7 thg 3, 2008

Các công cụ ứng dụng “chẩn bệnh” của Windows

System Information

Tool đầu tiên mà bạn cần biết khi xem xét máy của mình đó là System Information (SI hay MSInfo). Để chạy chương trình, bạn vào Start/All Programs/ Accessories/System Tools chọn SI hoặc ở Start/Run gõ lệnh msinfo32.

SI không chỉ cung cấp chi tiết về phần cứng, phần mềm và cấu hình hệ thống, mà nó còn là nơi để bạn có thể thực thi một số chương trình cần thiết để “chẩn bệnh” thông qua menu Tools. Mục đích chính của SI là thể hiện rõ ràng những thông tin hệ thống của Windows. Nếu có một thành phần (Components) nào của Windows bị hư thì SI sẽ cho bạn biết tại sao hay lỗi bị hư khi nào. Không chỉ như thế, bạn còn có thể xem lại quá khứ của máy bằng cách vào View/View History. Lúc đó các thông tin về những gì đã diễn ra trong hệ thống sẽ được hiện lên cho bạn. Nếu dùng WindowXP, bạn nên khai thác tiện ích Tìm kiếm được kèm theo. Tuy thông tin của SI cung cấp có vẻ hơi xa lạ, nhưng chắc chắn các bạn sẽ không chùn bước đâu nhỉ?

Dr Watson

Đây chính là vị “bác sĩ” mà Microsoft cung cấp cho người dùng để khám bệnh cho lỗi về phần mềm. Để chạy Dr Watson, bạn có thể từ menu Tools của System Information hay từ Start/Run gõ drwtsn32 hay drwtsn. Dr Watson cũng là nơi chứa những lỗi của chương trình, để sau đó bạn có thể xem lại các thông tin hệ thống ngay lúc báo lỗi và nó hư ở những vị trí nào. Nếu chạy một chương trình mà bị báo lỗi, bạn hãy gọi Dr Watson, sau đó chạy lại chương trình kia. Lúc này, lỗi sẽ được cập nhật, ghi vào file log và sẽ được theo dõi xem lỗi đó bắt nguồn từ đâu. Thực chất đây là chương trình “bẫy lỗi” giống như bên lập trình. Bạn vào registry chọn HKEY-LOCAL-MACHINE\ Software\Microsoft\WindowsNT\ CurrentVersion\AeDebug, và bạn sẽ thấy field debugger. Đó chính là chương trình mà Dr Watson dùng để bẫy lỗi đó. Nếu máy có cài Visual.NET thì sẽ là VS7 Just-In-Time Debugger.

Task Manager

Đây là một công cụ mà có lẽ các bạn thường xuyên sử dụng nhất. Chỉ với tổ hợp phím Ctrl+Alt+Del rồi chọn Task Manager(hay Ctrl+Shift+Esc) thì Task Manager đã ở trước mắt bạn. Tuy nhiên, tiện ích này không chỉ để “End Task” (kết thúc nhiệm vụ) một chương trình mà nó còn nhiều ích lợi khi theo dõi hoạt động của máy.

Thẻ Applications cho bạn xem các ứng dụng “có cửa sổ” nào đang chạy. Ứng dụng “có cửa sổ” nghĩa là các chương trình có cửa sổ giao diện. Vì thế, bạn sẽ không tìm thấy chương trình quét virus, Unikey hay LacVietMTD vì các ứng dụng đó chạy trên khay hệ thống. Khi một chương trình bị “Not Responding” không có nghĩa là nó chết, mà chỉ là nó không trả lời Windows trong một khoảng thời gian mà thôi, rồi sau đó lại hoạt động bình thường. Do đó, khi bị “Not Responding”, bạn nên khoan hãy “End Task” vội, để xem nó có chạy lại không, nếu quá hấp tấp thì có thể dẫn đến mất dữ liệu của bạn đấy. Để xem toàn bộ các chương trình nào đang chạy trên Windows, bạn chọn sang thẻ Processes. Ở trong thẻ này, bạn chú ý đến các thông số như MemUsage, CPU. Ngoài ra, bạn có thể xem thêm các thông số khác bằng cách chọn View/Select Columns... rồi chọn các thông số mà bạn thích. Tuy nhiên, bạn nên chú ý kỹ trước khi “End Process”, bởi bạn có thể kết thúc nhầm một chương trình hệ thống của Win dẫn đến máy bị treo.

[Đầu trang]

Thẻ Performance cũng khá quan trọng. Bạn sẽ theo dõi được CPU chạy bao nhiêu %. Chỉ số càng cao thì CPU xử lý càng nhiều. Thông thường CPU Usage lên đến 100% do có chương trình nào đó Not Responding, bạn chỉ cần “End Task” là máy tính lại hoạt động bình thường.

MSConfig

Công cụ mạnh mẽ để kiểm tra và sửa lỗi trong Windows. Bạn vào Start/ Run rồi gõ msconfig. Một hộp thoại sẽ hiện lên cho bạn tương tác với System.ini, Win.ini, Boot.ini, các dịch vụ thực thi, và những chương trình nạp vào lúc khởi động. Tiện ích này cho phép bạn lựa chọn kiểu khởi động để tìm ra nguyên nhân gây lỗi, có thể là do một chương trình lạ (virus) được thực thi, hay một dịch vụ nào đó đã bị hư... Nếu như vậy, bạn có thể chọn kiểu khởi động là Diagnostic hay Selective. Ngoài ra, chương trình cho phép bạn tương tác với các tập tin hệ thống của Windows, lựa chọn những thành phần (components), chương trình nào không thực thi hay không cần nạp lúc khởi động. Phải nói MSConfig là một công cụ rất được các nhà quản trị, bảo trì, sửa chữa ưa sử dụng do tính mạnh mẽ nhưng có một giao diện hết sức dễ sử dụng.

DirectX Diagnostic Tool

Công cụ chẩn đoán về bộ driver multimedia DirectX cung cấp thông tin về các API của các component hay driver trên hệ thống của bạn. Chương trình kiểm tra phiên bản của DirectX đang chạy, thông tin về hình ảnh, âm thanh... Bạn nên dùng công cụ này trong trường hợp:

- Khi muốn xem thông tin về phiên bản của DirectX mà máy mình đang chạy. Thông thường các game thủ có vẻ quan tâm về vấn đề này hơn.

- Khi phần cứng không có khả năng hỗ trợ multimedia: Bạn chọn tab Display, xem trong phần Features, sẽ có phần tăng tốc cho 3D, DirectDraw và AGP Texture. Nếu ba thứ đó ghi là “Not Available” thì có nghĩa là bạn nên nâng cấp phần cứng lên thì DirectX hiện tại mới có giá trị.

- Khi các thiết bị không kết nối: Giả dụ Joystick của bạn không thèm nhúc nhích, vậy hãy xem Joystick của bạn đã có trong thẻ Input chưa. Nếu chưa thì hãy thêm nó vào bằng Add New Hardware trong Control Panel. Còn cách để chạy công cụ này, bạn có thể vào Tools của System Information hay vào Start/Run gõ dxdiag, hoặc kích hoạt file dxdiag.exe trong thư mục WINDOWS\SYSTEM32.

System Restore

Khi cài một chương trình, hay làm một tác vụ gì đó ảnh hưởng đến hệ thống, bạn cũng ước gì mình có khả năng phục hồi lại nếu có sai sót. Microsoft đã giới thiệu System Restore này từ WinMe, đến Win 2000 thì không hiểu sao không có và đến WindowsXP thì lại có lại và mạnh mẽ hơn. Ở WindowXP, bạn có được khả năng cho quyền System Restore chạy trên ổ cứng nào. Còn tất cả những nguyên lý theo dõi và phục hồi đã được kiểm tra và hoàn thiện từ WinMe nên đến WindowXP chạy rất ổn định. System Restore chỉ lấy lại những tập tin hệ thống, không hề có tập tin của người dùng. Nên nếu bạn lỡ xóa mất dữ liệu thì đành cầu viện một chương trình của hãng thứ ba rồi. Nói thế thôi, nếu máy có lỡ bị “cà giựt” sau khi cài một chương trình gì đó thì hãy dùng System Restore.

Để kích hoạt System Restore trên một ổ đĩa nào, bạn vào Control Panel/ System rồi chọn thẻ System Restore.

Ứng với từng ổ đĩa, bạn nhấn nút Settings, rồi chọn có kích hoạt hay không kích hoạt System Restore cho ổ đĩa tương ứng. Mặc định thì ổ đĩa hệ thống sẽ phải kích hoạt System Restore. Bạn điều chỉnh thanh kéo để chỉ định hệ thống dùng bao nhiêu không gian đĩa cứng cho việc lưu trữ thông tin.

[Đầu trang]

Cách sử dụng:

- Bước 1: Chọn Start/All Programs /Accessories/System Tools rồi chọn System Restoration. Chọn “Create a restore point” rồi nhấn Next.

- Bước 2: Đặt tên cho điểm phục hồi, rồi nhấn Create. Tuy nhiên, ta không cần tạo điểm phục hồi, nên bạn hãy chọn Back (nếu lỡ nhấn Create thì chọn Home).

- Bước 3: Bây giờ chúng ta chọn “Restore my computer to an ealier time”. Một cuốn lịch sẽ hiện lên, những ô nào tô đậm là bạn có thể chọn để quay trở về thời điểm đó. Hãy chọn đại một ngày và nhấn Next. Sau đó chỉ việc nhấn nút next tiếp. Máy tính sẽ tự khởi động lại và thế là bạn đã trở về thời kỳ máy tính chạy ổn định rồi đó.

Ipconfig/Ping

Nếu bạn đang làm một mạng cục bộ trong nhà, có lẽ không nên bỏ qua những tiện ích này của Windows. Bạn gõ lệnh ipconfig trong dấu nháy Command Prompt, sẽ hiện ra các thông tin về card mạng, địa chỉ TCP/ IP, DHCP, DNS... mà máy bạn đang sử dụng. Nếu địa chỉ IP bắt đầu là 169.254 thì có thể là DHCP của bạn có vấn đề, hãy thử chọn một địa chỉ mới bằng cách gõ ipconfig /renew (chú ý có cách một khoảng trống giữa hai cụm chữ ipconfig và /renew) rồi nhấn Enter.

Chẳng một nhà quản trị mạng nào lại không biết sử dụng lệnh Ping. Đó là bước kiểm tra đầu tiên. Nếu bạn không thể dùng máy mình kết nối vào được một máy nào đó, hãy thử ping địa chỉ của máy đó, hoặc là tên máy; nếu bạn nghi ngờ phòng Internet của bạn bị “chết” (die), hãy ping thử www.yahoo.com hay www.microsoft.com xem có kết quả thế nào. Nếu xuất hiện “Request Time out” thì có lẽ bạn nên kiểm tra lại các thiết bị, dây cáp có kết nối đúng chưa. Lệnh ping cũng có một số thông số như ping -t để ping liên tục một máy nào đó, dùng ping -a để biết tên máy của địa chỉ IP mà bạn ping.

Hyper Terminal

Để coi thông tin về modem, bạn có thể vào Device Manager. Nhưng trong mục Modem thì lại chẳng cho bạn bao nhiêu thông tin về Modem của bạn. May thay, Windows cung cấp cho bạn một công cụ để bạn xem cấu hình của các thiết bị nối thông qua các cổng COM của máy tính, đó là Hyper Terminal.

- Bước 1: Vào Start/All Programs/ Accessories/Communications và chọn Hyper Terminal. Rồi gõ vào ô Name chữ “Test Modem” và nhấn OK

- Bước 2: Tiếp theo bạn chọn cổng COM nào đang nối với Modem của mình trong phần Connect Using. Đối với modem gắn trong thì thường là cổng có số cao nhất. Nhấn OK.

- Bước 3: Chọn 57600 cho ô Bits per second xong rồi nhấn OK. Bạn gõ lệnh ATi3 để xem version của Modem. Ngoài ra còn có ATi4, ATi5, ATi6, ATi7, ATi8 bạn thử tìm hiểu xem. Hyper Terminal còn được dùng để bạn cấu hình các thiết bị mạng khác bằng console hay thông qua telnet.

http://www.echip.com.vn/echiproot/html/2003/so37/dn_congcu.html

Không có nhận xét nào: