States:
Chọn 1WS khi hệ thống nhanh hay DRAM chậm (tốc độ 40MHz trở lên). Chọn 0WS khi hệ thống và DRAM có thể tương thích (33MHz trở xuống).

* Hidden Refresh Option:
Khi enable, CPU sẽ làm việc nhanh hơn do không phải chờ mỗi khi DRAM được làm tươi.

* Slow Refresh Enable:
Mục nầy nhằm bảo đảm an toàn dữ liệu trên DRAM, thời gian làm tươi sẽ kéo dài hơn bình thường. Bạn chỉ được enable mục nầy khi bộ nhớ của máy hỗ trợ việc cho phép làm tươi chậm.

* L1 Cache Mode:
Lựa chọn giữa Write-Through và Write-Back cho Cache nội trong CPU 486 trở lên. Xác lập Write-Through máy sẽ chạy chậm hơn Write-Back nhưng việc lực chọn còn tuỳ thuộc vào loại CPU.

* L2 Cache Mode:
Xác lập cho cache trên mainboard.

* IDE HDD Auto Detection/IDE SETUP:
Khi chọn mục nầy sẽ xuất hiện một cửa sổ cho bạn chỉ định ổ đĩa cần dò tìm thông số (2 hay 4 ổ đĩa tuỳ theo Bios). Sau đó bạn bấm OK hay YES để Bios điền vào phần Standard dùm cho bạn. Trong Bios đời mới, Auto detect có thể đưa ra vài loại ổ đĩa. Tuỳ theo cách sử dụng ổ dĩa (normal, LBA,...) mà bạn chọn loại thích hợp.

* Power Management Setup:
Ðối với CPU 486:

Phần nầy là các chỉ định cho chương trình tiết kiệm năng lượng sẵn chứa trong các Bios đời mới. Chương trình nầy dùng được cho cả 2 loại CPU: Loại thường và loại CPU kiểu S. CPU kiểu S hay CPU có 2 ký tự cuối SL là một loại CPU được chế tạo đặc biệt, có thêm bộ phận quản lý năng lượng trong CPU. Do đó trong phần nầy có 2 loại chỉ định dành cho 2 loại CPU.

Ðối với Pentium:

Dùng chung cho mọi loại Pentium hay các chíp của các hảng khác cùng đời với Pentium.

* Power Management/Power Saving Mode:
Disable: Không sử dụng chương trình nầy.

Enable/User Define: Cho chương trình nầy có hiệu lực.

Min Saving: Dùng các giá trị thời gian dài nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm năng lượng ít nhất).

Max Saving: Dùng các giá trị thời gian ngắn nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm nhiều nhất).

* Pmi/Smi:
Nếu chọn SMI là máy đang gắn CPU kiểu S của hãng Intel. Nếu chọn Auto là máy đang gắn CPU thường.

* Doze Timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Khi đúng thời gian máy đã rảnh (không nhận được tín hiệu từ các ngắt) theo quy định, CPU tự động hạ tốc độ xuống còn 8MHz. Bạn chọn thời gian theo ý bạn (có thể từ 10 giây đến 4 giờ) hay disable nếu không muốn sử dụng mục nầy.

* Sleep Timer/Standby timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Chỉ định thời gian máy rảnh trước khi vào chế độ Sleep (ngưng hoạt động). Thời gian có thể từ 10 giây đến 4 giờ.

* Sleep Clock:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S: Stop CPU hạ tốc độ xuống còn 0MHz (ngưng hẳn). Slow CPU hạ tốc độ xuống còn 8MHz.

* HDD Standby Timer/HDD Power Down:
Chỉ định thời gian ngừng motor của ổ đĩa cứng.

* CRT Sleep:
Nếu Enable là màn hình sẽ tắt khi máy vào chế độ Sleep.

* Chỉ định:
Các chỉ định cho chương trình quản lý nguồn biết cần kiểm tra bộ phận nào khi chạy.

Chú ý: Do Bios được sản xuất để sử dụng cho nhiều loại máy khác nhau nên các bạn luôn luôn gặp phần nầy trong các Bios. Thực ra chúng chỉ có giá trị cho các máy xách tay (laptop) vì xài pin nên vấn đề tiết kiệm năng lượng được đặt lên hàng đầu. Chúng tôi khuyên các bạn đang sử dụng máy để bàn (desktop) nên vô hiệu hoá tất cả các mục trong phần nầy, để tránh các tình huống bất ngờ như: đang cài chương trình, tự nhiên máy ngưng hoạt động, đang chạy Defrag tự nhiên máy chậm cực kỳ....

4. Phần dành riêng cho Mainboard theo chuẩn giao tiếp PCI có I/O và IDE On Board (peripheral Setup):

* PCI On Board IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) 2 đầu nối ổ đĩa cứng IDE trên mainboard. Khi sử dụng Card PCI IDE rời, ta cần chọn disabled.

* PCI On Board Secondary IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) đầu nối ổ đĩa cứng IDE thứ 2 trên mainboard. Mục nầy bổ sung cho mục trên và chỉ có tác dụng với đầu nối thứ 2.

* PCI On Board Speed Mode:
Chỉ định kiểu vận chuyển dữ liệu (PIO speed mode). Có thể là Disabled, mode 1, mode 2, mode 3, mode 4, Auto. Trong đó mode 4 là nhanh nhất.

* PCI Card Present on:
Khai báo có sử dụng Card PCI IDE rời hay không và nếu có thì được cắm vào Slot nào. Các mục chọn là: Disabled, Auto, Slot 1, Slot 2, Slot 3, Slot 4.

* PCI IRQ, PCI Primary IDE IRQ, PCI Secondary IDE IRQ:
Chỉ định cách xác lập ngắt cho Card PCI IDE rời.

Chú ý: Trong mục nầy có phần xác lập thứ tự gán ngắt cho các Card bổ sung. Thí dụ: 1 = 9, 2 = 10, 3 = 11, 4 = 12 có nghĩa là Card đầu tiên cắm vào bất kỳ Slot nào sẽ được gán ngắt 9, nếu có 2 Card thì Card cắm vào Slot có số thứ tự nhỏ sẽ được gán ngắt 9, Slot có số thứ tự lớn sẽ được gán ngắt 10.v..v...

* IDE 32Bit Transfers Mode:
Xác lập nầy nhằm tăng cường tốc độ cho ổ đĩa cứng trên 528Mb, nhưng cũng có ổ đĩa không khởi động được khi enabled mục nầy dù fdisk và format vẫn bình thường.

* Host to PCI Post Write W/S, Host to PCI Burst Write, Host to DRAM Burst Write:
Các mục nầy xác lập cho PCU Bus, không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ CPU, có thể để nguyên xác lập mặc nhiên.

* PCI Bus Park, Post Write Buffer:
Khi enabled các mục nầy có thể tăng cường thêm tốc độ hệ thống.

* FDC Control:
Cho hiệu lực hay không đầu nối cáp và xác lập địa chỉ cho ổ đĩa mềm.

* Primary Seral Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.

* Secondary Serial Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 2 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy. Chú ý: Nếu bạn sử dụng Card bổ sung có xác lập điạ chỉ là COM 1 hay COM 2, bạn phải disabled cổng tương ứng trong hai mục trên.

* Parallel Port:
Cho hiệu lực hay không cổng LPT 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.

5. Hướng dẫn Setup Bios:

Trong các tài liệu đi kèm mainboard, đều có hướng dẫn Setup Bios. Khi mua máy hay mua mainboard, các bạn nhớ đòi các tài liệu nầy vì nó rất cần cho việc sử dụng máy.

Trong các phần Setup trên, phần Standard, Advanced có ảnh hưởng đến việc cấu hình máy. Phần Chipset ảnh hưởng đến tốc độ máy. Phần PCI ảnh hưởng đến các gán ngắt, địa chỉ cho các Slot PCI, cổng; cách vận chuyển dữ liệu cho IDE On Board.

Nếu gặp các thành phần hoàn toàn mới, trước tiên bạn hãy Set các thành phần đã biết, kiểm tra việc thay đổi của máy, cuối cùng mới Set tới các thành phần chưa biết. Chúng tôi xin nhắc lại, việc Setup Bios sai không bao giờ làm hư máy và các bạn sẽ dễ dàng Setup lại nhờ vào chính Bios. Trên mainboard luôn luôn có 1 Jumper dùng để xóa các thông tin lưu trong CMOS để bạn có thể tạo lại các thông tin nầy trong trường hợp không thể vào lại Bios Setup khi khởi động máy.

Khi tiến hành tìm hiểu Setup Bios, bạn nên theo một nguyên tắc sau: Chỉ Set từng mục một rồi khởi động máy lại, chạy các chương trình kiểm tra để xem tốc độ CPU, ổ đĩa có thay đổi gì không?. Cách làm nầy gíúp bạn phát hiện được ảnh hưởng của từng mục vào hệ thống và bạn có thể biết chắc trục trặc phát sinh do mục nào để sửa chữa. Khi xẩy ra trục trặc mà bạn không biết đối phó, bạn chỉ cần vào lại Bios Setup chọn Load Bios Default hay bấm F6 trong phần Set mà bạn muốn phục hồi sau đó khởi động máy lại là xong.

http://giaitri.tuvanonline.com/showthread.php?t=14075

21 thg 4, 2008

Kiến thức cơ bản về mạng: Phần 15 – Universal Groups & Group Nesting

Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho bạn khái niệm về cách sử dụng các nhóm để quản lý truy cập mạng, tiếp đó là việc cho phép các điều khoản trực tiếp đối với người dùng.

Chúng tôi cũng đã giải thích Windows Server 2003 hỗ trợ một số kiểu nhóm khác và mỗi một kiểu nhóm đó lại có những ưu và nhược điểm riêng.

Trong bài đó, chúng tôi đã nói về local group, domain local group và global group. Bạn có thể dễ dàng quản lý toàn bộ mạng bằng cách chỉ sử dụng các kiểu nhóm này. Tuy nhiên còn có nhiều kiểu nhóm mà Windows Server 2003 hỗ trợ như universal group.

Nếu một số bạn chưa nắm chắc về local groups, domain local groups, và global groups thì các universal group ban đầu dường như sẽ giống như một câu trả lời cho những yêu cầu tìm hiểu của bạn. Các nhóm Universal group là nhóm về bản chất không phải là chủ đề cho những hạn chế áp dụng đối với các kiểu nhóm khác. Ví dụ, trong bài trước, chúng tôi đã đề cập đến rằng bạn không thể đặt một nhóm nội bộ hoặc nhóm miền nội bộ (domain local group) vào một nhóm nội bộ khác. Tuy nhiên bạn lại có thể đặt một nhóm universal group vào một nhóm nội bộ (local group). Các nguyên tắc này áp dụng đối với các loại nhóm khác mà không áp dụng đối với nhóm universal group.

Rõ ràng, vấn đề này càng đặt ra nhiều thắc mắc về tại sao bạn nên sử dụng các nhóm còn lại nếu chúng có những hạn chế mà các nhóm universal group có thể khắc phục được.

Một trong những lý do chính có quá nhiều kiểu nhóm khác nhau vì Windows Server là một sản phẩm tiến hóa dần dần. Các nhóm Universal group đã được giới thiệu trong Windows 2000 Server, cùng với Active Directory. Các phiên bản trước của Windows Server (trước đây vẫn gọi là Windows NT Server) đã hỗ trợ việc sử dụng các nhóm, nhưng nhóm universal group vẫn không được đưa ra khi các phiên bản này thịnh hành. Khi Microsoft đã phát hành Windows 2000 Server, họ muốn tiếp tục hỗ trợ các kiểu nhóm khác với tư cách duy trì sự tương thích với các phiên bản trước đó trong Windows NT. Tương tự như vậy, Windows Server 2003 cũng hỗ trợ các kiểu nhóm đã có từ trước cũng với các lý do tương thích.

Sự thật là các nhóm universal group đã không tồn tại trong thời kỳ Windows NT Server, điều đó có nghĩa rằng Windows NT không hỗ trợ cho các nhóm này. Điều này đã gây ra một số vấn đề nếu bạn có máy chủ Windows NT nào đó trong hệ thống của mình.

Windows 2000 Server là một cải tiến rõ rệt so với Windows NT Server, một số tính năng mới sẽ chỉ làm việc trên mạng mà không cần các bộ điều khiển miền của Windows NT Server. Để giải quyết vấn đề này, Microsoft đã tạo một khái niệm native mode. Chúng tôi sẽ nói chi tiết hơn về native mode trong phần sau, nhưng ý tưởng cơ bản của nó là khi Windows 2000 Server được cài đặt ban đầu thì nó sẽ hoạt động trong một chế độ gọi là mixed mode. Chế độ này tương thích hoàn toàn với Windows NT, nhưng nhiều tính năng của Windows 2000 lại không thể được sử dụng cho tới khi bạn loại bỏ các bộ điều khiển miền của Windows NT và chuyển sang chế độ native mode. Mặc dù về thuật ngữ có phần hơi khác nhưng nó cũng là những khái niệm cơ bản được áp dụng cho Windows Server 2003.

Universal group là một trong những tính năng chỉ có tác dụng nếu các bộ điều khiển miền của bạn đang hoạt động trong chế độ Native Mode của Windows 2000 Server hoặc cao hơn. Đó là lý do tại sao bạn không thể sử dụng các nhóm universal group trong mọi tình huống.

Ngay cả khi tất cả máy chủ của bạn đang chạy trên hệ điều hành Windows Server 2003, và forest của bạn hoàn toàn ở trong chế độ native, thì sử dụng universal group trong hầu hết các trường hợp vẫn là một ý tưởng không tốt.

Như đã nói trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi giới thiệu cho bạn khái niệm về global catalog servers. Các máy chủ global catalog server là các bộ điều khiển miền đã được gán nhiệm vụ giữ kiểm tra mọi đối tượng trong forest. Điển hình, mỗi vị trí Active Directory đều có bản copy của chính nó cho global catalog, điều đó có nghĩa rằng ở bất kỳ thời điểm nào một máy chủ global catalog cũng đều được cập nhật, thông tin cập nhật phải được tạo bản sao cho các máy chủ này.

Khi bạn tạo một universal group, cả tên nhóm và danh sách hội viên của nhóm đều được ghi vào các máy chủ global catalog. Điều này có nghĩa rằng khi tạo nhiều nhóm universal group thì các máy chủ global catalog sẽ như phồng lên. Khi global catalog càng lớn thì số lượng thời gian mà nó cần để sao global catalog từ một máy chủ global catalog này sang một máy chủ global catalog khác càng tăng. Nếu không được kiểm tra thì điều này có thể dẫn đến các vấn đề về hiệu suất mạng.

Trong trường hợp này có thể bạn đang phân vân rằng kiểu còn lại của các nhóm không cáng đáng nổi lượng tải trên global catalog. Ví dụ, các nhóm global group đã được liệt kê trong global catalog, nhưng danh sách hội viên của chúng lại không có. Chính vì vậy nguyên lý cơ bản của Microsoft là hoàn toàn “OK” để tạo các nhóm universal group nhưng bạn nên sử dụng chúng một cách dè xẻn.

Group Nesting

Một khái niệm có liên quan đến nhóm cuối cùng mà chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn đó là Nesting. Cách đơn giản nhất để giải thích về nhóm này là so sánh nó với các con búp bê của Nga. Các kiểu búp bê này được thiết kế để chúng có thể đặt được vào bên trong mỗi con khác lớn hơn. Con nhỏ nhất sẽ được đặt vào con nhỏ nhất trừ nó và cứ thế tiếp tục, chúng ta sẽ đặt được tất cả các con búp bê nhỏ vào trong một con lớn. Ý tưởng đặt đối tượng này bên trong đối tượng khác tương tự được gọi là nesting (xếp lồng).

Có nhiều lý do khác nhau cho việc đưa ra các nhóm nesting này. Một trong những lý do chung nhất là việc tương thích các tài nguyên với các văn phòng. Ví dụ, một công ty bắt đầu tạo nhóm cho mỗi phòng ban. Họ có thể tạo nhóm Tải chính, nhóm Thị trường, nhóm CNTT... Tiếp theo họ sẽ đặt người dùng vào nhóm sao cho phù hợp với phòng ban mà người dùng đã làm. Bước tiếp theo trong tiến trình sẽ là tạo các nhóm phù hợp với các tài nguyên khác nhau mà bạn cần đồng ý cho phép truy cập vào. Ví dụ, nếu bạn đã biết rằng một ai đó trong phòng tài chính cần truy cập vào một ứng dụng tài khoản thì có thể tạo một nhóm cho phép truy cập vào ứng dụng đó và sau đó đặt nhóm tài chính vào nhóm đó. Bạn không phải xếp lồng các nhóm nhưng việc làm như vậy đôi khi cho phép dễ làm việc trong tổ chức của mình, trong khi vẫn tiết kiệm được lượng công việc trong tiến trình. Trong trường hợp ví dụ trước, bạn không phải đặt một cách thủ công mỗi một tài khoản người dùng riêng lẻ vào nhóm cho ứng dụng tài khoản mà thay vì đó bạn chỉ cần dùng lại nhóm đã tồn tại trước đó.

Lưu ý rằng không phải mọi nhóm đều có thể được xếp lồng vào nhóm khác. Bảng dưới đây sẽ liệt kê các loại nhóm nào có thể xếp lồng được:

Loại nhóm


Có thể được xếp lồng trong nhóm Local


Có thể được xếp lồng trong nhóm Domain Local


Có thể được xếp lồng trong nhóm Global


Có thể được xếp lồng trong nhóm Universal
Local

Không


Không


Không


Không

Domain Local





Có (nếu cùng miền)


Không


Không

Global








Có (nếu cùng miền)




Universal








Không




Lưu ý:

Nếu Windows đang sử dụng trong chế độ mixed mode của hệ điều hành Windows 2000 thì bạn sẽ bị những hạn chế dưới đây:

• Không thể tạo các nhóm Universal groups
• Các nhóm Domain local group chỉ chứa nhóm global
• Các nhóm Global group không chứa các nhóm khác

Kết luận

Trong bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn một số ưu điểm về việc xếp lồng một nhóm này vào trong nhóm khác. Cùng với đó chúng tôi cũng giới thiệu một số tình huống có thể để áp dụng điều này. Phần tiếp theo của loạt bài này có thể sẽ giới thiệu tiếp cho các bạn về nguyên tắc mà hệ điều hành Windows thực hiện trong việc kết nối mạng, mời các bạn đón đọc.

http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/kienthucmang/2008/4/38409.html

Ghost Winxp trên nhiều cấu hình !

Tạo tập tin ghost cho Windows XP chạy được trên các máy tính có cấu hình khác nhau

Nguyên nhân khiến tập tin ghost Windows XP thường “máy nào chạy máy nấy” là khi cài Windows XP trên máy bất kỳ, nó đều tự động thiết lập thông số các tập tin cấu hình đúng theo đặc trưng phần cứng của máy đó. Khi mang sang máy khác, có đặc trưng phần cứng khác, nó không thể chạy được vì không thể quản lý được phần cứng mới và cũng không có khả năng tự động thiết lập lại cấu hình phần cứng như Windows 9x. Để khắc phục nguyên nhân này, chúng ta sẽ dùng bộ công cụ System Prepairation Tool đi kèm theo đĩa cài đặt Windows XP để xóa bỏ tập tin cấu hình phần cứng trong Windows XP trước khi ghost.

Bước 1: Bạn đưa đĩa CD cài đặt Windows XP vào, tìm đến thư mục \SUPPORT\TOOLS. Giải nén toàn bộ tập tin DEPLOY.CAB vào thư mục C:\SYSPREP (với C: là ổ đĩa cài đặt Windows XP của bạn). Nếu máy bạn có cài đặt WinZip, nhấn phải chuột vào tập tin DEPLOY.CAB, chọn WinZip\ Extract to -> gõ vào C:\SYSPREP rồi nhấn OK.
Bước 2: Chuyển đến thư mục C:\SYSPREP, chạy tập tin SETUPMGR.EXE để tạo ra tập tin trả lời tự động cho quá trình cài đặt sau này. Nhấn Next -> chọn mục Create a new answer file -> chọn Sysprep install. Chọn bản Windows XP bạn sẽ dùng (Home hay Professional), đánh dấu vào Yes, fully automate the installation. Bây giờ chương trình sẽ yêu cầu bạn điền các thông tin giống như khi bạn cài đặt Windows XP. Nhấn Next để điền các thông tin. Bạn chú ý khai báo các phần bắt buộc sau đây: mục Customize the Software và Providing the Product Key (CDKey của Windows XP) trong thẻ General Setting, mục Computer Name (tên máy tính) trong thẻ Network Setting. Khi điền xong nhấn Next, máy sẽ hỏi bạn lưu thông tin vào đâu, bạn gõ vào: C:\Sysprep\sysprep.inf rồi nhấn OK. Đóng cửa sổ chương trình đang chạy lại.

Bước 3: Lấy đĩa CD cài đặt Windows XP ra, đưa đĩa CD có khả năng boot về DOS thực và chứa chương trình Ghost vào.

Bước 4: Chạy tập tin sysprep.exe trong thư mục C:\SYSPREP, nhấn OK khi gặp thông báo. Bạn đánh dấu vào mục Mini Setup và PnP (chức năng Plug & Play: tự động dò tìm và cài đặt phần cứng). Trong phần Shutdown, chọn Reboot. Sau đó nhấn Reseal. Máy tính sẽ khởi động lại.
Bây giờ, sau khi máy tính khởi động lại về dấu nhắc DOS. Bạn chạy chương trình Ghost có trên CD để tạo tập tin Ghost Windows XP. Tập tin Ghost này có thể chạy trên mọi máy tính có cấu hình khác nhau. Khi bung tập tin Ghost này ra và chạy Windows XP, nó sẽ tự động chạy chương trình Mini Setup để xác lập lại các thông số về phần cứng cho phù hợp với mỗi máy.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn có thể đọc các tập tin trợ giúp chứa trong tập tin DEPLOY.CAB như: deploy.chm, ref.chm và setupmgr.chm.
Có vấn đề cần thắc mắc hãy liên hệ với tôi, xin hết sức giúp đỡ.
Ngưòi viết hoangcanhvc@yahoo.com.vn lúc 02:56

http://nguoiyenbai.yeublog.com/75695/Ghost+Winxp+tr%C3%AAn+nhi%E1%BB%81u+c%E1%BA%A5u+h%C3%ACnh+%21.html

Một số kinh nghiệm lắp đặt ADSL

Năm 2008 và vài năm tới dược dự báo là thời hoàng kim của dịch vụ băng rộng, trong đó ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line - Đường dây thuê bao số không đối xứng) được đánh giá là một trong những dịch vụ có nhiều tiềm năng.

Hiện nay, dịch vụ ADSL phát triển không chỉ ở thành thị mà còn lan rộng đến nông thôn, thậm chí vùng sâu vùng xa, do nhu cầu người dùng ngày một tăng và giá cước có xu hướng giảm mạnh. Các nhà cung cấp dịch vụ đang trong cuộc đua quyết liệt nhằm lôi kéo khách hàng về mình. Tuy nhiên, làm thế nào để xây dựng nên một qui trình khép kín từ khi nhận yêu cầu, xử lý thông tin cho đến lắp đặt và bảo dưỡng một cách khoa học, hiệu quả lại là một bài toán đặt ra cho họ - những nhà cung cấp dịch vụ.

Đối với thuê bao ADSL có thể ở 2 dạng: thứ nhất là thuần tuý ADSL và thứ hai là đa dịch vụ (chẳng hạn như đi chung đường với đường dây điện thoại). Dạng thứ nhất thông thường được cấp số ảo, còn đối với dạng thứ hai thì được cấp số bình thường như dịch vụ thoại.

Việc lắp đặt ADSL ngoài những trở ngại như lắp đặt máy điện thoại (việc tìm địa chỉ lắp đặt, chủ thuê bao đi vắng nhưng không liên lạc được, không có đường kéo dây, cáp hỏng, đấu nối chưa tiếp ở MDF của tổng đài...) thì cũng có những rắc rối khác. Chẳng hạn khách hàng muốn thay đổi địa điểm đặt router/modem hay máy tính thì phải kéo đường dây khác. Nhiều trường hợp các khu biệt thự hay nhà cao tầng có dây đi ống âm tường thì rất khó khăn do nhiều khi thậm chí chủ nhà cũng không biết đường đi của cáp nội bộ trong nhà như thế nào.

Đối với những thuê bao do nhà cung cấp trang bị modem/router, việc cài đặt tương đối dễ dàng nhưng nếu khách hàng tự trang bị modem/router, nhất là các loại cũ, không còn driver cài đặt thì tương đối phức tạp. Ngoài ra, nhiều chi tiết tuy nhỏ như người nhà không biết mật khẩu vào máy tính, hệ điều hành bị lỗi hay thiếu ổ cắm điện cũng có thể gây phiền toái khi cài đặt....Nói chung, trong nhiều trường hợp dù có chuẩn bị khá chu đáo thì nhân viên lắp đặt vẫn gặp phải một số trở ngại khách quan như đã nói trên.

Bởi vậy để giảm thiểu thời gian lắp đặt, người tác nghiệp nên chuẩn bị tốt một số việc sau trước khi đến nhà khách hàng và trong quá trình tiến hành lắp đặt hay xử lý máy hỏng:

1. Gọi điện đến các nút chuyển mạch kiểm tra xem đường line đã đấu ADSL tốt chưa và kiểm tra kết quả khai báo tại nhà cung cấp cũng như đo kiểm đường tải lên, tải xuống đã đạt đúng tốc độ theo gói cước yêu cầu chưa?

2. Gọi điện liên hệ để hỏi cụ thể địa điểm lắp đặt (nhà thuê bao), hẹn khách hàng thời gian lắp đặt.

3. Hỏi khách hàng về vị trí lắp đặt ADSL, đầu dây tín hiệu đã được kéo gần đến chỗ đặt máy vi tính chưa? Tình trạng máy tính đã chạy tốt chưa? Người theo dõi ở nhà có biết mật khẩu để vào máy tính không? Khách hàng đã trang bị modem/router chưa? Loại nào? Việc trao đổi như vậy cần hết sức thận trọng, mềm dẻo và tế nhị để tránh gây phiền hà cho khách hàng.

4. Chuẩn bị các dụng cụ tác nghiệp và thiết bị cần thiết, trong đó không thể thiếu các thiết bị dùng để kiểm tra như: modem/router, bộ lọc ADSL (splitter), dây mạng máy tính, dây nối USB, đĩa driver USB, hộp đấu dây và dây line đã vận hành thử tốt để kiểm tra loại trừ trong trường hợp có sự cố xảy ra. Nếu có máy tính xách tay đã thử nghiệm giao tiếp tốt với bộ công cụ trên thì càng tốt. Đối với công tác này cần đặc biệt lưu ý hai điều: thứ nhất là hiện nay có nhiều hộp đấu dây có trang bị bo mạch chống sét sẽ không tương thích với tín hiệu ADSL nên dù cho phía tổng đài đã đấu nối tốt nhưng tại nhà thuê bao vẫn không có tín hiệu DSL và thứ hai là các đầu nối dây có thể chưa tiếp tốt hay bấm dây chưa đúng luật màu (đối với dây mạng máy tính) cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ đường truyền, thậm chí làm cho đường truyền không thể truyền được.

5. Khi đến nhà khách hàng, trước hết cần kiểm tra các thiết bị của khác hàng đã đạt yêu cầu kỹ thuật chưa? Đến bước này cần đặc biệt lưu ý đến cấu hình máy tính, hệ điều hành và card mạng hay phiên bản của driver USB đang dùng.

6. Tuỳ từng loại modem/router và bộ lọc mà kiểm tra các sơ đồ đấu nối, các đèn tín hiệu đã báo đúng chưa? Sau đó mới tiến hành đăng nhập theo địa chỉ IP của modem/router để cài đặt.

7. Khi đã cài đặt tất cả các thông số cần kiểm tra xem tín hiệu đã kết nối được chưa (thường thông qua menu Diagnostic hoặc dùng các lệnh “ping [địa chỉ IP]” hay lệnh “tracert -d [địa chỉ IP]” của Windows). Bằng mắt thường cũng có thể quan sát các đèn tín hiệu để biết modem đã được cài đặt tốt chưa. Nếu tín hiệu đã thông tốt thì tiến hành duyệt web thử. Nếu đã đạt yêu cầu thì phải lưu lại cấu hình cài đặt đối với một số loại modem/router để nếu mất nguồn nuôi thì thông số cấu hình vẫn không mất. Một số loại modem/router còn cho phép lưu cấu hình ra tệp tin (thường thông qua menu Save Settings) để khi reset có thể dùng tệp tin này nạp lại cấu hình nhằm giảm thiểu thời gian cài đặt.



Theo TCBCVT

http://www.quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&News_ID=45216

20 thg 4, 2008

Hướng dẫn cách tìm Website bị lỗi

Tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách tìm các Website bị lỗi, đa số cách thông dụng nhất là vào các trang Search như http://www.google.com, http://www.av.com ... rồi đánh "powered by ...." (ví dụ : nếu tìm trang Forum UBB 1.0.3 thì đánh "powered by UBB 1.0.3"). Nhưng như thế thường không hiệu quả và nó cho ra rất nhiều trang chẳng liên quan gì đến trang mình cần tìm.
Tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách tìm các Website bị lỗi, đa số cách thông dụng nhất là vào các trang Search như http://www.google.com/, http://www.av.com/ ... rồi đánh "powered by ...." (ví dụ : nếu tìm trang Forum UBB 1.0.3 thì đánh "powered by UBB 1.0.3"). Nhưng như thế thường không hiệu quả và nó cho ra rất nhiều trang chẳng liên quan gì đến trang mình cần tìm. Bây giờ tôi chỉ cho các bạn tìm kiếm trang bị lỗi trên http://www.google.com/.
Bình thường một chương trình trên mạng đều có một đoạn string đặc biệt trong URL, ví dụ với lỗi Hosting Controller thì sẽ có đoạn "/admin hay /advadmin hay /hosting" hay với forum UBB thì có "cgi-bin/ultimatebb.cgi?", khi chỉ đánh vậy không nó sẽ liệt kê ra cả trang nói về Hosting Controller lẫn trang đang sử dụng Hosting Controller, như thế kết quả ra nhiều nhưng không hiệu quả. Bây giờ các bạn thêm chữ allinurl: trước đoạn string đặc biệt cần kiếm, thì những tran Web tìm kiếm được chắc chắn sẽ có chuỗi cần tìm.
Ví dụ : Khi tôi kiếm server dùng Hosting Controller, tôi vào http://www.google.com/ và đánh "allinurl:/advadmin" (không có ngoặc kép) thì nó chỉ liệt kê ra những trang có URL có dạng : http://tentrangweb.com/advadmin.

Nhân tiện tôi cũng chỉ các bạn cách tìm các file trên http://www.google.com/
Muốn tìm các file trên http://www.google.com/ thì bạn thêm chữ type file: trước tên file cần tìm trên các chuyên khu web.
Ví dụ : bạn muốn tìm file mdb (đây là file chứa Password của các Website, dùng Access để mở) thì bạn vào http://www.google.com/ và đánh type file:mdb
bạn muốn tìm file SAM (đây là file chứa Password của Windows NT, dùng L0phtCrack để Crack) thì bạn vào http://www.google.com/ và đánh type file:SAM

http://www.sanitc.com/itc/NewDetail.asp?ID=52&IDL=122&IDD=594

Những phần mềm giúp lướt web nhanh

Khi làm việc hay giải trí trên mạng chắc hẳn ai cũng muốn máy tính của mình có thể lướt web, gửi mail hay thậm chí là chơi game online nhanh hơn. Nắm bắt được điều này nhiều hãng sản xuất phần mềm máy tính đã đưa ra những "công cụ" lướt web nhanh

1. TrafficCompressor: Khi bạn mở một trang web hay nhận một lá thư với phần mềm này dữ liệu sẽ không chuyển trực tiếp từ server của trang web hay e-mail này đến máy tính, mà chuyển tải thông qua một trong những server của TC nằm trên những mạng lưới internet tốc độ cao đặt tại một số nước. Sau đó server này sẽ nén nhỏ dữ liệu và gửi đến máy tính của bạn qua kết nối đang sử dụng như dial-up, ADSL hay cable modem.

Kết quả đạt được là lưu lượng dữ liệu phải truyền tải sẽ giảm xuống chỉ còn từ 40 - 60%; vì thế tốc độ lướt web, đính kèm tập tin theo thư của bạn sẽ nhanh hơn trước khá nhiều. Bạn có thể tải phần mềm này tại địa chỉ:www.tcompressor.com/Download/TrafficCompressorSetup.exe

2. Flash Speed 200%:

Công cụ tăng tốc lướt web này được cho là có khả năng gia tăng tốc độ truy cập mạng nhanh tối đa đến... 200%. Bạn có thể tải bản này tại địa chỉ:http://download.excellencesoft.com/FlashSpeed.exe

3. IE Accelerator:

Đây là phần mềm chuyên dùng cho trình duyệt Internet Explorer. Bạn chỉ cần chọn kiểu truy cập mạng của máy tính ở mũi tên trỏ xuống nằm ở góc phải phía trên giao diện và nhấn vào nút "Accelerate" là tốc độ lướt web bằng Internet Explorer sẽ tăng lên đáng kể.

Địa chỉ dowload: http://www.qwerks.com/download/6494/ieaccelerator.exe

Nguồn trích : vtv
http://www.sanitc.com/itc/NewDetail.asp?ID=54&IDL=147&IDD=1064