Cho đến nay, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã có những hoạt động từ thiện, biểu hiện sự giúp đỡ, chia sẻ đối với những khó khăn của nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Trong năm 2005 đã có 21 chương trình, dự án triển khai trên địa bàn tỉnh với tổng giá trị viện trợ là 580.549 USD, tăng 24% so với năm 2004. Đối tượng thụ hưởng chủ yếu của các hoạt động này là các trẻ em mồ côi, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và người khuyết tật.
Một số tổ chức, cá nhân đã có các hoạt động tài trợ chính thức và thường xuyên như:
Tổ chức Christina Noble Children’s Foundation ( Anh) đã tài trợ cho các huyện Định Quán, Tân Phú trong nhiều năm qua về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, dân nghèo, xây dựng phòng học và hỗ trợ học bổng cho học sinh nghèo. Kết quả hoạt động của dự án đạt cao, đóng góp cho việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và nhân dân nghèo trên địa bàn huyện, cho sự nghiệp giáo dục của huyện.
Tổ chức Saigon Children’s Charity ( SCC-Anh) tài trợ các dự án xây dựng phòng học, cải thiện cơ sở vật chất cho ngành giáo dục ở huyện. Hỗ trợ 415 suất học bổng cho học sinh nghèo vùng sâu, vùng xa, động viên học sinh nghèo vượt khó học giỏi, giảm bớt gánh nặng học phí cho cha mẹ các em; chương trình tiết kiệm tín dụng tạo điều kiền giúp cho 754 phụ nữ nghèo vay vốn để giải quyết khó khăn trong cuộc sống.
Tổ chức Good People World Family ( Hàn Quốc ) có dự án tài trợ thuộc lĩnh vực chăm sóc sứckhỏe cho trẻ em, nhân dân nghèo, xây dựng phòng học và hỗ trợ học bổng cho học sinh nghèo, tặng máy vi tính cho Trung tâm dạy nghề huyện Định Quán.
Chúng em cần lắm những tấm lòng
Chương trình nuôi dạy trẻ mồ côi của Hiệp hội Montlucon Saigon France ( Pháp) có mục tiêu dài hạn là nuôi dưỡng trẻ mồ côi không nơi nương tựa đến tuổi trưởng thành, mục tiêu ngắn hạn là nuôi dưỡng các cháu mồ côi cha hoặc mẹ, gia đình thuộc diện nghèo trong thời gian 3-5 năm. Đầu năm 2005, có 50 trẻ được chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng, đến nay tất cả các cháu đều phát triển trí lực và trí tuệ tốt. Sự hỗ trợ của tổ chức này đã giúp giảm bớt gánh nặng ngan sách nhà nước, góp phần giải quyết khó khăn về học tập, đời sống của các cháu mồ côi, tổ chức nuôi dưỡng tập trung, góp phần hạn chế trẻ em lang thang trên địa bàn huyện Long Thành.
Và còn rất nhiều, rất nhiều tổ chức cũng như cá nhân bày tỏ sự thông cảm, chia với những cảnh đời bất hạnh, có những hành động giúp đỡ chân thành đối với nhân dân tỉnh Đồng Nai như Dự án giáo dục Trung học và Đại học cho người khiếm thính do tổ chức Nippon Foundation ( Nhật bản) tài trợ; bà Taeko Matsuda ( Nhật Bản) đã tài trợ chính cho Trung tâm Bảo trợ Huấn luyện Cô nhi Biên Hòa; Tổ chức Vietnam Children Fund ( Mỹ ) hỗ trợ xây dựng trường Tiểu học Thừa Đức huyện Cẩm Mỹ; Hội khoa học Đông Nam Á ( IRO-Hàn Quốc) về huyện Cẩm Mỹ làm công tác từ thiện: phát thuốc, tặng quà, ủng hộ tiền sửa chữa nhà cho các đối tượng khó khăn…
Sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã biểu hiện sự quan tâm sâu sắc và chia sẻ khó khăn đối với nhân dân tỉnh Đồng Nai, chia sẻ gánh nặng về ngân sách cho tỉnh. Chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai hết sức xúc động và tri ân những tình cảm chân thành đó.
BBT
http://hdnd.dongnai.gov.vn/anpham/019/mldocument.2006-01-25.9487345324
8 thg 6, 2007
Những ước mơ xanh và dự án 10.000 USD
(Dân trí) - Chiếc xe lăn vừa trờ tới trước cửa, một cô gái chạy vội ra đẩy chiếc xe lên thềm dốc cao. Chúng tôi nhìn lên tấm biển màu xanh: Câu lạc bộ Ước Mơ Xanh. Bên trong, những chiếc máy vi tính, máy in, máy photocopy hoạt động liên tục do chính những nhân viên khuyết tật điều khiển.
Thi thoảng, có một việc quá sức nhân viên như với tay lên cao lấy chồng giấy A4 lại có một bạn trẻ chạy đến giúp. Hơn một năm nay, câu lạc bộ đã trở thành ngôi nhà chung, chốn đi về quen thuộc và thân thương của những bạn trẻ yêu thích công việc từ thiện, những tình nguyện viên và cả những học viên khuyết tật thành phố Đà Nẵng.
Từ những tấm lòng thiện nguyện
Câu lạc bộ có hơn 100 thành viên đa phần là sinh viên các trường Đại học, cao đẳng tại Đà Nẵng. Trong đó có khoảng 30 thành viên là người khuyết tật. Số nhà 38 Nguyễn Chí Thanh vừa là “đại bản doanh” của Ước Mơ Xanh cũng là cơ sở dịch vụ tin học, in ấn, photocopy, hiện thực hóa Dự án “Vì một ước mơ xanh cho người khuyết tật” của những người trẻ yêu thích công việc thiện nguyện.
Cứ mỗi tối lại có ít nhất 2,3 hay nhiều hơn thế những tình nguyện viên luân phiên nhau đến “phụ việc” cho những nhân viên khuyết tật. Chị Nguyễn Thị Thu Hà - chủ nhiệm câu lạc bộ kể lại những ngày đầu tiên: “Hè 2005, trong một lần giao lưu với Chi hội Người khuyết tật thành phố Đà Nẵng, mình cùng Nhi và Vũ (2 phó chủ nhiệm của CLB) “ý tưởng lớn gặp nhau” trước những cảnh đời kém may mắn đã tổ chức mở lớp dạy tin học miễn phí cho người khuyết tật. Mở lớp dạy học rồi liên hệ với Sở giáo dục tổ chức thi lấy chứng chỉ nhưng học viên cầm trên tay tấm bằng chứng nhận nghề vẫn không dễ dàng tìm được việc làm như bao người bình thường khác. Vì những lý do này khác các công ty đều lắc đầu ái ngại.
Mình vừa thấy bất nhẫn vừa day dứt không yên trong lòng. Có một cái nghề vững vàng nhưng các anh chị vẫn không dùng được tấm bằng chứng nhận để kiếm việc mưu sinh thì việc mình làm cũng không có ý nghĩa thực sự. Phải tìm cách tạo cho các anh chị em có công ăn việc làm”.
Ý tưởng có rồi nhưng đâu phải dễ dàng thực hiện. Bài toán kinh phí là một bài toán khó. Vậy là tự mỗi tình nguyện viên đóng góp “vun vén” từ cái bàn, cái ghế đến thuê địa điểm. Rồi vận động các nhà hảo tâm...
Chị Thu Hà đang hướng dẫn các học viên của lớp tin học miễn phí
Đến dự án 10.000 USD
Tháng 1/2006, ý tưởng hình thành một cơ sở đào tạo và dịch vụ tin học, nơi tạo việc làm cho người khuyết tật của câu lạc bộ Ước Mơ Xanh đã được Lê Thị Phương Nhi, cô sinh viên xuất sắc của Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Phó chủ nhiệm CLB đem ra trình bày trong Hội trại công dân trẻ Quốc tế do Hội đồng Anh tổ chức mà Nhi tham dự tại Phi-lip-pin. Nhi cho biết: “Các bạn trẻ Quốc tế tham gia Hội trại rất ủng hộ ý tưởng của Nhi và đóng góp thêm ý kiến để thành lập dự án. Đến lúc tham dự hoạt động sau trại tại Sapa tháng 3/2006, Nhi đã viết xong phần cơ bản của Dự án “Vì một ước mơ xanh cho người khuyết tật” và tiếp tục trình bày trước Hội trại”.
Dự án được đánh giá cao và Nhi có đủ tự tin đem dự án tham gia cuộc thi Ngày sáng tạo Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 6/2006. Niềm vui vỡ òa trong tim những thành viên của Ước Mơ Xanh khi Dự án đoạt giải và được Ngân hàng thế giới duyệt hỗ trợ kinh phí 10.000USD. Vậy là cơ sở tin học của Ước Mơ Xanh khang trang hơn một chút, có thêm vài dàn máy vi tính, thêm chiếc máy in, máy photocopy.
Không chỉ mở lớp tin học miễn phí và tạo công ăn việc làm cho người khuyết tật. Câu lạc bộ Ước Mơ Xanh còn hỗ trợ cơ sở vật lý trị liệu-massage tạo việc làm cho người khiếm thị, mở các lớp học tình thương cho trẻ em nghèo. Thường xuyên, các bạn đến tận những vùng sâu, vùng xa, những vùng thiên tai đi qua để trao những phần quà do chính thành viên của CLB quyên góp; cắt tóc miễn phí cho trẻ em trong các trung tâm bảo trợ trẻ em đường phố, trẻ em nghèo mồ côi..., đến thăm và chăm sóc các cụ già neo đơn tại Trung tâm xã hội thành phố... Mỗi chuyến đi chắt chiu thêm một chút niềm vui trong lòng những người trẻ bởi “Chúng tôi là những người yêu thích công việc thiện nguyện, lập nên câu lạc bộ này với mong muốn chia sẻ khó khăn, giúp đỡ những người bất hạnh, đặc biệt là người khuyết tật hòa nhập xã hội và vươn lên trong cuộc sống”.
Bạn Nguyễn Thị Ngọc Diệp, trưởng nhóm Khuyết tật CLB Ước Mơ Xanh tâm sự: “tham gia cùng Ước Mơ Xanh, em có cơ hội được học tập, được giao lưu và gặp gỡ, tâm sự với những người đồng cảnh ngộ, để thấy những mặc cảm trong lòng vơi dịu đi rất nhiều vì nhìn ra cuộc sống vẫn còn nhiều số phận bất hạnh hơn mình rất nhiều và thấy mình vẫn có ích khi được cùng Ước Mơ Xanh đem chút niềm vui trong ánh mắt, nụ cười trong hành trình làm công tác thiện nguyện”.
Xin mượn lời bài hát của Nhạc sĩ Ngô Duy Khoái viết tặng Ước Mơ Xanh trong một cuộc hạnh ngộ cùng những người bạn trẻ làm công tác từ thiện tại xã miền núi Hòa Sơn, Đà Nẵng để kết lại bài viết này: “Vì sống trên đời là sống cho nhau vì nhau. Khi quê hương còn bao vết thương chưa lành. Khi trên đời còn bao người không may. Nơi đâu cuộc đời cần, Ước Mơ Xanh chúng tôi sẵn sàng. Một manh áo mới cho em đến trường, một tấm chăn lành cho mẹ mùa đông... Triệu bàn tay nhân ái xoa dịu bao nỗi đau. Cho triệu đoá hoa đời nở từ những ước mơ xanh.”
Khánh Hiền
http://www19.dantri.com.vn/tamlongnhanai/2007/3/172579.vip
Thi thoảng, có một việc quá sức nhân viên như với tay lên cao lấy chồng giấy A4 lại có một bạn trẻ chạy đến giúp. Hơn một năm nay, câu lạc bộ đã trở thành ngôi nhà chung, chốn đi về quen thuộc và thân thương của những bạn trẻ yêu thích công việc từ thiện, những tình nguyện viên và cả những học viên khuyết tật thành phố Đà Nẵng.
Từ những tấm lòng thiện nguyện
Câu lạc bộ có hơn 100 thành viên đa phần là sinh viên các trường Đại học, cao đẳng tại Đà Nẵng. Trong đó có khoảng 30 thành viên là người khuyết tật. Số nhà 38 Nguyễn Chí Thanh vừa là “đại bản doanh” của Ước Mơ Xanh cũng là cơ sở dịch vụ tin học, in ấn, photocopy, hiện thực hóa Dự án “Vì một ước mơ xanh cho người khuyết tật” của những người trẻ yêu thích công việc thiện nguyện.
Cứ mỗi tối lại có ít nhất 2,3 hay nhiều hơn thế những tình nguyện viên luân phiên nhau đến “phụ việc” cho những nhân viên khuyết tật. Chị Nguyễn Thị Thu Hà - chủ nhiệm câu lạc bộ kể lại những ngày đầu tiên: “Hè 2005, trong một lần giao lưu với Chi hội Người khuyết tật thành phố Đà Nẵng, mình cùng Nhi và Vũ (2 phó chủ nhiệm của CLB) “ý tưởng lớn gặp nhau” trước những cảnh đời kém may mắn đã tổ chức mở lớp dạy tin học miễn phí cho người khuyết tật. Mở lớp dạy học rồi liên hệ với Sở giáo dục tổ chức thi lấy chứng chỉ nhưng học viên cầm trên tay tấm bằng chứng nhận nghề vẫn không dễ dàng tìm được việc làm như bao người bình thường khác. Vì những lý do này khác các công ty đều lắc đầu ái ngại.
Mình vừa thấy bất nhẫn vừa day dứt không yên trong lòng. Có một cái nghề vững vàng nhưng các anh chị vẫn không dùng được tấm bằng chứng nhận để kiếm việc mưu sinh thì việc mình làm cũng không có ý nghĩa thực sự. Phải tìm cách tạo cho các anh chị em có công ăn việc làm”.
Ý tưởng có rồi nhưng đâu phải dễ dàng thực hiện. Bài toán kinh phí là một bài toán khó. Vậy là tự mỗi tình nguyện viên đóng góp “vun vén” từ cái bàn, cái ghế đến thuê địa điểm. Rồi vận động các nhà hảo tâm...
Chị Thu Hà đang hướng dẫn các học viên của lớp tin học miễn phí
Đến dự án 10.000 USD
Tháng 1/2006, ý tưởng hình thành một cơ sở đào tạo và dịch vụ tin học, nơi tạo việc làm cho người khuyết tật của câu lạc bộ Ước Mơ Xanh đã được Lê Thị Phương Nhi, cô sinh viên xuất sắc của Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Phó chủ nhiệm CLB đem ra trình bày trong Hội trại công dân trẻ Quốc tế do Hội đồng Anh tổ chức mà Nhi tham dự tại Phi-lip-pin. Nhi cho biết: “Các bạn trẻ Quốc tế tham gia Hội trại rất ủng hộ ý tưởng của Nhi và đóng góp thêm ý kiến để thành lập dự án. Đến lúc tham dự hoạt động sau trại tại Sapa tháng 3/2006, Nhi đã viết xong phần cơ bản của Dự án “Vì một ước mơ xanh cho người khuyết tật” và tiếp tục trình bày trước Hội trại”.
Dự án được đánh giá cao và Nhi có đủ tự tin đem dự án tham gia cuộc thi Ngày sáng tạo Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 6/2006. Niềm vui vỡ òa trong tim những thành viên của Ước Mơ Xanh khi Dự án đoạt giải và được Ngân hàng thế giới duyệt hỗ trợ kinh phí 10.000USD. Vậy là cơ sở tin học của Ước Mơ Xanh khang trang hơn một chút, có thêm vài dàn máy vi tính, thêm chiếc máy in, máy photocopy.
Không chỉ mở lớp tin học miễn phí và tạo công ăn việc làm cho người khuyết tật. Câu lạc bộ Ước Mơ Xanh còn hỗ trợ cơ sở vật lý trị liệu-massage tạo việc làm cho người khiếm thị, mở các lớp học tình thương cho trẻ em nghèo. Thường xuyên, các bạn đến tận những vùng sâu, vùng xa, những vùng thiên tai đi qua để trao những phần quà do chính thành viên của CLB quyên góp; cắt tóc miễn phí cho trẻ em trong các trung tâm bảo trợ trẻ em đường phố, trẻ em nghèo mồ côi..., đến thăm và chăm sóc các cụ già neo đơn tại Trung tâm xã hội thành phố... Mỗi chuyến đi chắt chiu thêm một chút niềm vui trong lòng những người trẻ bởi “Chúng tôi là những người yêu thích công việc thiện nguyện, lập nên câu lạc bộ này với mong muốn chia sẻ khó khăn, giúp đỡ những người bất hạnh, đặc biệt là người khuyết tật hòa nhập xã hội và vươn lên trong cuộc sống”.
Bạn Nguyễn Thị Ngọc Diệp, trưởng nhóm Khuyết tật CLB Ước Mơ Xanh tâm sự: “tham gia cùng Ước Mơ Xanh, em có cơ hội được học tập, được giao lưu và gặp gỡ, tâm sự với những người đồng cảnh ngộ, để thấy những mặc cảm trong lòng vơi dịu đi rất nhiều vì nhìn ra cuộc sống vẫn còn nhiều số phận bất hạnh hơn mình rất nhiều và thấy mình vẫn có ích khi được cùng Ước Mơ Xanh đem chút niềm vui trong ánh mắt, nụ cười trong hành trình làm công tác thiện nguyện”.
Xin mượn lời bài hát của Nhạc sĩ Ngô Duy Khoái viết tặng Ước Mơ Xanh trong một cuộc hạnh ngộ cùng những người bạn trẻ làm công tác từ thiện tại xã miền núi Hòa Sơn, Đà Nẵng để kết lại bài viết này: “Vì sống trên đời là sống cho nhau vì nhau. Khi quê hương còn bao vết thương chưa lành. Khi trên đời còn bao người không may. Nơi đâu cuộc đời cần, Ước Mơ Xanh chúng tôi sẵn sàng. Một manh áo mới cho em đến trường, một tấm chăn lành cho mẹ mùa đông... Triệu bàn tay nhân ái xoa dịu bao nỗi đau. Cho triệu đoá hoa đời nở từ những ước mơ xanh.”
Khánh Hiền
http://www19.dantri.com.vn/tamlongnhanai/2007/3/172579.vip
“Người làm từ thiện... ban đêm"
Ngày xưa khi còn bé, mọi người hỏi: “Bé Thư lớn lên sẽ làm gì?” Cô bé nhỏ con, nhút nhát chỉ dám thỏ thẻ ước mơ khiêm tốn của mình: “Con sẽ làm cô giáo nhà trẻ”. Thêm vài tuổi đời, ước mơ của “cô giáo nhà trẻ” cũng lớn lên thêm chút: “Sẽ mở trường nuôi dạy trẻ mồ côi”. Và đó cũng chính là ước mơ lớn nhất mà Đỗ Anh Thư theo đuổi suốt cuộc đời...
Từ một ước mơ
Soạn: AM 515773 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Đỗ Anh Thư trong một chuyến về thăm quê hương và khảo sát dự án cho VNHELP
Tốt nghiệp phổ thông trung học, Anh Thư không thi tiếp đại học mà tình nguỵên đi dạy mẫu giáo như ước nguyện của mình. Những đồng lương đầu tiên mẹ bảo: “Chỉ đủ để uống nước mía” nhưng cô giáo không “uống nước mía” mà dùng để mua quần áo, đồ dùng học tập tặng cho các học trò nhỏ và...thuê xích lô chở học trò đi tham quan Sở thú! Có những cháu gia đình lao động nghèo quá không đưa đón cháu đến trường nên cô giáo thường xuyên tự nguyện đến tận nhà đưa đón các cháu bằng chiếc xe đạp nhỏ bé. Nghèo, cái nghèo như ám ảnh nhưng không phải để bằng mọi cách để làm giàu mà làm sao xoá bớt cái nghèo, đem lại cuộc sống no đủ cho những người khốn khó, đó chính là con đường mà Đỗ Anh Thư đã lựa chọn.
Năm 1979, Anh Thư đến Mỹ, như bao người khác, cô lao vào học và làm việc để “được sống như mọi người”, cô bảo. Tốt nghiệp cử nhân ngành vi tính tại đại học danh tiếng University of California Berkeley năm 1984, Anh Thư có việc làm ngay với mức lương khá cao. Thế nhưng những ngày ngồi trên ghế giảng đường, “máu làm từ thiện” cứ thôi thúc nên Thư đã tham gia rất nhiều công tác cộng đồng như chương trình Truyền hình Việt Nam tại San Jose và Quỹ Y tế giáo dục văn hoá nhằm kêu gọi các tổ chức, các nhà từ thiện giúp đỡ cho những người nghèo khổ tại Việt Nam. Chính những hoạt động này mới làm cho Anh Thư cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa. Càng tham gia hoạt động từ thiện, Anh Thư càng nhận ra ý nghĩa cao cả, niềm vui to lớn đã đem lại cho những người nghèo trong đất nước, nơi mình sinh ra.
“Người kỹ sư ban ngày - Giám đốc từ thiện ban đêm”
Soạn: AM 515777 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Đem lại cuộc sống no đủ cho những người khốn khó, đó chính là con đường mà Đỗ Anh Thư đã lựa chọn.
Đó là câu nói do các biên tập viên của Kênh truyền hình ABC vùng Bắc California dành cho Đỗ Anh Thư. Chị đã được kênh truyền hình này bình chọn là “Tấm gương xuất sắc gốc Á châu” vì những đóng góp cho cộng đồng. Quả thật, là một kỹ sư vi tính, Anh Thư không chỉ giữ vai trò lãnh đạo trong các dự án kỹ thuật của công ty mà chị luôn được đánh giá cao về năng lực, tinh thần trách nhiệm. Thế nhưng còn có một Anh Thư khác luôn hướng về cộng đồng, về những người cùng màu da tiếng nói đang ở quê nhà cần sự giúp đỡ. Anh Thư đã được đề cử vào danh hiệu “Phụ nữ làm công tác xã hội tốt” của Quỹ phụ nữ làm vịêc tại Thung lũng Silicon (California). Dù ở vai trò, vị trí nào, Anh Thư cũng sống chết hết mình. Chị Doãn Cẩm Liên, một người bạn thân thiết của Anh Thư từ bé nay đã là điều phối viên của Tổ chức phi chính phủ làm các dự án trợ giúp y tế, giáo dục, văn hoá cho Việt Nam (VNHELP) cho biết: “Khi lần đầu Anh Thư về nước, tôi ngỡ ngàng nhận ra một Anh Thư đã hoàn toàn khác, một Anh Thư năng nổ, mạnh dạn và dứt khoát chứ không còn là cô bé nhút nhác của ngày xưa. Cô ấy lao vào công việc bằng tất cả nhiệt tâm, có khi chúng tôi làm việc đến 1, 2 giờ khuya mà chỉ chủ yếu xoay quanh các dự án của VNHELP, không còn thời gian để tâm tình, ôn lại kỷ niệm của ngày xưa”. Chẳng ngại ngùng, Anh Thư tâm sự: “Quả thật mình luôn bị cuốn hút vào các dự án của VNHELP, cứ thấy những dự án ngày càng lớn mạnh, những người được VNHELP trực tiếp giúp đỡ nay đã trưởng thành, thoát được cảnh nghèo khó, nhìn những người trực tiếp thụ hưởng những gì do VNHELP đem lại, đối với tôi đó là liều thuốc bổ vô giá. Đó chính là động lực giúp tôi làm việc quên cả ngày đêm, quên đi những buổi tiệc giải trí, chẳng có thời gian để mua sắm, nhịn ăn trưa dành thời gian cho những cuộc hẹn với VNHELP, và những đêm trăn trở vì những điều chưa thực hiện được...Nhiều lúc cũng cảm thấy mệt mỏi nhưng chưa bao giờ tôi có ý định bỏ cuộc mà luôn cố gắng để sắp xếp lại công vịêc để hoàn chỉnh hơn, chuyên nghiệp hơn, đỡ vất vả hơn và cũng cảm thấy hạnh phúc hơn...”
Năm 1991, Anh Thư và nhóm bạn cùng chí hướng đứng ra thành lập tổ chức VNHELP. Hàng đêm, chị mải miết làm việc và là người có nhiều sáng kiến, mạnh dạn đi những bước đầu tiên cho rất nhiều chương trình căn bản của VNHELP tại Mỹ. Trong những năm đầu chị đã cùng chồng mang kiến thức kỹ thuật của mình thiết kế nhiều chương trình cho anh em VNHELP sử dụng để nâng cao năng suất và hiệu qủa công việc. Khi là một Anh Thư Giám đốc thông tin, khi là một Giám đốc gây quỹ, khi lại là một Anh Thư xông thẳng vào thực hiện phim quảng cáo để đưa VNHELP ra mắt quần chúng qua các chương trình ca nhạc chọn lọc gây quỹ…Đến nay, sau 14 năm, tai VN VNHELP đã thực hiện những dự án lớn không chỉ giúp cho người nghèo VN thoát nghèo mà còn tạo điều kiện để họ vươn lên tự lập. Hiện nay, VNHELP đã có giấy phép hoạt động tại 11 tỉnh thành tại Việt Nam. Chương trình học bổng Nguyễn Trường Tộ dành cho sinh viên nghèo học giỏi được bắt đầu từ năm 1991 và duy trì cho đến ngày nay đã cấp trên 300 suất học bổng trị giá hàng trăm ngàn USD đã giúp nhiều sinh viên vượt khó, thực hiện được hoài bão và ước mơ của mình. Bác sĩ TrầnThế Thọ, người đầu tiên được nhận học bổng của VNHELP đầu tiên vào năm 1991 nhớ lại: “Tôi được nhận học bổng vào năm 1991 với mức 100 USD/năm Lúc đó mỗi đĩa cơm chỉ 1.500 đồng. Tính ra với 100 USD ấy tôi có thể sống được ngày hai bữa trong suốt một năm học. Đó là phần thưởng vô giá đối với một sinh viên nghèo khó như chúng tôi lúc đó. Học bổng Nguyễn Trường Tộ là ngọn lửa thôi thúc chúng tôi học tập tốt hơn và bây giờ đã trưởng thành chúng tôi thấy mình phải có trách nhiệm với xã hội hơn...Đã nhiều lần làm việc với chị Thư trong các dự án của VNHELP, với tôi Anh Thư là một phụ nữ đáng quý trọng cả về sự nhiệt tình, tài năng và sự hy sinh”
Soạn: AM 515783 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Anh Thư trong một lớp học dành cho trẻ đường phố - Dự án của VNHELP
Năm 1993, Đỗ Anh Thư về nước lần đầu tiên và trực tiếp đi thực tế, kiểm tra các dự án của VNHELP tại Việt Nam. “Người dân trong nước còn nghèo khó quá, mỗi lần đến những vùng sâu, vùng xa, lòng tôi lại nặng trĩu nỗi buồn vì những cảnh đời cơ cực”, chị tâm sự. Và trăn trở của Anh Thư đã biến thành những dự án lớn được cộng đồng người Việt tại Mỹ quan tâm giúp đỡ. Chị đã trở thành nhịp cầu nối để người Việt tại Mỹ đến với người Việt trong nước, cùng nhau chia sẻ khó khăn, lá lành đùm lá rách. Chương trình xây dựng trường học cho vùng sâu vùng xa được tiến hành từ năm 2000 đến nay đã có 14 ngôi trường được xây mới, hàng chục ngôi trường cũ được sữa chữa lại cho khang trang phục vụ cho trên 5.000 cháu học sinh mẫu giáo, tiểu học ở các vùng sâu, vùng xa. Từ đầu năm 2005 đến nay, VNHELP đã xây thêm 3 ngôi trường nữa giúp cho hàng trăm học sinh có thêm điều kiện để cắp sách đến trường cùng bạn bè trương lứa. Riêng năm 2005, VNHELP dự kiến gửi về 400.000 USD cho những dự án giúp đỡ Việt Nam. Năm 1998, Đỗ Anh Thư giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị của VNHELP, chị đã trở về VN trong 5 tuần để khảo sát và lên kế hoạch, dự án lớn hơn để giúp đỡ cho VN. Khi đi thực tế tại miền Trung, núm ruột nghèo của đất nước, nhận thấy nhiều thanh niên lớn lên vẫn không có việc làm nên đời sống cứ cơ cực, lam lũ, Anh Thư đã chủ trương đẩy mạnh các dự án dạy nghề và tìm việc miễn phí cho thanh thiếu niên nghèo. Đến nay, các trường dạy may, thêu, vi tính tại Huế, Đà Nẵng, Phú Yên…đã đi vào hoạt động ổn định giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm thanh thiếu niên vào đời. Và với những đứa trẻ lang thang, những người bị khuyết tật, neo đơn không nơi nương tựa, người nữ giám đốc của VNHELP không chỉ giúp đỡ bằng vật chất mà bằng chính từ thương yêu từ trái tim vốn nhạy cảm và nhân ái của chị bằng việc tài trợ hàng ngàn chiếc xe lăn, tổ chức các đoàn từ thiện khám chữa bệnh miễn phí và hỗ trợ các dụng cụ, phương tiện y tế hiện đại cho các cơ sở y tế.
Và một tấm chân tình của Người Viễn Xứ...
Soạn: AM 515789 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Anh Thư (phải) trong ngày nhận giải thưởng "Vinh danh người xuất sắc gốc Á châu”
Gần 30 năm làm người viễn xứ và mặc dù đã mang quốc tịch Mỹ nhưng chị bảo: “Tôi thấy mình vẫn là người Việt Nam, ăn cơm VN thấy ngon hơn thức ăn Mỹ, nói tiếng Việt thấy thoải mái, cảm thông dễ dàng hơn tiếng Mỹ, xem sinh hoạt văn hoá VN thấy ấm lòng hơn. Tôi là đứa con đi xa lúc nào cũng nhớ về quê mẹ tha thiết...” Và đứa con đi xa ấy không chỉ hướng về quê mẹ bằng tình cảm nhớ nhung mà bằng cả tấm lòng với sự giúp đỡ thiết thực. Anh Thư kể: “Năm 2000 tôi đi thăm dự án xây trường học tại tỉnh Thừa Thiên Huế, xe chúng tôi bị tai nạn lọt xuống ruộng nước ngập mênh mông vì gặp cơn lũ. Dân làng gần đó từ thanh niên đến cả những cụ già đã cùng nhau “hò dô ta” để kéo xe lên trong cơn mưa lạnh ướt. Sau đó một gia đình mời chúng tôi vào trú mưa, đãi chúng tôi mì gói, nước uống để chờ xe khác đến đón nhưng nhất định không chịu lấy tiền. Trong ngôi nhà tranh vách lá nhỏ bé ấy, tôi thấy cái tình của người dân Việt mình lớn lao biết bao...” Những đóng góp của VNHELP cũng đã đến ngày cho quả ngọt. Những sinh viên ngày nào nhận học bổng của VNHELP đã trưởng thành, có chỗ đứng, có địa vị trong xã hội nay đã quay lại làm thiện nguyện viên, điều phối viên giúp đỡ nhiệt tình cho các dự án của VNHELP tại Việt Nam như bác sĩ Trần Thế Thọ, Lê Đình Thảo... Bác sĩ Lê Đình Thảo cho biết: “Ban liên lạc cựu sinh viên nhận học bổng Nguyễn Trường Tộ đã được thành lập, tôi nghĩ với những đóng góp to lớn của VNHELP, ngày sẽ có nhiều bạn sinh viên cũ quay trở về đóng góp cho VNHELP trong công tác xã hội”.
Khi chúng tôi tìm hiểu tư liệu để viết bài về chị, đầu tháng 08.2005, khá bất ngờ khi tôi nhận được email của Đỗ Anh Thư báo tin: “Mình đã xin nghỉ việc tại công ty Sun Micosystems để toàn tâm toàn ý với VNHELP”.
Xuất phát từ đâu mà chị từ bỏ cơ hội làm việc, những điều kiện vật chất để theo đuổi công việc từ thiện?
Đỗ Anh Thư: Bản chất của tôi từ bé là thích hoạt động từ thịên, muốn giúp đỡ những người khó khăn xung quanh mình. Mặc dù được đánh giá cao về năng lực chuyên môn nhưng công vịêc khoa học kỹ thuật không phải là niềm đam mê của tôi. Ai cũng có một lý tưởng để lựa chon, làm công tác xã hội với những kết quả thiết thực tác động trực tiếp đến nhiều người làm tôi cảm thấy hạnh phúc hơn. Hơn nữa tổ chức VNHELP đến nay đã trải qua 14 năm với bước phát triển ngày càng lớn mạnh. Đã đến lúc cần phải được chuyên nghiệp trong các hoạt động của mình nên tôi chấp nhận là người đi đầu để VNHELP lớn mạnh và ngày càng giúp đỡ thiết thực cho người dân trong nước nhiều hơn vì nhu cầu trong nước rất lớn.
Trước khi đi đến quyết định nghỉ việc, chị có trăn trở? Chị được và mất những gì trong quyết định của mình?
Soạn: AM 515793 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Bây giờ, mình đã có ba đứa con, hai đứa con ruột và đứa con tình thần là VNHELP
Đỗ Anh Thư: Tôi suy nghĩ và trăn trở nhiều lắm chứ. Khi nghỉ việc, tôi mất hẳn hơn 100.000 USD lương căn bản hàng năm cùng những bổng lộc và lợi nhuận khác nhưng tôi nghĩ đời sống vật chất thiếu hay đủ là do quan niệm của mình. Mình nghỉ việc thì sẽ có người khác thay thế, còn ý nghĩa của những việc làm đem lại hạnh phúc to lớn thì không phải ai cũng có và ai cũng làm được. Bây giờ, mình đã có ba đứa con, hai đứa con ruột và đứa con tinh thần là VNHELP, chúng đang ở độ tuổi trưởng thành nên cần phải chăm sóc kỹ để chúng lớn mạnh. Nghỉ việc mình sẽ có thời gian nhiều hơn để chăm sóc cho cả ba đứa con. Cái mất thì thấy trước mắt còn cái được thì không thể “cân đo đong đếm” vì đó là niềm hạnh phúc lớn lao. Tôi luôn mong ước làm sao để giúp đỡ những người nghèo, kém may mắn ở quê hương mình được nhiều nhất, muốn đất nước Việt Nam của mình giàu mạnh và làm sao để người Việt ở Hải ngoại có điều kiện gắn kết với người dân trong nước nhiều hơn, giúp đỡ thiết thực hơn.
Đã nhiều lần về VN, chị nhận xét như thế nào về sự thay đổi của đất nước?
Đỗ Anh Thư: Mỗi lần về tôi thấy VN càng thay đổi nhiều, ngày càng đẹp hơn. Người dân Việt mình rất đáng yêu, những người trẻ thì đầy sức sống và biết ước mơ, hy vọng nhưng VN vẫn còn nghèo về nhiều mặt lắm...
Sau một ngày làm việc, đêm đến chị nghĩ về điều gì nhiều nhất?
Đỗ Anh Thư: Công việc của VNHELP luôn chiếm hết thời gian và tâm trí tôi. Điều tôi vui nhất là sự tin cậy của những vị ân nhân, những người xa lạ nhưng đến gặp và trao cho tôi số tiền cùng lời tin tưởng, những lời dặn dò ân cần, những thăm hỏi chân tình... tất cả đã đặt niềm tin vào mình nên không thể phụ lòng mong đợi. Đối với tôi đó là liều thuốc bổ giúp tôi làm việc quên ngày đêm. Tôi cũng cảm thấy thương yêu vô cùng những tình nguyện viện đã đến với VNHELP, nhờ có sự góp sức và khuyến khích của họ mà tôi mới có thể thành công trong vai trò lãnh đạo và cùng đưa tổ chức đến tầm vóc đáng kể ngày hôm nay.
Theo chị, Nhà nước cần có những chính sách cụ thể gì để Việt kiều mạnh dạn về nước đầu tư, các tổ chức Việt kiều giúp đỡ cho người dân trong nước nhiều hơn?
Đỗ Anh Thư: VN đã có nhiều thay đổi tích cực trong những năm gần đây nhưng theo tôi vẫn chưa đủ để Việt kiều mạnh dạn về đầu tư. Vì sao ư? Những thông tin về nạn tham nhũng làm nhiều người lo ngại, vấn đề luật pháp cũng chưa chặt chẽ, một số bà con ở hải ngoại cũng chưa hiểu rõ về chính sách, chủ trương của Nhà nước dành cho Việt kiều. Vết thương chiến tranh vẫn còn trong một số người lớn tuổi nên tôi nghĩ Nhà nước và ngay cả bà con Việt kiều nên tiếp tục bày tỏ thiện chí hàn gắn vết thương nhiều hơn, thông cảm và hiểu nhau hơn để hướng đến cái chung. Riêng trong lĩnh vực các hoạt động phi chính phủ, tôi mong Nhà nước sẽ có những chính sách rộng và thoáng hơn như: đương nhiên được miễn thuế mà không phải làm thủ tục xin, và cho phép nhiều tổ chức phi chính phủ trong nước ra đời và hoạt động để có điều kiện giúp đỡ cho nhiều người.
Không phải là những bằng cấp, những nghiên cứu khoa học làm rạng danh cho Việt Nam ở hải ngoại nhưng tấm lòng của Đỗ Anh Thư cùng những đóng góp của VNHELP chính là một nét son về một người con xa xứ luôn hướng về đất mẹ để mọi người Vinh danh... Xin cám ơn chị, cám ơn một tấm lòng dành trọn vẹn cho đất nước.
M.D
http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/vinhdanhnuocviet/2005/08/479383/
Từ một ước mơ
Soạn: AM 515773 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Đỗ Anh Thư trong một chuyến về thăm quê hương và khảo sát dự án cho VNHELP
Tốt nghiệp phổ thông trung học, Anh Thư không thi tiếp đại học mà tình nguỵên đi dạy mẫu giáo như ước nguyện của mình. Những đồng lương đầu tiên mẹ bảo: “Chỉ đủ để uống nước mía” nhưng cô giáo không “uống nước mía” mà dùng để mua quần áo, đồ dùng học tập tặng cho các học trò nhỏ và...thuê xích lô chở học trò đi tham quan Sở thú! Có những cháu gia đình lao động nghèo quá không đưa đón cháu đến trường nên cô giáo thường xuyên tự nguyện đến tận nhà đưa đón các cháu bằng chiếc xe đạp nhỏ bé. Nghèo, cái nghèo như ám ảnh nhưng không phải để bằng mọi cách để làm giàu mà làm sao xoá bớt cái nghèo, đem lại cuộc sống no đủ cho những người khốn khó, đó chính là con đường mà Đỗ Anh Thư đã lựa chọn.
Năm 1979, Anh Thư đến Mỹ, như bao người khác, cô lao vào học và làm việc để “được sống như mọi người”, cô bảo. Tốt nghiệp cử nhân ngành vi tính tại đại học danh tiếng University of California Berkeley năm 1984, Anh Thư có việc làm ngay với mức lương khá cao. Thế nhưng những ngày ngồi trên ghế giảng đường, “máu làm từ thiện” cứ thôi thúc nên Thư đã tham gia rất nhiều công tác cộng đồng như chương trình Truyền hình Việt Nam tại San Jose và Quỹ Y tế giáo dục văn hoá nhằm kêu gọi các tổ chức, các nhà từ thiện giúp đỡ cho những người nghèo khổ tại Việt Nam. Chính những hoạt động này mới làm cho Anh Thư cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa. Càng tham gia hoạt động từ thiện, Anh Thư càng nhận ra ý nghĩa cao cả, niềm vui to lớn đã đem lại cho những người nghèo trong đất nước, nơi mình sinh ra.
“Người kỹ sư ban ngày - Giám đốc từ thiện ban đêm”
Soạn: AM 515777 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Đem lại cuộc sống no đủ cho những người khốn khó, đó chính là con đường mà Đỗ Anh Thư đã lựa chọn.
Đó là câu nói do các biên tập viên của Kênh truyền hình ABC vùng Bắc California dành cho Đỗ Anh Thư. Chị đã được kênh truyền hình này bình chọn là “Tấm gương xuất sắc gốc Á châu” vì những đóng góp cho cộng đồng. Quả thật, là một kỹ sư vi tính, Anh Thư không chỉ giữ vai trò lãnh đạo trong các dự án kỹ thuật của công ty mà chị luôn được đánh giá cao về năng lực, tinh thần trách nhiệm. Thế nhưng còn có một Anh Thư khác luôn hướng về cộng đồng, về những người cùng màu da tiếng nói đang ở quê nhà cần sự giúp đỡ. Anh Thư đã được đề cử vào danh hiệu “Phụ nữ làm công tác xã hội tốt” của Quỹ phụ nữ làm vịêc tại Thung lũng Silicon (California). Dù ở vai trò, vị trí nào, Anh Thư cũng sống chết hết mình. Chị Doãn Cẩm Liên, một người bạn thân thiết của Anh Thư từ bé nay đã là điều phối viên của Tổ chức phi chính phủ làm các dự án trợ giúp y tế, giáo dục, văn hoá cho Việt Nam (VNHELP) cho biết: “Khi lần đầu Anh Thư về nước, tôi ngỡ ngàng nhận ra một Anh Thư đã hoàn toàn khác, một Anh Thư năng nổ, mạnh dạn và dứt khoát chứ không còn là cô bé nhút nhác của ngày xưa. Cô ấy lao vào công việc bằng tất cả nhiệt tâm, có khi chúng tôi làm việc đến 1, 2 giờ khuya mà chỉ chủ yếu xoay quanh các dự án của VNHELP, không còn thời gian để tâm tình, ôn lại kỷ niệm của ngày xưa”. Chẳng ngại ngùng, Anh Thư tâm sự: “Quả thật mình luôn bị cuốn hút vào các dự án của VNHELP, cứ thấy những dự án ngày càng lớn mạnh, những người được VNHELP trực tiếp giúp đỡ nay đã trưởng thành, thoát được cảnh nghèo khó, nhìn những người trực tiếp thụ hưởng những gì do VNHELP đem lại, đối với tôi đó là liều thuốc bổ vô giá. Đó chính là động lực giúp tôi làm việc quên cả ngày đêm, quên đi những buổi tiệc giải trí, chẳng có thời gian để mua sắm, nhịn ăn trưa dành thời gian cho những cuộc hẹn với VNHELP, và những đêm trăn trở vì những điều chưa thực hiện được...Nhiều lúc cũng cảm thấy mệt mỏi nhưng chưa bao giờ tôi có ý định bỏ cuộc mà luôn cố gắng để sắp xếp lại công vịêc để hoàn chỉnh hơn, chuyên nghiệp hơn, đỡ vất vả hơn và cũng cảm thấy hạnh phúc hơn...”
Năm 1991, Anh Thư và nhóm bạn cùng chí hướng đứng ra thành lập tổ chức VNHELP. Hàng đêm, chị mải miết làm việc và là người có nhiều sáng kiến, mạnh dạn đi những bước đầu tiên cho rất nhiều chương trình căn bản của VNHELP tại Mỹ. Trong những năm đầu chị đã cùng chồng mang kiến thức kỹ thuật của mình thiết kế nhiều chương trình cho anh em VNHELP sử dụng để nâng cao năng suất và hiệu qủa công việc. Khi là một Anh Thư Giám đốc thông tin, khi là một Giám đốc gây quỹ, khi lại là một Anh Thư xông thẳng vào thực hiện phim quảng cáo để đưa VNHELP ra mắt quần chúng qua các chương trình ca nhạc chọn lọc gây quỹ…Đến nay, sau 14 năm, tai VN VNHELP đã thực hiện những dự án lớn không chỉ giúp cho người nghèo VN thoát nghèo mà còn tạo điều kiện để họ vươn lên tự lập. Hiện nay, VNHELP đã có giấy phép hoạt động tại 11 tỉnh thành tại Việt Nam. Chương trình học bổng Nguyễn Trường Tộ dành cho sinh viên nghèo học giỏi được bắt đầu từ năm 1991 và duy trì cho đến ngày nay đã cấp trên 300 suất học bổng trị giá hàng trăm ngàn USD đã giúp nhiều sinh viên vượt khó, thực hiện được hoài bão và ước mơ của mình. Bác sĩ TrầnThế Thọ, người đầu tiên được nhận học bổng của VNHELP đầu tiên vào năm 1991 nhớ lại: “Tôi được nhận học bổng vào năm 1991 với mức 100 USD/năm Lúc đó mỗi đĩa cơm chỉ 1.500 đồng. Tính ra với 100 USD ấy tôi có thể sống được ngày hai bữa trong suốt một năm học. Đó là phần thưởng vô giá đối với một sinh viên nghèo khó như chúng tôi lúc đó. Học bổng Nguyễn Trường Tộ là ngọn lửa thôi thúc chúng tôi học tập tốt hơn và bây giờ đã trưởng thành chúng tôi thấy mình phải có trách nhiệm với xã hội hơn...Đã nhiều lần làm việc với chị Thư trong các dự án của VNHELP, với tôi Anh Thư là một phụ nữ đáng quý trọng cả về sự nhiệt tình, tài năng và sự hy sinh”
Soạn: AM 515783 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Anh Thư trong một lớp học dành cho trẻ đường phố - Dự án của VNHELP
Năm 1993, Đỗ Anh Thư về nước lần đầu tiên và trực tiếp đi thực tế, kiểm tra các dự án của VNHELP tại Việt Nam. “Người dân trong nước còn nghèo khó quá, mỗi lần đến những vùng sâu, vùng xa, lòng tôi lại nặng trĩu nỗi buồn vì những cảnh đời cơ cực”, chị tâm sự. Và trăn trở của Anh Thư đã biến thành những dự án lớn được cộng đồng người Việt tại Mỹ quan tâm giúp đỡ. Chị đã trở thành nhịp cầu nối để người Việt tại Mỹ đến với người Việt trong nước, cùng nhau chia sẻ khó khăn, lá lành đùm lá rách. Chương trình xây dựng trường học cho vùng sâu vùng xa được tiến hành từ năm 2000 đến nay đã có 14 ngôi trường được xây mới, hàng chục ngôi trường cũ được sữa chữa lại cho khang trang phục vụ cho trên 5.000 cháu học sinh mẫu giáo, tiểu học ở các vùng sâu, vùng xa. Từ đầu năm 2005 đến nay, VNHELP đã xây thêm 3 ngôi trường nữa giúp cho hàng trăm học sinh có thêm điều kiện để cắp sách đến trường cùng bạn bè trương lứa. Riêng năm 2005, VNHELP dự kiến gửi về 400.000 USD cho những dự án giúp đỡ Việt Nam. Năm 1998, Đỗ Anh Thư giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị của VNHELP, chị đã trở về VN trong 5 tuần để khảo sát và lên kế hoạch, dự án lớn hơn để giúp đỡ cho VN. Khi đi thực tế tại miền Trung, núm ruột nghèo của đất nước, nhận thấy nhiều thanh niên lớn lên vẫn không có việc làm nên đời sống cứ cơ cực, lam lũ, Anh Thư đã chủ trương đẩy mạnh các dự án dạy nghề và tìm việc miễn phí cho thanh thiếu niên nghèo. Đến nay, các trường dạy may, thêu, vi tính tại Huế, Đà Nẵng, Phú Yên…đã đi vào hoạt động ổn định giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm thanh thiếu niên vào đời. Và với những đứa trẻ lang thang, những người bị khuyết tật, neo đơn không nơi nương tựa, người nữ giám đốc của VNHELP không chỉ giúp đỡ bằng vật chất mà bằng chính từ thương yêu từ trái tim vốn nhạy cảm và nhân ái của chị bằng việc tài trợ hàng ngàn chiếc xe lăn, tổ chức các đoàn từ thiện khám chữa bệnh miễn phí và hỗ trợ các dụng cụ, phương tiện y tế hiện đại cho các cơ sở y tế.
Và một tấm chân tình của Người Viễn Xứ...
Soạn: AM 515789 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Anh Thư (phải) trong ngày nhận giải thưởng "Vinh danh người xuất sắc gốc Á châu”
Gần 30 năm làm người viễn xứ và mặc dù đã mang quốc tịch Mỹ nhưng chị bảo: “Tôi thấy mình vẫn là người Việt Nam, ăn cơm VN thấy ngon hơn thức ăn Mỹ, nói tiếng Việt thấy thoải mái, cảm thông dễ dàng hơn tiếng Mỹ, xem sinh hoạt văn hoá VN thấy ấm lòng hơn. Tôi là đứa con đi xa lúc nào cũng nhớ về quê mẹ tha thiết...” Và đứa con đi xa ấy không chỉ hướng về quê mẹ bằng tình cảm nhớ nhung mà bằng cả tấm lòng với sự giúp đỡ thiết thực. Anh Thư kể: “Năm 2000 tôi đi thăm dự án xây trường học tại tỉnh Thừa Thiên Huế, xe chúng tôi bị tai nạn lọt xuống ruộng nước ngập mênh mông vì gặp cơn lũ. Dân làng gần đó từ thanh niên đến cả những cụ già đã cùng nhau “hò dô ta” để kéo xe lên trong cơn mưa lạnh ướt. Sau đó một gia đình mời chúng tôi vào trú mưa, đãi chúng tôi mì gói, nước uống để chờ xe khác đến đón nhưng nhất định không chịu lấy tiền. Trong ngôi nhà tranh vách lá nhỏ bé ấy, tôi thấy cái tình của người dân Việt mình lớn lao biết bao...” Những đóng góp của VNHELP cũng đã đến ngày cho quả ngọt. Những sinh viên ngày nào nhận học bổng của VNHELP đã trưởng thành, có chỗ đứng, có địa vị trong xã hội nay đã quay lại làm thiện nguyện viên, điều phối viên giúp đỡ nhiệt tình cho các dự án của VNHELP tại Việt Nam như bác sĩ Trần Thế Thọ, Lê Đình Thảo... Bác sĩ Lê Đình Thảo cho biết: “Ban liên lạc cựu sinh viên nhận học bổng Nguyễn Trường Tộ đã được thành lập, tôi nghĩ với những đóng góp to lớn của VNHELP, ngày sẽ có nhiều bạn sinh viên cũ quay trở về đóng góp cho VNHELP trong công tác xã hội”.
Khi chúng tôi tìm hiểu tư liệu để viết bài về chị, đầu tháng 08.2005, khá bất ngờ khi tôi nhận được email của Đỗ Anh Thư báo tin: “Mình đã xin nghỉ việc tại công ty Sun Micosystems để toàn tâm toàn ý với VNHELP”.
Xuất phát từ đâu mà chị từ bỏ cơ hội làm việc, những điều kiện vật chất để theo đuổi công việc từ thiện?
Đỗ Anh Thư: Bản chất của tôi từ bé là thích hoạt động từ thịên, muốn giúp đỡ những người khó khăn xung quanh mình. Mặc dù được đánh giá cao về năng lực chuyên môn nhưng công vịêc khoa học kỹ thuật không phải là niềm đam mê của tôi. Ai cũng có một lý tưởng để lựa chon, làm công tác xã hội với những kết quả thiết thực tác động trực tiếp đến nhiều người làm tôi cảm thấy hạnh phúc hơn. Hơn nữa tổ chức VNHELP đến nay đã trải qua 14 năm với bước phát triển ngày càng lớn mạnh. Đã đến lúc cần phải được chuyên nghiệp trong các hoạt động của mình nên tôi chấp nhận là người đi đầu để VNHELP lớn mạnh và ngày càng giúp đỡ thiết thực cho người dân trong nước nhiều hơn vì nhu cầu trong nước rất lớn.
Trước khi đi đến quyết định nghỉ việc, chị có trăn trở? Chị được và mất những gì trong quyết định của mình?
Soạn: AM 515793 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Bây giờ, mình đã có ba đứa con, hai đứa con ruột và đứa con tình thần là VNHELP
Đỗ Anh Thư: Tôi suy nghĩ và trăn trở nhiều lắm chứ. Khi nghỉ việc, tôi mất hẳn hơn 100.000 USD lương căn bản hàng năm cùng những bổng lộc và lợi nhuận khác nhưng tôi nghĩ đời sống vật chất thiếu hay đủ là do quan niệm của mình. Mình nghỉ việc thì sẽ có người khác thay thế, còn ý nghĩa của những việc làm đem lại hạnh phúc to lớn thì không phải ai cũng có và ai cũng làm được. Bây giờ, mình đã có ba đứa con, hai đứa con ruột và đứa con tinh thần là VNHELP, chúng đang ở độ tuổi trưởng thành nên cần phải chăm sóc kỹ để chúng lớn mạnh. Nghỉ việc mình sẽ có thời gian nhiều hơn để chăm sóc cho cả ba đứa con. Cái mất thì thấy trước mắt còn cái được thì không thể “cân đo đong đếm” vì đó là niềm hạnh phúc lớn lao. Tôi luôn mong ước làm sao để giúp đỡ những người nghèo, kém may mắn ở quê hương mình được nhiều nhất, muốn đất nước Việt Nam của mình giàu mạnh và làm sao để người Việt ở Hải ngoại có điều kiện gắn kết với người dân trong nước nhiều hơn, giúp đỡ thiết thực hơn.
Đã nhiều lần về VN, chị nhận xét như thế nào về sự thay đổi của đất nước?
Đỗ Anh Thư: Mỗi lần về tôi thấy VN càng thay đổi nhiều, ngày càng đẹp hơn. Người dân Việt mình rất đáng yêu, những người trẻ thì đầy sức sống và biết ước mơ, hy vọng nhưng VN vẫn còn nghèo về nhiều mặt lắm...
Sau một ngày làm việc, đêm đến chị nghĩ về điều gì nhiều nhất?
Đỗ Anh Thư: Công việc của VNHELP luôn chiếm hết thời gian và tâm trí tôi. Điều tôi vui nhất là sự tin cậy của những vị ân nhân, những người xa lạ nhưng đến gặp và trao cho tôi số tiền cùng lời tin tưởng, những lời dặn dò ân cần, những thăm hỏi chân tình... tất cả đã đặt niềm tin vào mình nên không thể phụ lòng mong đợi. Đối với tôi đó là liều thuốc bổ giúp tôi làm việc quên ngày đêm. Tôi cũng cảm thấy thương yêu vô cùng những tình nguyện viện đã đến với VNHELP, nhờ có sự góp sức và khuyến khích của họ mà tôi mới có thể thành công trong vai trò lãnh đạo và cùng đưa tổ chức đến tầm vóc đáng kể ngày hôm nay.
Theo chị, Nhà nước cần có những chính sách cụ thể gì để Việt kiều mạnh dạn về nước đầu tư, các tổ chức Việt kiều giúp đỡ cho người dân trong nước nhiều hơn?
Đỗ Anh Thư: VN đã có nhiều thay đổi tích cực trong những năm gần đây nhưng theo tôi vẫn chưa đủ để Việt kiều mạnh dạn về đầu tư. Vì sao ư? Những thông tin về nạn tham nhũng làm nhiều người lo ngại, vấn đề luật pháp cũng chưa chặt chẽ, một số bà con ở hải ngoại cũng chưa hiểu rõ về chính sách, chủ trương của Nhà nước dành cho Việt kiều. Vết thương chiến tranh vẫn còn trong một số người lớn tuổi nên tôi nghĩ Nhà nước và ngay cả bà con Việt kiều nên tiếp tục bày tỏ thiện chí hàn gắn vết thương nhiều hơn, thông cảm và hiểu nhau hơn để hướng đến cái chung. Riêng trong lĩnh vực các hoạt động phi chính phủ, tôi mong Nhà nước sẽ có những chính sách rộng và thoáng hơn như: đương nhiên được miễn thuế mà không phải làm thủ tục xin, và cho phép nhiều tổ chức phi chính phủ trong nước ra đời và hoạt động để có điều kiện giúp đỡ cho nhiều người.
Không phải là những bằng cấp, những nghiên cứu khoa học làm rạng danh cho Việt Nam ở hải ngoại nhưng tấm lòng của Đỗ Anh Thư cùng những đóng góp của VNHELP chính là một nét son về một người con xa xứ luôn hướng về đất mẹ để mọi người Vinh danh... Xin cám ơn chị, cám ơn một tấm lòng dành trọn vẹn cho đất nước.
M.D
http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/vinhdanhnuocviet/2005/08/479383/
Tấm lòng của vợ chồng người Đức với một cô gái Việt
Nhà văn Lê Minh Hà hiện đang sinh sống tại Đức đã gửi đến báo chí một câu chuyện cảm động giữa một gia đình người Đức với hai mẹ con cô gái Việt mà họ đã từng gặp gỡ, cưu mang cách đây hơn 1/4 thế kỷ và đang rất mong có ngày được gặp lại.
Một người đàn ông Đức bất ngờ gọi điện cho tôi. Ông nói, suốt 1/4 thế kỷ qua ông và vợ vẫn thầm cầu mong một ngày gặp lại cô gái đó - cô Nguyễn Thị VUONG.
Gia đình Verne Watzik biết tới Việt Nam vào những năm đầu thập kỉ 80 của thế kỉ trước, qua những người Việt trẻ tới Đức theo hiệp định hợp tác lao động giữa hai nhà nước.
Một sự ngẫu nhiên đã gắn kết gia đình Werne Watzik với một người Việt trong số đó - cô Nguyễn Thị VUONG. (Trong mảnh giấy mà cô để lại, nhiều chữ không có dấu nên không thể đoán được tên cô, chỉ biết cô quê ở Hà Bắc).
Trong những bức ảnh đen trắng mà Werne đưa cho chúng tôi xem là hình ảnh một cô gái quê xinh xắn và nhí nhảnh.
VUONG qua Đức vào năm 1982, với mong mỏi được làm ăn cật lực dăm ba năm ở quê người cho một cuộc đổi đời ở quê nhà.
Ngày đó, được đi hợp tác lao động là ước vọng của rất nhiều người Việt.
VUONG may mắn được lên đường. Nơi cô tới là một thành phố nhỏ: Scharfenstein, sau đó chuyển tới Wolkenstein.
Nhưng thần may mắn không mỉm cười với VUONG. Điều bí mật cô đã giấu được qua bao nhiêu vòng kiểm tra sức khoẻ trước ngày đi sang tới Đức bị lộ: VUONG có thai.
Từ đó, thay vì chôn mình trong công xưởng, nhiều lần cô phải vào bệnh viện.
Theo quy định của hiệp ước lao động giữa hai nhà nước Việt Nam và CHDC Đức lúc đó, ai mất sức làm việc sẽ bị đưa về nước chứ không được phép ở lại.
Mà nếu cô trở về, cuộc sống sẽ đáng sợ biết bao, không hẳn vì gánh nặng tiền bạc lo cho chuyến đi chưa trang trải được, mà là miệng tiếng người đời, là nỗi buồn phiền câm nín của cả gia đình, là một nơi chốn dung thân chưa biết chỗ nào, là một việc làm để có miếng nuôi con đỏ.
Chính trong những ngày bối rối ấy, VUONG đã gặp Ina Watzik đang làm y tá tại bệnh viện. VUONG sinh con ở đó, năm 1983, trong bàn tay chuyên môn, trong tấm lòng đùm bọc của bè bạn người Việt và của cán bộ nhân viên y tế người Đức.
Hai người đàn bà, Ina và VUONG đã thành bè bạn. Sợi dây ràng níu hai tấm lòng đàn bà đó lại với nhau, mà một đầu dây đến giờ Ina vẫn giữ không phải là ngôn ngữ, mà là sự cảm thông không thành lời giữa con người với con người.
Werner Watzik viết cho chúng tôi về ngày tết Việt mà ông và vợ đã được mời tham dự, nhờ quen biết VUONG và qua cô, quen biết thêm nhiều người Việt khác.
Ông và bà đã học được từ họ đôi ba tiếng Việt, đã mua từ điển Đức Việt, (tôi đoán là từ điển do tiến sĩ Đỗ Ngoạn, nguyên Đại sứ Việt Nam ở Đông Đức biên soạn, cẩm nang của sinh viên Việt tại đây một thời, vẫn được gọi là từ điển chú Ngoạn).
Wanzik còn cẩn thận ghi âm tiếng của VUONG để tập nói theo.
Một đôi giai điệu dân ca Việt Nam, sau một phần tư thế kỉ, đến giờ ông bà vẫn còn nhớ.
Đấy chắc là những làn điệu quan họ, vì cô gái đáng thương và đáng mến Nguyễn Thị VUONG vốn là con gái Hà Bắc.
Werner kể, đứa con sinh nơi xứ lạ được mẹ khai sinh là HONG DUC (tôi đoán là Hồng Đức).
Bé không biết gì về nước Đức, vì phải theo mẹ rời đất nước này ngay sau đó, trở về quê nhà.
Các nhân viên y tế Đức cùng Ina Werner đã lưu luyến đưa hai mẹ con Hồng Đức ra tận sân bay Berlin – Schönerfeld, cùng khóc cho sự chia tay bắt buộc với hy vọng sẽ có một ngày gặp lại.
Werner kể sau cuộc chia tay đó ba bốn năm, ông bà có được tin về VUONG qua một người bạn của cô, lúc đó vẫn làm việc tại Đức, rằng cô và con gái Hồng Đức sống ở quê cũ. Có điều, họ không biết làm thế nào liên lạc với nhau.
Werner Watzik và vợ sau thống nhất nước Đức đã sang Frankfurt am Main, sống và làm việc ở đó đến giờ.
Năm tháng trôi qua không làm họ nguôi nhớ một người con gái Việt Nam tên VUONG, một em bé Việt Nam tên HONG DUC, đã đến xứ sở của họ trong hi vọng và và rời xứ sở của họ trong nước mắt.
"Hai mẹ con VUONG bây giờ ở đâu? Sống ra sao? Nếu có địa chỉ của họ, chúng tôi muốn tới thăm họ tại Việt Nam,"Werner Watzik thổ lộ.
Đứa bé gái năm xưa được mẹ sinh ở Đức nay đã gần 25 tuổi. Hồng Đức, có phải tên cháu là thế?
Cháu bây giờ ở đâu, làm gì? Hai mẹ con cháu sống thế nào suốt những năm tháng vừa qua?
Chắc mẹ có kể cho cháu nghe mẹ đã mang nặng đẻ đau cháu như thế nào phải không?
Khổ sở, lo nghĩ rất nhiều, nhưng không hề cô độc, giữa những tấm lòng.
Nếu hai mẹ con cháu đọc được những dòng này, xin liên hệ về tòa soạn, hoặc liên hệ với Lê Minh Hà – Oldenburger str. 35 – 10551 Berlin – Deuschland.
Và các bạn, nếu đọc được những dòng này, xin giúp VUONG, HONG DUC, Verner và InaWatzik một lần gặp lại.
Theo Tiền Phong
Một người đàn ông Đức bất ngờ gọi điện cho tôi. Ông nói, suốt 1/4 thế kỷ qua ông và vợ vẫn thầm cầu mong một ngày gặp lại cô gái đó - cô Nguyễn Thị VUONG.
Gia đình Verne Watzik biết tới Việt Nam vào những năm đầu thập kỉ 80 của thế kỉ trước, qua những người Việt trẻ tới Đức theo hiệp định hợp tác lao động giữa hai nhà nước.
Một sự ngẫu nhiên đã gắn kết gia đình Werne Watzik với một người Việt trong số đó - cô Nguyễn Thị VUONG. (Trong mảnh giấy mà cô để lại, nhiều chữ không có dấu nên không thể đoán được tên cô, chỉ biết cô quê ở Hà Bắc).
Trong những bức ảnh đen trắng mà Werne đưa cho chúng tôi xem là hình ảnh một cô gái quê xinh xắn và nhí nhảnh.
VUONG qua Đức vào năm 1982, với mong mỏi được làm ăn cật lực dăm ba năm ở quê người cho một cuộc đổi đời ở quê nhà.
Ngày đó, được đi hợp tác lao động là ước vọng của rất nhiều người Việt.
VUONG may mắn được lên đường. Nơi cô tới là một thành phố nhỏ: Scharfenstein, sau đó chuyển tới Wolkenstein.
Nhưng thần may mắn không mỉm cười với VUONG. Điều bí mật cô đã giấu được qua bao nhiêu vòng kiểm tra sức khoẻ trước ngày đi sang tới Đức bị lộ: VUONG có thai.
Từ đó, thay vì chôn mình trong công xưởng, nhiều lần cô phải vào bệnh viện.
Theo quy định của hiệp ước lao động giữa hai nhà nước Việt Nam và CHDC Đức lúc đó, ai mất sức làm việc sẽ bị đưa về nước chứ không được phép ở lại.
Mà nếu cô trở về, cuộc sống sẽ đáng sợ biết bao, không hẳn vì gánh nặng tiền bạc lo cho chuyến đi chưa trang trải được, mà là miệng tiếng người đời, là nỗi buồn phiền câm nín của cả gia đình, là một nơi chốn dung thân chưa biết chỗ nào, là một việc làm để có miếng nuôi con đỏ.
Chính trong những ngày bối rối ấy, VUONG đã gặp Ina Watzik đang làm y tá tại bệnh viện. VUONG sinh con ở đó, năm 1983, trong bàn tay chuyên môn, trong tấm lòng đùm bọc của bè bạn người Việt và của cán bộ nhân viên y tế người Đức.
Hai người đàn bà, Ina và VUONG đã thành bè bạn. Sợi dây ràng níu hai tấm lòng đàn bà đó lại với nhau, mà một đầu dây đến giờ Ina vẫn giữ không phải là ngôn ngữ, mà là sự cảm thông không thành lời giữa con người với con người.
Werner Watzik viết cho chúng tôi về ngày tết Việt mà ông và vợ đã được mời tham dự, nhờ quen biết VUONG và qua cô, quen biết thêm nhiều người Việt khác.
Ông và bà đã học được từ họ đôi ba tiếng Việt, đã mua từ điển Đức Việt, (tôi đoán là từ điển do tiến sĩ Đỗ Ngoạn, nguyên Đại sứ Việt Nam ở Đông Đức biên soạn, cẩm nang của sinh viên Việt tại đây một thời, vẫn được gọi là từ điển chú Ngoạn).
Wanzik còn cẩn thận ghi âm tiếng của VUONG để tập nói theo.
Một đôi giai điệu dân ca Việt Nam, sau một phần tư thế kỉ, đến giờ ông bà vẫn còn nhớ.
Đấy chắc là những làn điệu quan họ, vì cô gái đáng thương và đáng mến Nguyễn Thị VUONG vốn là con gái Hà Bắc.
Werner kể, đứa con sinh nơi xứ lạ được mẹ khai sinh là HONG DUC (tôi đoán là Hồng Đức).
Bé không biết gì về nước Đức, vì phải theo mẹ rời đất nước này ngay sau đó, trở về quê nhà.
Các nhân viên y tế Đức cùng Ina Werner đã lưu luyến đưa hai mẹ con Hồng Đức ra tận sân bay Berlin – Schönerfeld, cùng khóc cho sự chia tay bắt buộc với hy vọng sẽ có một ngày gặp lại.
Werner kể sau cuộc chia tay đó ba bốn năm, ông bà có được tin về VUONG qua một người bạn của cô, lúc đó vẫn làm việc tại Đức, rằng cô và con gái Hồng Đức sống ở quê cũ. Có điều, họ không biết làm thế nào liên lạc với nhau.
Werner Watzik và vợ sau thống nhất nước Đức đã sang Frankfurt am Main, sống và làm việc ở đó đến giờ.
Năm tháng trôi qua không làm họ nguôi nhớ một người con gái Việt Nam tên VUONG, một em bé Việt Nam tên HONG DUC, đã đến xứ sở của họ trong hi vọng và và rời xứ sở của họ trong nước mắt.
"Hai mẹ con VUONG bây giờ ở đâu? Sống ra sao? Nếu có địa chỉ của họ, chúng tôi muốn tới thăm họ tại Việt Nam,"Werner Watzik thổ lộ.
Đứa bé gái năm xưa được mẹ sinh ở Đức nay đã gần 25 tuổi. Hồng Đức, có phải tên cháu là thế?
Cháu bây giờ ở đâu, làm gì? Hai mẹ con cháu sống thế nào suốt những năm tháng vừa qua?
Chắc mẹ có kể cho cháu nghe mẹ đã mang nặng đẻ đau cháu như thế nào phải không?
Khổ sở, lo nghĩ rất nhiều, nhưng không hề cô độc, giữa những tấm lòng.
Nếu hai mẹ con cháu đọc được những dòng này, xin liên hệ về tòa soạn, hoặc liên hệ với Lê Minh Hà – Oldenburger str. 35 – 10551 Berlin – Deuschland.
Và các bạn, nếu đọc được những dòng này, xin giúp VUONG, HONG DUC, Verner và InaWatzik một lần gặp lại.
Theo Tiền Phong
Người gây quỹ từ thiện triệu đô

Với 16 năm làm từ thiện tại Việt Nam, Hội trợ giúp người tàn tật Việt Nam (VNAH) do ông Trần Văn Ca, Việt kiều Mỹ sáng lập đã cung cấp miễn phí hơn 100.000 chân tay giả, xe lăn cho người tàn tật ở Việt Nam.
Chỉ riêng năm 2003, ông Ca đã quyên góp được 1,7 triệu USD để mua chân tay giả và xe lăn cho những người tàn tật.
Thế nhưng, ông Ca luôn từ chối nói về mình với lý do: “Những công việc tôi làm mới chỉ là hạt cát trong đại dương”.
Làm nhiều, nói ít, có lẽ, đó là tính cách của Trần Văn Ca. Trong một thời gian dài hoạt động tại Việt Nam, hầu như chẳng mấy người biết tới công việc thầm lặng của ông Ca và VNAH.
Những chuyến trở về Việt Nam của ông cứ mau dần, và mỗi lần trở lại đều có những món quà.
Khi là những chiếc chân tay giả, xe lăn, xe lắc, khi là đoàn bác sỹ khám chữa bệnh miễn phí cho những người nghèo, nguời tàn tật.
Gần đây nhất, tháng 3/2007, ông đưa đoàn bác sỹ tình nguyện Mỹ - Việt tới khám chữa bệnh tại các tỉnh phía Nam. Tháng 4/2007, ông trở lại Việt Nam với chuyến đi tặng chân tay giả và xe lăn ở Thái Bình.
Cho tới nay, hoạt động của Hội đã vươn tới những vùng sâu, vùng xa của Việt Nam, từ Thái Nguyên, Cao Bằng tới các tỉnh ĐBSCL.
“Quy mô chương trình của chúng tôi nhỏ, nhưng thiết thực và được Chính phủ Việt Nam đánh giá cao” - Ông Ca phấn khởi cho biết.
Trở về
Năm 2003, tờ Washington Post đã có bài viết về ông Trần Văn Ca với tựa đề: Đi để trở về, trong đó ca ngợi ông là một nhà hảo tâm. Ban đầu, chỉ là một ít tiền dành dụm được, gửi về nước cho bố mẹ ở Việt Nam coi như là bổn phận của một người con.
Hơn 30 năm sau ngày sang Mỹ, sau những nhọc nhằn thuở ban đầu, Trần Văn Ca đã trở thành người chủ của một nhà hàng sang trọng rộng 5 ha tại Great Falls.
Sau một chuyến trở về Việt Nam và cuộc gặp gỡ với một thương binh cụt cả hai chân lê trên hè phố, ông mới ngộ ra một điều rằng, thật quá ích kỷ nếu chỉ biết giúp đỡ cho mỗi gia đình mình.
Từ bỏ công việc kinh doanh nhà hàng đầy triển vọng, ông thành lập Hội Hỗ trợ người tàn tật Việt Nam tại Virginia (Mỹ) năm 1991 với 10.000 USD.
Số tiền này dùng để mua xe lăn cho người tàn tật gửi về nước.
Cho tới nay, Hội của ông đã xây dựng được hai xưởng sản xuất chân tay giả ngay tại Việt Nam vừa tiết kiệm được chi phí vừa tạo công ăn việc làm cho người tàn tật.
Tờ Reader’s Digest cũng cho biết, Trần Văn Ca đã từ bỏ năm nhà hàng ăn nhanh kiểu Mexico tên là Taco Amingo và ngôi biệt thự có tới tám phòng ngủ trị giá hàng triệu đô la ở Mỹ để trở về Việt Nam làm từ thiện.
Đến nay VNAH đã nhận tài trợ từ Cơ quan Phát triển quốc tế của Mỹ (USAID) tổng cộng 5,6 triệu USD cho các dự án hỗ trợ người tàn tật ở Việt Nam.
Tháng 11/2006, Quốc hội Mỹ đồng ý chuẩn chi khoản hỗ trợ trị giá 400.000 USD cho VNAH để xây dựng một trung tâm phục hồi sức khỏe tại Đà Nẵng.
Dự án này nằm trong khuôn khổ chương trình Các bệnh viện và trường học Mỹ ở nước ngoài (ASHA).
Trăn trở “đầu ra” cho người khuyết tật
Ông Ca nhận ra một điều, nếu chỉ đào tạo nghề cho người tàn tật thì sẽ là một lãng phí lớn nếu không biết cách tạo đầu ra cho họ.
Mô hình liên kết giữa đào tạo nghề và việc làm đang được VNAH triển khai thí điểm tại Đông Anh (Hà Nội), Đà Lạt (Lâm Đồng).
Ông Ca cho biết, cần phải chủ động tìm đến các liên doanh, doanh nghiệp, các cơ quan sử dụng lao động đề nghị họ giúp đỡ bằng cách mình đào tạo nghề giúp họ, họ nhận giúp học viên cho mình.
Thật bất ngờ, chương trình thí điểm đã có dấu hiệu khả quan. Dự án đào tạo nghề tại Đà Lạt của VNAH đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của Cty Gia Hùng.
Không những Cty hứa sẽ nhận những người khuyết tật vào làm việc, mà trong quá trình đào tạo nghề, họ còn cử chuyên viên tới giúp đỡ cả chuyên môn lẫn kỹ thuật như tặng trang thiết bị may, phụ liệu may...
“Đây là dự án hỗn hợp đầu vào, đầu ra khép kín đảm bảo hiệu quả, tránh lãng phí và cũng khuyến khích được người tàn tật theo học.
Trên 90% học viên đã có công ăn việc làm ổn định sau khi kết thúc khóa học” - ông Ca cho biết.
boxTrong 16 năm qua, VNAH đã phẫu thuật, chỉnh hình cho hàng ngàn trẻ em tàn tật, hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho hơn 2.000 thanh thiếu niên nghèo, tàn tật, nạn nhân chất độc da cam, giúp hơn 6.000 trẻ em nghèo, mồ côi, trẻ đường phố và gia đình các em hồi gia, học tập, học nghề, xóa đói giảm nghèo, xây dựng hơn 35 trường học tại các vùng nông thôn và miền núi nghèo, tổ chức các chuyến công tác khám chữa bệnh miễn phí với y, bác sỹ và tình nguyện viên từ Hoa Kỳ và các dự án tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS.
VNAH là tổ chức phi chính phủ của người Việt ở nước ngoài đầu tiên được cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Hà Nội.
Theo Tiền Phong
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)