Mạng không dây (Wireless Local Area Network) là hệ thống mạng không dây rất được ưu chuộng bởi cung cấp khả năng truyền tải dữ liệu có tốc độ cao, với khoảng cách xa mà không phải lo lắng về dây dẫn, cáp...
Trong bài viết này, bạn đọc sẽ được làm quen với những thiết bị WLAN cơ bản. Thiết bị WLAN cơ bản bao gồm các card mạng không dây, các điểm truy cập không dây (Access Point), và WBridge (Bridge không dây).
Card mạng không dây
Card mạng không dây giao tiếp máy tính với mạng không dây bằng cách điều chế tín hiệu dữ liệu với chuỗi trải phổ và thực hiện một giao thức truy nhập cảm ứng sóng mang. Máy tính muốn gửi dữ liệu lên trên mạng, card mạng không dây sẽ lắng nghe các truyền dẫn khác. Nếu không thấy các truyền dẫn khác, card mạng sẽ phát ra một khung dữ liệu. Trong khi đó, các trạm khác vẫn liên tục lắng nghe dữ liệu đến, chiếm khung dữ liệu phát và kiểm tra xem địa chỉ của nó có phù hợp với địa chỉ đích trong phần Header của khung phát bản tin hay không. Nếu địa chỉ đó trùng với địa chỉ của trạm, thì trạm đó sẽ nhận và xử lý khung dữ liệu được, ngược lại trạm sẽ thải hồi khung dữ liệu này.
Các card mạng không dây không khác nhiều so với các card mạng được sử dụng trong mạng LAN có dây. Card mạng không dây trao đổi thông tin với hệ điều hành mạng thông qua một bộ điều khiển chuyên dụng. Như vậy, bất kì ứng dụng nào cũng có thể sử dụng mạng không dây để truyền dữ liệu. Tuy nhiên, khác với các card mạng có dây, các card mạng không dây là không cần bất kỳ dây nối nào. Card mạng có dây có thể sử dụng khe cắm ISA (hiện nay ít sử dụng) hoặc khe cắm PCI (sử dụng phổ biến) trên máy tính để bàn hoặc sử dụng khe cắm PCMCIA trên các laptop. Card mạng không dây thường có một anten ngoài có thể gắn vào tường hoặc một vị trí nào đó trong phòng.
Các điểm truy cập không dây (Access Point)
Soạn: AM 678051 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Các điểm truy cập không dây AP (Acsses Point) tạo ra các vùng phủ sóng, nối các nút di động tới các cơ sở hạ tầng LAN có dây. Vì các điểm truy cập cho phép mở rộng vùng phủ sóng nên các mạng không dây WLAN có thể triển khai trong cả một toà nhà hay một khu trường đại học, tạo ra một vùng truy cập không dây rộng lớn. Các điểm truy cập này không chỉ cung cấp trao đổi thông tin với các mạng có dây mà còn lọc lưu lượng và thực hiện chức năng cầu nối với các tiêu chuẩn khác. Chức năng lọc giúp giữ gìn dải thông trên các kênh vô tuyến nhờ loại bỏ các lưu lượng thừa.
Do băng thông ghép đôi không đối xứng giữa thông tin vô tuyến và hữu tuyến nên các điểm truy cập cần có bộ đệm thích hợp và các tài nguyên của bộ nhớ. Các bộ đệm được dùng chủ yếu để lưu các gói dữ liệu ở điểm truy cập khi một nút di động cố gắng di chuyển khỏi vùng phủ sóng hoặc khi một nút di động hoạt động ở chế độ công suất thấp. Các điểm truy cập trao đổi với nhau qua mạng hữu tuyến để quản lý các nút di động. Một điểm truy cập không cần điều khiển truy cập từ nhiều nút di động (có nghĩa là có thể hoạt động với một giao thức ngẫu nhiên phân tán như CSMA). Tuy nhiên, một giao thức đa truy cập tập trung được điều khiển bởi một điểm truy cập có nhiều thuận lợi. Các lựa chọn giao diện mạng hữu tuyến chung với điểm truy cập gồm có 10Base2, 10BaseT, modem ADSL, ISDN.
WBridge - Bridge không dây
Soạn: AM 678057 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Các WBridge (Bridge không dây) tương tự như các điểm truy cập không dây trừ trường hợp chúng được sử dụng cho các kênh bên ngoài. Phụ thuộc vào khoảng cách và vùng mà cần dùng tới anten ngoài. WBridge được thiết kế để nối các mạng với nhau, đặc biệt trong các toà nhà có khoảng cách xa tới 32 km.
WBridge cung cấp một phương pháp nhanh chóng và rẻ tiền so với việc sử dụng cáp, hoặc đường điện thoại thuê riêng (lised-line) và thường được sử dụng khi các kết nối có dây truyền thống không thể thực hiện hoặc khó khăn như qua sông, địa hình hiểm trở, các khu vực riêng, đường cao tốc... Khác với các liên kết cáp và các mạch điện thoại chuyên dụng, WBridge có thể lọc lưu lượng và đảm bảo rằng các hệ thống mạng không dây được kết nối tốt mà không bị mất lưu lượng cần thiết.
http://www.vnn.vn/cntt/2006/01/534681/
5 thg 3, 2008
Khái niệm căn bản về thiết bị mạng..
Để hệ thống mạng làm việc trơn tru, hiệu quả và khả năng kết nối tới những hệ thống mạng khác đòi hỏi phải sử dụng những thiết bị mạng chuyên dụng. Những thiết bị mạng này rất đa dạng và phong phú về chủng loại nhưng đều dựa trên những thiết bị cơ bản là Repeater, Hub, Switch, Router và Gateway.
Bài viết này sẽ giúp bạn đọc có được một những hiểu biết cơ bản về các thiết bị mạng kể trên:
Repeater
Soạn: AM 668011 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Trong một mạng LAN, giới hạn của cáp mạng là 100m (cho loại cáp mạng CAT 5 UTP – là cáp được dùng phổ biến nhất), bởi tín hiệu bị suy hao trên đường truyền nên không thể đi xa hơn. Vì vậy, để có thể kết nối các thiết bị ở xa hơn, mạng cần các thiết bị để khuếch đại và định thời lại tín hiệu, giúp tín hiệu có thể truyền dẫn đi xa hơn giới hạn này.
Repeater là một thiết bị ở lớp 1 (Physical Layer) trong mô hình OSI. Repeater có vai trò khuếch đại tín hiệu vật lý ở đầu vào và cung cấp năng lượng cho tín hiệu ở đầu ra để có thể đến được những chặng đường tiếp theo trong mạng. Điện tín, điện thoại, truyền thông tin qua sợi quang… và các nhu cầu truyền tín hiệu đi xa đều cần sử dụng Repeater.
Hub
Soạn: AM 668013 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Hub được coi là một Repeater có nhiều cổng. Một Hub có từ 4 đến 24 cổng và có thể còn nhiều hơn. Trong phần lớn các trường hợp, Hub được sử dụng trong các mạng 10BASE-T hay 100BASE-T. Khi cấu hình mạng là hình sao (Star topology), Hub đóng vai trò là trung tâm của mạng. Với một Hub, khi thông tin vào từ một cổng và sẽ được đưa đến tất cả các cổng khác.
Hub có 2 loại là Active Hub và Smart Hub. Active Hub là loại Hub được dùng phổ biến, cần được cấp nguồn khi hoạt động, được sử dụng để khuếch đại tín hiệu đến và cho tín hiệu ra những cổng còn lại, đảm bảo mức tín hiệu cần thiết. Smart Hub (Intelligent Hub) có chức năng tương tự như Active Hub, nhưng có tích hợp thêm chip có khả năng tự động dò lỗi - rất hữu ích trong trường hợp dò tìm và phát hiện lỗi trong mạng.
Bridge
Soạn: AM 668019 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Bridge là thiết bị mạng thuộc lớp 2 của mô hình OSI (Data Link Layer). Bridge được sử dụng để ghép nối 2 mạng để tạo thành một mạng lớn duy nhất. Bridge được sử dụng phổ biến để làm cầu nối giữa hai mạng Ethernet. Bridge quan sát các gói tin (packet) trên mọi mạng. Khi thấy một gói tin từ một máy tính thuộc mạng này chuyển tới một máy tính trên mạng khác, Bridge sẽ sao chép và gửi gói tin này tới mạng đích.
Ưu điểm của Bridge là hoạt động trong suốt, các máy tính thuộc các mạng khác nhau vẫn có thể gửi các thông tin với nhau đơn giản mà không cần biết có sự "can thiệp" của Bridge. Một Bridge có thể xử lý được nhiều lưu thông trên mạng như Novell, Banyan... cũng như là địa chỉ IP cùng một lúc. Nhược điểm của Bridge là chỉ kết nối những mạng cùng loại và sử dụng Bridge cho những mạng hoạt động nhanh sẽ khó khăn nếu chúng không nằm gần nhau về mặt vật lý.
Switch
Soạn: AM 668029 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Switch đôi khi được mô tả như là một Bridge có nhiều cổng. Trong khi một Bridge chỉ có 2 cổng để liên kết được 2 segment mạng với nhau, thì Switch lại có khả năng kết nối được nhiều segment lại với nhau tuỳ thuộc vào số cổng (port) trên Switch. Cũng giống như Bridge, Switch cũng "học" thông tin của mạng thông qua các gói tin (packet) mà nó nhận được từ các máy trong mạng. Switch sử dụng các thông tin này để xây dựng lên bảng Switch, bảng này cung cấp thông tin giúp các gói thông tin đến đúng địa chỉ.
Ngày nay, trong các giao tiếp dữ liệu, Switch thường có 2 chức năng chính là chuyển các khung dữ liệu từ nguồn đến đích, và xây dựng các bảng Switch. Switch hoạt động ở tốc độ cao hơn nhiều so với Repeater và có thể cung cấp nhiều chức năng hơn như khả năng tạo mạng LAN ảo (VLAN).
Router
Router là thiết bị mạng lớp 3 của mô hình OSI (Network Layer). Router kết nối hai hay nhiều mạng IP với nhau. Các máy tính trên mạng phải "nhận thức" được sự tham gia của một router, nhưng đối với các mạng IP thì một trong những quy tắc của IP là mọi máy tính kết nối mạng đều có thể giao tiếp được với router.
Ưu điểm của Router: Về mặt vật lý, Router có thể kết nối với các loại mạng khác lại với nhau, từ những Ethernet cục bộ tốc độ cao cho đến đường dây điện thoại đường dài có tốc độ chậm.
Nhược điểm của Router: Router chậm hơn Bridge vì chúng đòi hỏi nhiều tính toán hơn để tìm ra cách dẫn đường cho các gói tin, đặc biệt khi các mạng kết nối với nhau không cùng tốc độ. Một mạng hoạt động nhanh có thể phát các gói tin nhanh hơn nhiều so với một mạng chậm và có thể gây ra sự nghẽn mạng. Do đó, Router có thể yêu cầu máy tính gửi các gói tin đến chậm hơn. Một vấn đề khác là các Router có đặc điểm chuyên biệt theo giao thức - tức là, cách một máy tính kết nối mạng giao tiếp với một router IP thì sẽ khác biệt với cách nó giao tiếp với một router Novell hay DECnet. Hiện nay vấn đề này được giải quyết bởi một mạng biết đường dẫn của mọi loại mạng được biết đến. Tất cả các router thương mại đều có thể xử lý nhiều loại giao thức, thường với chi phí phụ thêm cho mỗi giao thức.
Gateway
Soạn: AM 668035 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Gateway cho phép nối ghép hai loại giao thức với nhau. Ví dụ: mạng của bạn sử dụng giao thức IP và mạng của ai đó sử dụng giao thức IPX, Novell, DECnet, SNA... hoặc một giao thức nào đó thì Gateway sẽ chuyển đổi từ loại giao thức này sang loại khác.
Qua Gateway, các máy tính trong các mạng sử dụng các giao thức khác nhau có thể dễ dàng "nói chuyện" được với nhau. Gateway không chỉ phân biệt các giao thức mà còn còn có thể phân biệt ứng dụng như cách bạn chuyển thư điện tử từ mạng này sang mạng khác, chuyển đổi một phiên làm việc từ xa...
http://www.vnn.vn/cntt/2006/01/531619/
Bài viết này sẽ giúp bạn đọc có được một những hiểu biết cơ bản về các thiết bị mạng kể trên:
Repeater
Soạn: AM 668011 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Trong một mạng LAN, giới hạn của cáp mạng là 100m (cho loại cáp mạng CAT 5 UTP – là cáp được dùng phổ biến nhất), bởi tín hiệu bị suy hao trên đường truyền nên không thể đi xa hơn. Vì vậy, để có thể kết nối các thiết bị ở xa hơn, mạng cần các thiết bị để khuếch đại và định thời lại tín hiệu, giúp tín hiệu có thể truyền dẫn đi xa hơn giới hạn này.
Repeater là một thiết bị ở lớp 1 (Physical Layer) trong mô hình OSI. Repeater có vai trò khuếch đại tín hiệu vật lý ở đầu vào và cung cấp năng lượng cho tín hiệu ở đầu ra để có thể đến được những chặng đường tiếp theo trong mạng. Điện tín, điện thoại, truyền thông tin qua sợi quang… và các nhu cầu truyền tín hiệu đi xa đều cần sử dụng Repeater.
Hub
Soạn: AM 668013 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Hub được coi là một Repeater có nhiều cổng. Một Hub có từ 4 đến 24 cổng và có thể còn nhiều hơn. Trong phần lớn các trường hợp, Hub được sử dụng trong các mạng 10BASE-T hay 100BASE-T. Khi cấu hình mạng là hình sao (Star topology), Hub đóng vai trò là trung tâm của mạng. Với một Hub, khi thông tin vào từ một cổng và sẽ được đưa đến tất cả các cổng khác.
Hub có 2 loại là Active Hub và Smart Hub. Active Hub là loại Hub được dùng phổ biến, cần được cấp nguồn khi hoạt động, được sử dụng để khuếch đại tín hiệu đến và cho tín hiệu ra những cổng còn lại, đảm bảo mức tín hiệu cần thiết. Smart Hub (Intelligent Hub) có chức năng tương tự như Active Hub, nhưng có tích hợp thêm chip có khả năng tự động dò lỗi - rất hữu ích trong trường hợp dò tìm và phát hiện lỗi trong mạng.
Bridge
Soạn: AM 668019 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Bridge là thiết bị mạng thuộc lớp 2 của mô hình OSI (Data Link Layer). Bridge được sử dụng để ghép nối 2 mạng để tạo thành một mạng lớn duy nhất. Bridge được sử dụng phổ biến để làm cầu nối giữa hai mạng Ethernet. Bridge quan sát các gói tin (packet) trên mọi mạng. Khi thấy một gói tin từ một máy tính thuộc mạng này chuyển tới một máy tính trên mạng khác, Bridge sẽ sao chép và gửi gói tin này tới mạng đích.
Ưu điểm của Bridge là hoạt động trong suốt, các máy tính thuộc các mạng khác nhau vẫn có thể gửi các thông tin với nhau đơn giản mà không cần biết có sự "can thiệp" của Bridge. Một Bridge có thể xử lý được nhiều lưu thông trên mạng như Novell, Banyan... cũng như là địa chỉ IP cùng một lúc. Nhược điểm của Bridge là chỉ kết nối những mạng cùng loại và sử dụng Bridge cho những mạng hoạt động nhanh sẽ khó khăn nếu chúng không nằm gần nhau về mặt vật lý.
Switch
Soạn: AM 668029 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Switch đôi khi được mô tả như là một Bridge có nhiều cổng. Trong khi một Bridge chỉ có 2 cổng để liên kết được 2 segment mạng với nhau, thì Switch lại có khả năng kết nối được nhiều segment lại với nhau tuỳ thuộc vào số cổng (port) trên Switch. Cũng giống như Bridge, Switch cũng "học" thông tin của mạng thông qua các gói tin (packet) mà nó nhận được từ các máy trong mạng. Switch sử dụng các thông tin này để xây dựng lên bảng Switch, bảng này cung cấp thông tin giúp các gói thông tin đến đúng địa chỉ.
Ngày nay, trong các giao tiếp dữ liệu, Switch thường có 2 chức năng chính là chuyển các khung dữ liệu từ nguồn đến đích, và xây dựng các bảng Switch. Switch hoạt động ở tốc độ cao hơn nhiều so với Repeater và có thể cung cấp nhiều chức năng hơn như khả năng tạo mạng LAN ảo (VLAN).
Router
Router là thiết bị mạng lớp 3 của mô hình OSI (Network Layer). Router kết nối hai hay nhiều mạng IP với nhau. Các máy tính trên mạng phải "nhận thức" được sự tham gia của một router, nhưng đối với các mạng IP thì một trong những quy tắc của IP là mọi máy tính kết nối mạng đều có thể giao tiếp được với router.
Ưu điểm của Router: Về mặt vật lý, Router có thể kết nối với các loại mạng khác lại với nhau, từ những Ethernet cục bộ tốc độ cao cho đến đường dây điện thoại đường dài có tốc độ chậm.
Nhược điểm của Router: Router chậm hơn Bridge vì chúng đòi hỏi nhiều tính toán hơn để tìm ra cách dẫn đường cho các gói tin, đặc biệt khi các mạng kết nối với nhau không cùng tốc độ. Một mạng hoạt động nhanh có thể phát các gói tin nhanh hơn nhiều so với một mạng chậm và có thể gây ra sự nghẽn mạng. Do đó, Router có thể yêu cầu máy tính gửi các gói tin đến chậm hơn. Một vấn đề khác là các Router có đặc điểm chuyên biệt theo giao thức - tức là, cách một máy tính kết nối mạng giao tiếp với một router IP thì sẽ khác biệt với cách nó giao tiếp với một router Novell hay DECnet. Hiện nay vấn đề này được giải quyết bởi một mạng biết đường dẫn của mọi loại mạng được biết đến. Tất cả các router thương mại đều có thể xử lý nhiều loại giao thức, thường với chi phí phụ thêm cho mỗi giao thức.
Gateway
Soạn: AM 668035 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Gateway cho phép nối ghép hai loại giao thức với nhau. Ví dụ: mạng của bạn sử dụng giao thức IP và mạng của ai đó sử dụng giao thức IPX, Novell, DECnet, SNA... hoặc một giao thức nào đó thì Gateway sẽ chuyển đổi từ loại giao thức này sang loại khác.
Qua Gateway, các máy tính trong các mạng sử dụng các giao thức khác nhau có thể dễ dàng "nói chuyện" được với nhau. Gateway không chỉ phân biệt các giao thức mà còn còn có thể phân biệt ứng dụng như cách bạn chuyển thư điện tử từ mạng này sang mạng khác, chuyển đổi một phiên làm việc từ xa...
http://www.vnn.vn/cntt/2006/01/531619/
Tối ưu hoá tốc độ kết nối băng thông rộng..
Bạn sử dụng đường truyền băng thông rộng ADSL, nhưng tốc độ kết nối lại chậm hơn cả quay số. Đôi lúc bạn không thể truy cập Internet được, Phải làm gì để có thể truy cập Internet nhanh và tốt hơn?
Trước hết, hãy cập nhật các chương trình chống virus, phát hiện phần mềm gián điệp và thiết lập tường lửa...Tiếp theo, kiểm tra virus và spyware. Nếu máy tính của bạn bị nhiễm những chương trình này thì kết nối băng thông rộng có thể sẽ rất chậm, thậm chí còn "tệ" hơn cả kết nối quay số nữa! Khi một máy tính trong mạng bị nhiễm virus, toàn bộ hệ thống mạng cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Sau khi đảm bảo rằng chiếc PC của bạn đã "sạch sẽ", hãy sử dụng lệnh ping để "nghe" chất lượng đường truyền mạng. Bạn có thể vào Start -> Run và gõ command /k ipconfig , và nhấn Enter. Hộp kết quả sẽ đưa ra những thiết lập mạng, một trong số đó là địa chỉ IP máy của bạn (có dạng x.x.x.x với x là một giá trị từ 0 đến 255). Trong dấu đợi lệnh bên dưới, gõ tiếp: ping ipaddress. Trong đó ipaddress là địa chỉ trong "IPAddress" mà bạn xem được trong lệnh lúc trước, và nhấn Enter. Bạn sẽ nhìn thấy một số danh sách thống kê các gói dữ liệu theo số giây. Nếu ping không thực hiện được "Destination host unreachable", thì lỗi thuộc về card mạng của bạn, hoặc các kết nối giữa PC và router/modem ADSL. Gõ exit và nhấn Enter để thoát khỏi cửa sổ dòng lệnh.
Nếu không thể ping được thì rất có thể router, modem hoặc một thiết bị đấu nối nào đó gây ra lỗi. Bạn nên xem lại nguồn điện modem, kiểm tra lại jack cắm, xem lại các điểm kết nối, đợi vài phút, khởi động lại máy tính, ...rất có thể lỗi sẽ biến mất.
Một phương pháp nhanh chóng và rẻ tiền khác là thay cáp mới. Rất có thể cáp cũ chất lượng kém hoặc do bị chuột "gặm" cũng có thể gây ra lỗi.
Nếu tất cả những máy tính trên mạng đều không thể kết nối vào mạng đồng thời, và máy tính bạn không nhiễm bất cứ virus, sâu nào... thì có khả năng không phải do Windows, phần cứng PC, dây cáp, hay các kết nối Wi-Fi. Tuy nhiên, nếu chỉ một máy tính không thể truy cập mạng được rất có khả năng đó là lỗi của một trong những nguyên nhân trên.
Nếu sử dụng mạng Wi-Fi, hãy kiểm tra cường độ của tín hiệu kết nối (hầu hết các card mạng không dây đều có biểu tượng trong khay hệ thống). Nếu tín hiệu yếu, hãy bỏ đi một số vật cản chẳng hạn như: cây cảnh, bể cá, hộp đĩa CD... Điều này có thể làm cho card mạng không dây thu được tín hiệu mạnh hơn.
Cuối cùng, nếu tất cả mọi thứ đều làm việc tốt mà bạn vẫn không thể kết nối được Internet thì tốt nhất hãy gọi cho bộ phận hỗ trợ kĩ thuật của nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP). Nếu ISP không cung cấp modem hoặc router, bạn có thể liên lạc với các cửa hàng mà bạn đã mua các thiết bị này để nhờ tư vấn, kiểm tra thiết bị.
Minh Phúc (Theo PCWorld)
http://www.vnn.vn/cntt/2005/11/516276/
Trước hết, hãy cập nhật các chương trình chống virus, phát hiện phần mềm gián điệp và thiết lập tường lửa...Tiếp theo, kiểm tra virus và spyware. Nếu máy tính của bạn bị nhiễm những chương trình này thì kết nối băng thông rộng có thể sẽ rất chậm, thậm chí còn "tệ" hơn cả kết nối quay số nữa! Khi một máy tính trong mạng bị nhiễm virus, toàn bộ hệ thống mạng cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Sau khi đảm bảo rằng chiếc PC của bạn đã "sạch sẽ", hãy sử dụng lệnh ping để "nghe" chất lượng đường truyền mạng. Bạn có thể vào Start -> Run và gõ command /k ipconfig , và nhấn Enter. Hộp kết quả sẽ đưa ra những thiết lập mạng, một trong số đó là địa chỉ IP máy của bạn (có dạng x.x.x.x với x là một giá trị từ 0 đến 255). Trong dấu đợi lệnh bên dưới, gõ tiếp: ping ipaddress. Trong đó ipaddress là địa chỉ trong "IPAddress" mà bạn xem được trong lệnh lúc trước, và nhấn Enter. Bạn sẽ nhìn thấy một số danh sách thống kê các gói dữ liệu theo số giây. Nếu ping không thực hiện được "Destination host unreachable", thì lỗi thuộc về card mạng của bạn, hoặc các kết nối giữa PC và router/modem ADSL. Gõ exit và nhấn Enter để thoát khỏi cửa sổ dòng lệnh.
Nếu không thể ping được thì rất có thể router, modem hoặc một thiết bị đấu nối nào đó gây ra lỗi. Bạn nên xem lại nguồn điện modem, kiểm tra lại jack cắm, xem lại các điểm kết nối, đợi vài phút, khởi động lại máy tính, ...rất có thể lỗi sẽ biến mất.
Một phương pháp nhanh chóng và rẻ tiền khác là thay cáp mới. Rất có thể cáp cũ chất lượng kém hoặc do bị chuột "gặm" cũng có thể gây ra lỗi.
Nếu tất cả những máy tính trên mạng đều không thể kết nối vào mạng đồng thời, và máy tính bạn không nhiễm bất cứ virus, sâu nào... thì có khả năng không phải do Windows, phần cứng PC, dây cáp, hay các kết nối Wi-Fi. Tuy nhiên, nếu chỉ một máy tính không thể truy cập mạng được rất có khả năng đó là lỗi của một trong những nguyên nhân trên.
Nếu sử dụng mạng Wi-Fi, hãy kiểm tra cường độ của tín hiệu kết nối (hầu hết các card mạng không dây đều có biểu tượng trong khay hệ thống). Nếu tín hiệu yếu, hãy bỏ đi một số vật cản chẳng hạn như: cây cảnh, bể cá, hộp đĩa CD... Điều này có thể làm cho card mạng không dây thu được tín hiệu mạnh hơn.
Cuối cùng, nếu tất cả mọi thứ đều làm việc tốt mà bạn vẫn không thể kết nối được Internet thì tốt nhất hãy gọi cho bộ phận hỗ trợ kĩ thuật của nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP). Nếu ISP không cung cấp modem hoặc router, bạn có thể liên lạc với các cửa hàng mà bạn đã mua các thiết bị này để nhờ tư vấn, kiểm tra thiết bị.
Minh Phúc (Theo PCWorld)
http://www.vnn.vn/cntt/2005/11/516276/
Phân biệt đèn chỉ thị trong Cisco Switch
Là nhân viên công ty có hệ thống mạng máy tính lớn, có sử dụng nhiều switch của Cisco, mỗi khi nhìn thấy các đèn nhấp nháy của Switch như dải đèn của máy nghe nhạc, trông chúng thật hấp dẫn và cuốn hút, nhưng liệu bạn có biết chúng truyền tải thông điệp gì?
Vậy, thực chất những giải đèn này nhằm mục đích gì, nguyên tắc hoạt động như thế nào, và chức năng ra sao? Bài viết này sẽ giải đáp những thắc mắc giùm bạn.
Giống như các loại thiết bị điện tử khác, Switch cũng có các loại đèn chỉ thị để cho người sử dụng có thể biết được trạng thái hoạt động của nó. Switch gồm có 4 loại đèn ở phía trước:
*
Đèn hệ thống - System Led
*
Đèn nguồn nuôi bên ngoài - Remote Power Supply Led(RPS)
*
Đèn chế độ báo hiệu - Port Mode Led
*
Đèn trạng thái các cổng - Port status Led
Đèn hệ thống - System Led
Đèn hệ thống thông báo hệ thống đang được cấp nguồn và đang hoạt động đúng chức năng hay chưa. Mỗi khi cắm dây nguồn, Switch sẽ bắt đầu quá trình kiểm tra phần cứng. Trong quá trình này, đèn hệ thống sẽ không sáng. Sau đó, nếu kiểm tra thành công, đèn sẽ báo màu xanh lá cây. Ngược lại, khi có lỗi đèn sẽ có màu da cam. Thật đáng rất tiếc, khi có đèn có màu cam điều này cũng có nghĩa là bạn phải đem thiết bị đi bảo hành.
Đèn nguồn nuôi bên ngoài- RPS
Đèn nguồn nuôi bên ngoài thông báo Switch đang được cấp nguồn nuôi từ bên ngoài hay không. Đèn này chỉ sáng khi switch được cấp nguồn từ ngoài.
Đèn chế độ báo hiệu và đèn trạng thái cổng
Đèn báo chế độ báo hiệu có 4 chế độ (STAT, UTL, FDUP, SPEED), bạn có thể chọn các chế độ bằng cách bấm vào phím "Mode", được mô tả trong hình vẽ sau:
Soạn: AM 677447 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Ứng với mỗi chế độ báo hiệu, vai trò hiển thị của các đèn trạng thái cổng sẽ tương ứng theo bảng sau:
Đèn chế độ báo hiệu
Đèn trạng thái cổng
Giải thích
STAT
Tắt
Cổng tương ứng không có kết nối
Xanh liên lục
Đang khởi động kết nối
Xanh nhấp nháy
Cổng đang trao đổi dữ liệu
Nháy xanh/da cam
Kết nối bị lỗi
Da cam liên tục
Cổng đang bị khoá
UTL
Tắt
Mỗi một đèn trạng thái cổng khi tắt sẽ chỉ thị Switch sử dụng băng thông giảm đi một nửa. Các đèn sẽ tắt theo thứ tự từ phải sang trái. Nếu đèn ở ngoài cùng bên phải tắt có nghĩa là Switch đang sử dụng ít hơn 50% tổng băng thông. Nếu đèn tiếp theo tắt thì Switch đang sử dụng ít hơn 25% tổng băng thông ....
Xanh
Nếu tất cả các đèn đều xanh có nghĩa là Switch đang sử dụng trên 50% tổng băng thông
FDUP
Tắt
Cổng đang chạy ở chế độ bán song công (half-duplex)
Xanh
Cổng đang chạy ở chế độ song công (full-duplex)
Speed
Tắt
Cổng chạy với tốc độ 10Mbps
Xanh
Cổng chạy với tốc độ 100Mbps
*
Bachkhoa Networking Academy Tư vấn
Bạn mới nghiên cứu về mạng máy tính và có những thắc mắc cần giải đáp, hãy gửi câu hỏi theo mẫu bên dưới, Cisco Bách Khoa sẽ tư vấn và trả lời những thắc mắc của bạn thông qua mục Networking của VietnamNet ICT:
http://www.vnn.vn/cntt/2006/01/534823/
Vậy, thực chất những giải đèn này nhằm mục đích gì, nguyên tắc hoạt động như thế nào, và chức năng ra sao? Bài viết này sẽ giải đáp những thắc mắc giùm bạn.
Giống như các loại thiết bị điện tử khác, Switch cũng có các loại đèn chỉ thị để cho người sử dụng có thể biết được trạng thái hoạt động của nó. Switch gồm có 4 loại đèn ở phía trước:
*
Đèn hệ thống - System Led
*
Đèn nguồn nuôi bên ngoài - Remote Power Supply Led(RPS)
*
Đèn chế độ báo hiệu - Port Mode Led
*
Đèn trạng thái các cổng - Port status Led
Đèn hệ thống - System Led
Đèn hệ thống thông báo hệ thống đang được cấp nguồn và đang hoạt động đúng chức năng hay chưa. Mỗi khi cắm dây nguồn, Switch sẽ bắt đầu quá trình kiểm tra phần cứng. Trong quá trình này, đèn hệ thống sẽ không sáng. Sau đó, nếu kiểm tra thành công, đèn sẽ báo màu xanh lá cây. Ngược lại, khi có lỗi đèn sẽ có màu da cam. Thật đáng rất tiếc, khi có đèn có màu cam điều này cũng có nghĩa là bạn phải đem thiết bị đi bảo hành.
Đèn nguồn nuôi bên ngoài- RPS
Đèn nguồn nuôi bên ngoài thông báo Switch đang được cấp nguồn nuôi từ bên ngoài hay không. Đèn này chỉ sáng khi switch được cấp nguồn từ ngoài.
Đèn chế độ báo hiệu và đèn trạng thái cổng
Đèn báo chế độ báo hiệu có 4 chế độ (STAT, UTL, FDUP, SPEED), bạn có thể chọn các chế độ bằng cách bấm vào phím "Mode", được mô tả trong hình vẽ sau:
Soạn: AM 677447 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Ứng với mỗi chế độ báo hiệu, vai trò hiển thị của các đèn trạng thái cổng sẽ tương ứng theo bảng sau:
Đèn chế độ báo hiệu
Đèn trạng thái cổng
Giải thích
STAT
Tắt
Cổng tương ứng không có kết nối
Xanh liên lục
Đang khởi động kết nối
Xanh nhấp nháy
Cổng đang trao đổi dữ liệu
Nháy xanh/da cam
Kết nối bị lỗi
Da cam liên tục
Cổng đang bị khoá
UTL
Tắt
Mỗi một đèn trạng thái cổng khi tắt sẽ chỉ thị Switch sử dụng băng thông giảm đi một nửa. Các đèn sẽ tắt theo thứ tự từ phải sang trái. Nếu đèn ở ngoài cùng bên phải tắt có nghĩa là Switch đang sử dụng ít hơn 50% tổng băng thông. Nếu đèn tiếp theo tắt thì Switch đang sử dụng ít hơn 25% tổng băng thông ....
Xanh
Nếu tất cả các đèn đều xanh có nghĩa là Switch đang sử dụng trên 50% tổng băng thông
FDUP
Tắt
Cổng đang chạy ở chế độ bán song công (half-duplex)
Xanh
Cổng đang chạy ở chế độ song công (full-duplex)
Speed
Tắt
Cổng chạy với tốc độ 10Mbps
Xanh
Cổng chạy với tốc độ 100Mbps
*
Bachkhoa Networking Academy Tư vấn
Bạn mới nghiên cứu về mạng máy tính và có những thắc mắc cần giải đáp, hãy gửi câu hỏi theo mẫu bên dưới, Cisco Bách Khoa sẽ tư vấn và trả lời những thắc mắc của bạn thông qua mục Networking của VietnamNet ICT:
http://www.vnn.vn/cntt/2006/01/534823/
3 thg 3, 2008
http://www.nhatnghe.com/forum/showthread.php?t=5140
http://forum.itlab.com.vn/forum/index.php
http://www.nhatnghe.com/forum/showthread.php?t=5140
http://freecomputerbooks.com/
http://www.redbooks.ibm.com/cgi-bin/searchsite.cgi?query=network
http://360.yahoo.com/langnghevachiase
http://dalat.wordpress.com/2008/03/02/kho-kien-thuc-hoc-mcsa/
http://www.nhatnghe.com/forum/showthread.php?t=5140
http://freecomputerbooks.com/
http://www.redbooks.ibm.com/cgi-bin/searchsite.cgi?query=network
http://360.yahoo.com/langnghevachiase
http://dalat.wordpress.com/2008/03/02/kho-kien-thuc-hoc-mcsa/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)